TRƯỜNG …………………
KHOA………………………
[\[\
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài: Xây dựng chương trình
Marketing trực tiếp cho các
khách hàng tổ chức tại khách
sạn Công Đoàn Hội An HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
1 PHẦN I: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VỚI HOẠT ĐỘNG
kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế và cá nhân. Việc thanh toán trực tiếp lẫn nhau gặp
nhiều khó khăn cho cả hai bên, nhất là khi đối tượng thanh toán lớn, địa điểm hai bên
cách xa nhau, dẫn đến chi phí cho chi trả cao, thời gian dài. Ngân hàng đứng ra làm
trung gian thanh toán cho các tổ chức kinh tế, cá nhân về tiền hàng, dịch vụ phát sinh
trong quan hệ giao dịch mua bán hàng hoá, giúp việc luân chuyển vốn cho các doanh
nghiệp được nhịp nhàng, nhanh chóng thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, vòng
vốn quay nhanh, tạo điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Ngoài ra ngân hàng
còn giúp doanh nghiệp sinh lời từ khoản tiền gởi tại ngân hàng, hoặc bảo quản tài sản
phi tiền tệ cho các cá nhân, tổ chức.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
2 3. Các hoạt động chủ yếu của Ngân hàng Thương mại.
a. Nghiệp vụ huy động nguồn vốn.
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản
thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, Ngân hàng Thương
mại được sử dụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy
động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với
nền kinh tế. Kết quả của nghiệp vụ nguồn vốn là tạo ra nguồn “tài nguyên” để đáp ứng
các nhu cầu của nền kinh tế. Trong đó, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài
nguyên to lớn nhất của Ngân hàng Thương mại.
b. Nghiệp vụ cho vay.
Nghiệp vụ cho vay là hoạt động chính yếu và quan trọng nhất của bất kỳ một
Ngân hàng Thương mại nào. Nó quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của
Ngân hàng Thương mại.
Ngân hàng chuyển hoá từ vốn tiền gửi thành vốn tín dụng để cho vay đối với
các khách hàng của mình, nhằm bổ sung cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh trong
nền kinh tế. Nhờ cho vay mà ngân hàng tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu cho mình, để
chức tín dụng khác với một bên là các tổ chức tín dụng, cá nhân trong nền kinh tế
Quốc dân.
2. Bản chất của Tín dụng Ngân hàng.
Bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có các
đặc trưng sau:
. Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là
cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Trong những năm 1960
trở về trước hoạt động tín dụng của ngân hàng chỉ có vay bằng tiền. Xuất phát từ tính
đặc thù đó mà nhiều lúc tín dụng và cho vay được coi là đồng nghĩa với nhau. Từ
những năm 1970 trở lại đây, dịch vụ cho thuê vận hành và cho thuê tài chính đã được
các ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác cung cấp cho khách hàng. Đây là một
sản phẩm kinh doanh của ngân hàng, một hình thức tín dụng bằng tài sản thực (nhà ở,
văn phòng làm việc, máy móc thiết bị).
. Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài
sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn.
Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế một số nhân viên
tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá mức độ tín nhiệm về
khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan điểm này đã làm ảnh hưởng
đến chất lượng tín dụng.
. Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách
khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc. Để thực hiện được nguyên
tắc này phải xác định lãi suất danh nghĩa lớn hơn tỷ lệ lạm phát, hay nói cách khác
phải xác định lãi suất thực dương (Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa - Tỷ lệ lạm
phát). Tuy nhiên, vì lãi suất chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau, nên trong
một số trường hợp cụ thể lãi suất danh nghĩa có thể thấp hơn lạm phát, ngoại lệ này
chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn.
. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn
trả vô điều kiện. Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng như
hợp đồng tín dụng, khế ước thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết
hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
- Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản: là loại tín dụng mà để có được khoản tín
dụng này, người đi vay vay bắt buộc phải có một tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo
lãnh của bên thứ ba.
- Tín dụng không có đảm bảo bằng tài sản: là hình thức tín dụng mà ngân hàng
cho vay chỉ căn cứ vào uy tín của bản thân người đi vay mà không cần bất cứ tài sản
bảo đảm nào.
d. Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
- Tín dụng trực tiếp: đây là loại tín dụng mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho
người vay, đồng thời người vay cũng là người trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân
hàng.
- Tín dụng gián tiếp: thông qua các loại giấy tờ như khế ước hoặc chứng từ nợ
(thương phiếu), ngân hàng cấp tín dụng cho người phát hành (là người thanh toán nợ)
bằng cách mua lại (chiết khấu) các giấy tờ này từ người sở hữu chúng (người nhận
vốn từ ngân hàng).
e. Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng:
- Cho vay bằng tiền: đây là hình thức tín dụng phổ biến, vốn tín dụng được cấp
dưới hình thái giá trị tiền tệ.
- Cho vay bằng tài sản: vốn tín dụng được cấp bằng tài sản dưới hình thức tài
trợ thuê mua của ngân hàng hoặc các công ty thuê mua (công ty con của ngân hàng).
4. Các nguyên tắc của Tín dụng Ngân hàng.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
5 Để đảm bảo cho hoạt động tín dụng của mình đạt hiệu quả cao nhất và đem lại
lợi ích cho các bên thì đòi hỏi ngân hàng và các khách hàng của ngân hàng phải tuân
thủ những nguyên tắc sau:
a. Nguyên tắc vay vốn phải có mục đích, có kế hoạch, bảo đảm sử dụng đúng
với mục đích xin vay và có hiệu quả kinh tế.
quyết được lượng khách hàng rất lớn đến để vay, trả nợ hàng tháng.
b. Là hình thức tín dụng chứa đựng nhiều rủi ro nhưng đem lại thu nhập lớn
cho ngân hàng. Như ta đã biết, vay tiêu dùng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng trả nợ
của từng cá nhân, nó không phải là rủi ro do chủ quan từ phía người đi vay mà còn
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
6chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của các yếu tố khách quan như rủi ro về mất
việc làm, bệnh tật, tai nạn, chết, các sự cố xảy ra trong gia đình nhưng chính là vì số
lượng khách hàng rất là nhiều nên những rủi ro này được phân tán, không tập trung
vào một đầu mối nên giảm được những tổn thất lớn cho ngân hàng. Bên cạnh đó nó lại
đem về cho ngân hàng một nguồn thu đáng kể từ lợi nhuận cho vay. Vì lãi suất do các
ngân hàng sử dụng trong vay tiêu dùng ở mức lãi suất cố dịnh, trong đó đã tính đến
việc loại trừ các yếu tố về rủi ro nên lãi suất vay tiêu dùng thường có xu hướng cao
hơn lãi suất của các loại hình cho vay khác. Vì vậy đã giảm nhẹ được thiệt hại cho
ngân hàng trong những trường hợp xảy ra rủi ro dẫn đến các tổn thất tín dụng, còn
trong trường hợp không xảy ra rủi ro thì ngân hàng lại thu được một món lợi từ sự
chênh lệch này.
c. Đặc điểm tiếp theo là nhu cầu vay tiêu dùng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế,
đây là món vay rât nhạy cảm với tình trạng “sức khoẻ” của nền kinh tế. Khi nền kinh
tế mở rộng, tăng trưởng tốt và ổn định thì nhu cầu vay tiêu dùng tăng lên, vì mọi
người cảm thấy lạc quan về tương lai nên sẵn sàng chi tiêu cho cuộc sống của mình.
Và ngược lại, khi nền kinh tế lâm vào suy thoái, tâm lý chung của các cá nhân là
không tin tưởng về cuộc sống tương lai, lo sợ tình trạng thất nghiệp xảy ra, nên họ sẽ
tiết kiệm trong việc chi tiêu của mình và hạn chế tối đa trong việc vay mượn ngân
hàng.
d. Đặc điểm quan trọng cuối cùng, người vay tiêu dùng hầu như không quan
tâm đến lãi suất vay vốn mà họ chỉ quan tâm đến số tiền phải trả trong mỗi kỳ, mặc dù
của hai bên. Thông thường đây là những khoản vay có qui mô vốn vsy nhỏ đi kèm với
thời hạn ngắn và sử dụng cho những mục đích như chi trả cho những chuyến đi nghỉ,
tiền viện phí, mua sắm những dụng cụ trong gia đình, các chi phí sữa chữa
d. Căn cứ vào góc độ nghiệp vụ:
- Tín dụng tiêu dùng trực tiếp: là việc ngân hàng thực hiện phát vay trực tiếp
cho người đi vay một số tiền mặt nhất định nhằm mục đích tiêu dùng. Và định kỳ
người vay phải trả một số tiền theo quy định cho ngân hàng.
- Tín dụng tiêu dùng gián tiếp: được thực hiện bằng cách các nhà sản xuất hay
nhà cung ứng bán hàng hoá cho khách hàng và ngân hàng sẽ thanh toán thay người
mua hàng. Đây là hình thức phối hợp giữa ngân hàng và các tổ chức bán lẻ hàng hoá.
Sau đó, định kỳ ngân hàng sẽ thực hiện việc thu nợ từ người vay.
4. Sự cần thiết của Tín dụng Tiêu dùng.
Việc cho vay tiêu dùng của ngân hàng có tác động, ảnh hưởng rất lớn đối với
bản thân ngân hàng, cũng như đối với người tiêu dùng và nền kinh tế.
- Đối với ngân hàng: cho vay tiêu dùng góp phần đa dạng hoá hoạt động tín
dụng, phân tán rủi ro và tăng thêm thu nhập. Ngoài ra, thông qua cho vay tiêu dùng
các ngân hàng có điều kiện thiết lập nhiều mối quan hệ mật thiết với các cá nhân cũng
như các doanh nghiệp, tạo thuận lợi mở rộng thị phần phát triển dịch vụ ngân hàng và
khả năng huy động vốn, tiền gửi từ dân cư.
- Đối với người tiêu dùng: Nhờ vay tiêu dùng mà họ được hưởng các tiện ích
trước khi tích luỹ đủ tiền, nhờ đó góp phần nâng cao mức sống, tạo niềm hưng phấn,
tích cực lao động vì tương lai tốt đẹp và đặc biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho
những trường hợp khi cá nhân có các chi tiêu có tính cấp bách, như nhu cầu chi tiêu
cho giáo dục và y tế.
- Đối với nền kinh tế: Nếu cho vay tiêu dùng được dùng để tài trợ cho các chi
tiêu hàng hoá và dịch vụ trong nước thì nó có tác dụng rất tốt cho việc kích cầu, tạo
điều kiện thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kích thích sản xuất phát triển. Song, nếu các
khoản cho vay tiêu dùng không được dùng như vậy thì chẳng những không kích được
cầu mà nhiều khi làm giảm khả năng tiết kiệm trong nước.
PHẦN II: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG
TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU - ĐÀ NẴNG NĂM 2002.
I. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG
Á CHÂU - ĐÀ NẴNG.
1. Giới thiệu về ngân hàng Á Châu - Việt Nam.
Pháp lệnh ngân hàng ra đời năm1993 đã đưa hoạt động ngân hàng vào giai
đoạn ổn định và phát triển. Hệ thống ngân hàng thương mại được hình thành và hoạt
động rất có hiệu qua, góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn cho nền kinh tế đang
tăng trưởng và phát triển.
Trong thời gian này ngân hàng Á Châu ra đời theo quyết định số 6032/NH - CP
cấp ngày 14/4/1993 của NHNN. Từ đó ngân hàng được khai trương và đi vào hoạt
động vào ngày 04/6/1993, có tên tiếng Anh là Asia Commercial bank (ACB) có trụ sở
chính tại 442 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3,TPHCM và được gọi là Hội sở. Thời
A. GI
Ớ
I THI
Ệ
U KHÁI QUÁT V
Ề
NGÂN HÀNG Á CHÂU
-
Đ
À N
ngân hàng Á Châu - Đà Nẵng đã được thành lập theo quyết định số 212/QĐ - NH15
ký ngày 13/08/1996 và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 08/01/1997. Trụ sở của
chi nhánh ngân hàng Á Châu Đà Nẵng đặt tại 16 Thái Phiên, Đà Nẵng. Từ khi thành
lập đến nay Chi nhánh không ngừng thay đổi phương thức hoạt động, cung ứng dịch
vụ, trang bị cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất.
II. CHỨC NĂNG VÀ NHIỆM VỤ HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH.
- Huy động vốn ngắn hạn, trung và dài hạn dưới hình thức tiền gửi các loại của
pháp nhân, cá nhân trong nước và nước ngoài bằng tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ
theo qui định của ngân hàng Nhà nước và ngân hàng Á Châu.
- Cho vay ngắn trung và dài hạn bằng tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ đối với
các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn theo sự uỷ nhiệm của Tổng giám đốc ngân
hàng Á Châu.
- Được phép vay, cho vay các Định chế tài chính trong nước, thực hiện và quản
lý các nghiệp vụ bảo lãnh, thanh toán quốc tế, nghiệp vụ mua bán, chiết khấu các
chứng từ có giá khi được Tổng giám đốc uỷ nhiệm, chấp thuận và theo đúng qui định
của ngân hàng nhà nước.
- Thực hiện quản lý mua bán ngoại tệ, chi trả kiều hối, chuyển tiền nhanh, thẻ
thanh toán. Khi có nhu cầu và được Tổng giám đốc uỷ nhiệm, ngân hàng thực hiện
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
10việc mua bán vàng. Đồng thời, tổ chức thực hiện công tác hạch toán kế toán theo đúng
chế độ của nhà nước, NHNN và của ngân hàng Á Châu.
- Thực hiện chế độ bảo mật nghiệp vụ ngân hàng như về số liệu tồn quỹ, thanh
khoản ngân hàng, tài khoản tiền gửi khách hàng,
III. CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CHI NHÁNH.
1. Ban Giám đốc:
Ban Giám đốc gồm có một Giám đốc và một phó Giám đốc. Giám đốc chi
phòng, một Phó phòng và các nhân viên tổ chức, văn thư, hành chính, bảo vệ, lái
xe,tạp vụ v.v Nhiệm vụ của Phòng:
BAN TÍN D
Ụ
NG
PHÒNG HC
-
TH
P.K
Ế
TOÁN
-
VT
P.GD
Ị
CH
-
NQU
Ỹ
P.TD & TTQT
T
Ố
B
Ả
O V
giao dịch và dịch vụ cho khách hàng.
- Phòng tín dụng và thanh toán quốc tế: gồm một Trưởng phòng, hai Phó
phòng và các nhân viên tín dụng và thanh toán quốc tế. Nhiệm vụ của Phòng là thực
hiện các nghiệp vụ cho vay, thẩm định và tổ chức theo dõi các khoản cho vay, bên
cạnh đó còn thực hiện các nghiệp vụ thanh toán. Trong trường hợp cần thiết còn có
thể đề xuất những phương án để giải quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động tín
dụng và bão lãnh của chi nhánh.
IV. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA CHI NHÁNH TRONG NĂM 2002.
Chi nhánh nằm trên địa bàn rất thuận lợi nhưng cũng có nhiều thách thức, đòi
hỏi không ngừng thay đổi phương thức hoạt động để tăng khả năng cạnh tranh, và mới
có thể đứng vững trên thương trường hiện nay.
Trong thời gian qua, tình hình hoạt động của Chi nhánh đã đạt được một số kết
quả sau:
1. Hoạt động huy động vốn.
Bảng 1.1: Tình hình huy động vốn của ngân hàng
ĐVT: Triệu VNĐ
Chênh lệch
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002
Số tiền TĐ(%)
Tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi thanh toán
TG KH nước ngoài
Tiền gửi các TCTD
373528,3
539674,4
277,4
11094,9
337370,8
888716,3
497,1
Chênh lệch
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002
Số tiền TĐ(%)
1. Doanh số cho vay
2. Doanh số thu nợ
3. Dư nợ bình quân
4. Nợ quá hạn bquân
5. Tỷ lệ NQH bquân (%)
119386
109117
37524
184
0,49
128503
136162
47346
71
0,15
9117
27045
10219
-113
7,64
24,79
27,23
-61,41
-0,34
Trong năm 2002 doanh số cho vay của ngân hàng đạt 128503 triệu đồng tăng
740,8
1089
147,5
156,6
64,1
774,2
2169,6
182,5
264,8
135,6
33,4
1080,6
35
108,2
71,5
4,51
99,23
23,73
69,09
111,54
TỔNG 2198 3526,7 1328,7 60,45
Hoạt động dịch vụ tại Chi nhánh năm 2002 đạt 3526,7 triệu đồng, tăng 1328,7
triệu đồng (tức 60,45%) so với năm 2001. Trong đó chủ yếu thu về dịch vụ Western
Union, cụ thể năm 2002 đạt 2169,6 triệu đồng tăng 1080,6 triệu đồng (99,23%) so với
năm 2001. Do tháng 8/2000 thành lập trung tâm giao dịch ACB - Western Union ở
khu vực miền Trung tại Chi nhánh từ Quảng Bình vào đến Phú Yên, do vậy nguồn
thu từ hoạt động tăng lên đáng kể.
Mặc khác, mảng dịch vụ là hoạt động chủ đạo mà ngân hàng chú trọng, nên thu
từ các hoạt động dịch vụ như dịch vụ chuyển tiền, kiều hối, thẻ thanh toán đều tăng
kết quả của sự nổ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ công nhân viên ngân hàng Á Châu
Đà Nẵng.
I. TÌNH HÌNH CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG.
1. Qui trình thực hiện nghiệp vụ Cho vay tiêu dùng.
a. Đối tượng, mục đích vay.
- Đối tượng vay tiêu dùng: là các cán bộ công nhân viên (CBCNV) có việc
làm ổn định (trên một năm) tại các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức đoàn
thể hoặc các cá nhân sản xuất kinh doanh (có giấy phép sản xuất kinh doanh).
- Mục đích vay: sử dụng vốn vay để tài trợ cho những nhu cầu của cuộc sống
như mua sắm các đồ dùng sinh hoạt; phương tiện thông tin; xe đạp, xe máy; sửa chữa,
tu bổ nhà ở; mua cổ phần từ các doanh nghiệp cổ phần hoá nơi người lao động đang
làm việc
b. Điều kiện vay.
Khách hàng muốn vay phải có:
- Hộ khẩu thường trú trên cùng địa bàn hoạt động của ngân hàng (nơi cho vay)
- Mục đích vay vốn được sử dụng cho các nhu cầu tiêu dùng hợp pháp.
- Nguồn thu nhập ổn định, đảm bảo khả năng trả góp hàng tháng.
- Có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc được người thứ ba có tài sản thế chấp, cầm
cố bảo lãnh (đối với khách hàng vay là cá nhân).
- Thời gian công tác tính đến ngày vay trên 12 tháng và có bảo lãnh của đơn vị
(đối với khách hàng vay là CBCNV đang công tác tại các đơn vị như: DNNN, công ty
cổ phần, trường học, bệnh viện, các cơ quan đoàn thể ).
c. Mức vốn vay, Thời hạn vay, Lãi suất vay vốn:
- Mức vốn vay:
+ Trường hợp vay có tài sản thế chấp: mức vay phụ thuộc vào nhu cầu
của khách hàng, nhưng không vượt quá 18% giá trị tài sản thế chấp.
định nhân viên Tín dụng sẽ thông báo cho khách hàng biết kết quả xét duyệt cho vay.
- Bước 3: Ký kết Hợp đồng Tín dụng
Sau khi thống nhất các thoả thuận được nêu trong Hợp đồng Tín dụng, khách
hàng và nhân viên tín dụng đại diện cho ngân hàng sẽ tiến hành ký kết Hợp đồng Tín
dụng. Trong Hợp đồng có ghi rõ mức vốn vay, lãi suất và thời hạn vay. Nếu khách
hàng trả nợ không đúng thời hạn trong một khoảng thời gian theo qui định của ngân
hàng, thì khách hàng sẽ chịu lãi suất nợ quá hạn. Số tiền vay sẽ được giải ngân tại
Quầy Giao dịch.
- Bước 4: Trả nợ vay (vốn vay + lãi)
Việc trả nợ vay được ghi rõ trong Hợp đồng Tín dụng. Vốn và lãi vay được trả
góp hàng tháng tại Phòng Giao dịch của ACB.
- Bước 5: Thanh lý Hợp đồng
Ngay sau khi khách hàng thanh toán đầy đủ vốn vay và lãi vay, ACB sẽ lập thủ
tục thanh lý Hợp đồng tín dụng, lập giấy giải chấp và trả lại toàn bộ chứng từ sở hữu
tài sản cầm cố/ thế chấp cho khách hàng.
Trên đây chỉ là những qui định chung có tính chất cơ bản, ngoài ra tuỳ thuộc
vào từng loại hình của nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, những thay đổi trong chính sách
tín dụng của ngân hàng Nhà Nước hoặc có sự thay đổi trong chính sách tín dụng của
ACB mà những qui định này sẽ khác nhau.
2. Tình hình Cho vay tiêu dùng trong hoạt động cho vay nói chung tại
ngân hàng Á Châu Đà Nẵng.
Hoạt động của mảng tín dụng càng tốt sẽ đem lại cho ngân hàng lợi nhuận
càng lớn, đồng thời qui mô và chất lượng hoạt động tín dụng cũng thể hiện được sức
mạnh của ngân hàng đó. Trong năm qua, qui mô tín dụng của ngân hàng Á Châu Đà
Nẵng có sự tăng trưởng đáng khích lệ.
Bảng 2: Tình hình cho vay tiêu dùng của ngân hàng
ĐVT: Triệu VNĐ
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
3977
24,79
49,59
3. Dư nợ bình quân
Trong đó: CVTD
37524
6725
100,00
17,92
47346
9063
100,00
19,14
10219
2338
27,23
37,77
4. NQH bình quân
Trong đó: CVTD
184
93
100,00
50,54
71
34
100,00
47,89
- 113
- 59
-61,41
+ Trong năm 2001 ngân hàng Á Châu Đà Nẵng đã áp dụng cách tính lãi Add-
on cho các khách hàng trả góp. Giả sử khách hàng vay một khoản tiền là V, thời hạn
vay là n, lãi suất là i và khi trả nợ cho ngân hàng khách hàng phải trả một phần vốn và
lãi do ngân hàng qui định theo công thức sau: V
góp
= V × (1 + n × i)/ n . Như vậy lãi
trả hàng tháng tính trên dư nợ ban đầu, mặc dầu khách hàng đã trả bớt nợ dần qua các
tháng. Trong khi tại các ngân hàng khác trên cùng địa bàn thì lãi suất cho vay tiêu
dùng được tính trên dư nợ thực tế với lãi suất cạnh tranh, nghĩa là vốn trả đến đâu thì
lãi cũng giảm đến đó. Nắm được nhược điểm này các ngân hàng trên địa bàn liên tục
giảm lãi suất làm cho việc cho vay tiêu dùng tại ngân hàng gặp không ít khó khăn.
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
17+ Ngân hàng ACB Đà Nẵng chịu sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng
thương mại khác trên địa bàn trong vấn đề lãi suất, do ngân hàng phải tuân theo qui
chế của Hội sở nên không chủ động trong hoạt động của mình. Trong khi đó, các
ngân hàng thương mại khác trên cùng địa bàn được phép thay đổi lãi suất trong khung
lãi suất qui định của ngân hàng Nhà Nước. Và chính nguyên nhân này cũng phần nào
giải thích được hai nguyên nhân trên.
Tương ứng với sự gia tăng của doanh số cho vay , doanh số thu nợ cũng tăng
lên. Năm 2002 doanh số thu nợ đạt 136162 triệu đồng tăng 27045triệu đồng so với
năm 2001, trong đó doanh số thu nợ cho vay tiêu dùng tăng từ 8020 triệu đồng năm
2001 lên 11997 triệu đồng, trong năm 2002 với tốc độ tăng 49,59%, một tỷ lệ tăng
trưởng khá trong việc thu nợ đã nói lên chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng
Á Châu Đà Nẵng đã được nâng cao rõ rệt. Một mặt là nhờ có sự cố gắng đáng kể của
các cán bộ tín dụng ngân hàng trong việc tiếp tục thu nợ từ số dư nợ năm trước chuyển
sang, và thu nợ các món vay mới được thực hiện phát vay trong năm. Mặt khác, nhờ
18chiều hướng giảm rõ rệt. Năm 2001 nợ quá hạn bình quân đạt 93 triệu đồng, sang năm
2002 giảm xuống còn 34 triệu đồng. Tuy trong năm 2002 nợ quá hạn giảm mạnh
nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao, trên 47% trong tổng nợ quá hạn của ngân hàng. Tỷ
trọng này không gây rủi ro cho ngân hàng trong việc không thu hồi được nợ, nhưng
cũng làm cho vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng chậm hơn. Nợ quá hạn này tập
trung phần lớn vào các khách hàng là CBCNV đang công tác tại các trường học.
Nguyên nhân một phần là do khách hàng chây ì trong việc trả nợ, một phần là do nhu
cầu chi tiêu của khách hàng phát sinh ngoài dự tính khi ký hợp đồng vay với ngân
hàng. Một nguyên nhân khác cũng dẫn đến nợ quá hạn, là do việc giải toả làm đường
trên địa bàn thành phố đã làm gián đoạn kinh doanh sản xuất của một số khách hàng
có vay vốn của ngân hàng, trực tiếp làm giảm thu nhập của họ, vì vậy họ phải xin gia
hạn nợ với ngân hàng.
Tóm lại, qua việc phân tích trên đã cho thấy hoạt động cho vay tiêu dùng của
ngân hàng tuy gặp một số khó khăn nhưng cũng đã đạt được những kết quả khả quan.
Từ đó, ngân hàng cần có biện pháp thích hợp để nâng cao chất lượng cũng như mở
rộng loại hình cho vay này.
II. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN
HÀNG Á CHÂU ĐÀ NẴNG.
1. Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng theo thời hạn vay.
Cho vay tiêu dùng là thể loại vay với hình thức bảo đảm là tiền lương hay thu
nhập hàng tháng của người lao động nên thời hạn vay có ảnh hưởng gián tiếp đến việc
chi trả món nợ vay. Tuỳ thu nhập hàng tháng của người lao động cao hay thấp mà họ
quyết định thời hạn vay dài hay ngắn nhằm đảm bảo được sau khi trích thu nhập để trả
số tiền gốc và lãi mỗi tháng, người lao động vẫn còn lại được một khoản tiền đủ để chi
tiêu cho cuộc sống hàng ngày. Chính vì thế thời hạn vay là vấn đề được cả hai phía:
người đi vay và ngân hàng quan tâm. Đối với tín dụng tiêu dùng, ngân hàng Á Châu
đã qui định thời hạn vay bao gồm cả ngắn hạn và trung hạn. Nhưng trên thực tế đại đa
Từ 25 đến 36 tháng
3623
10102
26,4
73,6
2404
13514
15,1
84,9
-1219
3412
-33,65
33,78
2. Doanh số thu nợ 8020
100 11997
100 3977
49,59
Từ 13 đến 24 tháng
Từ 25 đến 36 tháng
2454
19,5
80,5
1350
7713
14,9
85,1
39
2299
2,97
24,46
4. NQH bình quân 93
100 34
100 -59
-63,44
Từ 13 đến 24 tháng
Từ 25 đến 36 tháng
69
24
73,7
26,3
thời hạn dài hơn để chủ động trong việc chi trả và hơn nữa vẫn đảm bảo được cuộc
sống. Một lý do nữa để giải thích cho sự chuyển hướng này là nếu như những khoản
tín dụng với các mục đích khác nhau như kinh doanh, vay đầu tư thì món vay càng
dài hạn sẽ phải chịu lãi suất càng cao vì nó chứa đựng trong nó rủi ro tiềm ẩn lớn,
nhưng đối với vay tiêu dùng thì món vay của bạn có ngắn hay dài hạn cũng chịu một
mức lãi suất bằng nhau như hiện nay là 0,85% tháng. Chính vì thế mà những người đi
vay mà chủ yếu là những người vay có tài sản thế chấp đã chuyển dần sang vay với
thời hạn dài hơn, để số tiền trả mỗi tháng là phù hợp với họ, trong khi lãi suất lại
không thay đổi và khi có điều kiện họ vẫn có thể trả trước hạn để tắt toán hợp đồng
sớm hơn thời hạn đã thoả thuận. Khách hàng có xu hướng vay với thời hạn dài để
không phải ràng buộc bởi thời gian trả nợ, từ đó họ linh động hơn cho chi tiêu tài
chính của mình. Bên cạnh đó các cán bộ tín dụng của ngân hàng cũng sẽ hướng khách
HOẠT ĐỘNG CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI NGÂN HÀNG Á CHÂU CHI NHÁNH ĐÀ NẴNG 2002
20hàng của mình đến thời hạn vay tối đa là 36 tháng, vừa đảm bảo khả năng trả nợ, hạn
chế tối đa trường hợp không trả được nợ trong hạn từ đó phải gia hạn nợ.
Trong năm qua, doanh số thu nợ cũng tăng nhanh với tốc độ tăng 49,59%
tương đương 3977 triệu đồng; nguyên nhân là do các khoản thu nợ ở thời hạn vay từ
25-36 tháng tăng. Năm 2001 doanh số thu nợ là 5566 triệu đồng chiếm 69,4% trong
tổng doanh số thu nợ tiêu dùng đến cuối năm 2002 con số này tăng cả về quy mô lẫn
tỷ trọng là 8914 triệu đồng chiếm tỷ trọng 74,3% với tốc độ tăng khá cao (60,15%)
doanh số thu nợ thời hạn vay 25-36 tháng góp phần đáng kể vào việc nâng cao tổng
doanh số cho vay. Trong cơ cấu cho vay tiêu dùng tại ngân hàng cho vay từ 25-36
tháng chiếm tỷ trọng cao nhất do đó tỷ trọng thu nợ của nó cũng cao là điều dễ hiểu.
Năm 2002 thu nợ cả hai khoảng thời gian vay từ 12-24 tháng và từ 25-36 tháng đều
tăng thể hiện công tác thu hồi nợ tiến triển theo chiều hướng tốt đẹp. Cho vay tiêu
dùng là hoạt động cho vay tiềm ẩn nhiều rủi ro do người vay thất nghiệp, hoạt động
nghiệm của các cán bộ tín dụng thu nợ từ những năm trước rút ra được để thực hiện
cho việc thu nợ trong các lần sau.
Nguyên nhân gây ra nợ quá hạn là do một phần các cán bộ công nhân viên ỉ lại
vào người bảo lãnh nên muốn kéo dài thời hạn trả nợ, một phần là do trong năm vừa
qua thành phố giải toả làm đường nên gây cản trở cho việc sản xuất kinh doanh của
một số khách hàng có vay tại ngân hàng, làm cho thu của những người này thấp hơn
so với dự tính, do đó họ trả nợ không đúng thời hạn theo quy định đã ký kết trong hợp
đồng.
Như vậy qua việc phân tích cho vay tiêu dùng theo thời hạn vay đã đặt ra cho
ngân hàng định hướng nâng thời hạn vay cho mỗi món vay cho với nhu cầu của người
tiêu dùng, đồng thời đủ khả năng để thu hồi nợ và đưa ra những biện pháp phù hợp để
thu hồi nợ cho đến khi không còn nợ quá hạn trong cho vay tiêu dùng.
2. Phân tích hoạt động cho vay tiêu dùng theo mức vốn vay.
Tuỳ thuộc vào nhu cầu chi tiêu và khả năng tài chính của khách hàng dùng để
tài trợ cho mục đích tiêu dùng đó mà nhu cầu vốn vay của họ ở mức cao hay thấp.
Thông thường xu hướng thay đổi về quy mô khoản vốn vay phản ánh được trạng thái
của nền kinh tế tại thời điểm đó.
Hiện nay ngân hàng chỉ quy định mức cho vay tối đa và tối thiểu của mỗi món
vay tiêu dùng, tuỳ thuộc vào nhu cầu cụ thể của khách hàng mà họ có thể vay ở những
mức khác nhau, nhưng xét về đa số thì có 3 mức vốn vay được nhiều người vay nhất:
mức 5 triệu đồng, đến 15 triệu đồng, đến 30 triệu đồng. Ta thấy có xu hướng chỉ đổi
về nhu cầu vay ở từng mức vốn vay; số khách hàng có nhu cầu ở mức thấp ngày càng
giảm, và ngược lại nhu cầu vay ở mức vốn vay cao lại tăng dần từ năm 2000 sang
2001.
Bảng 4: Tình hình cho vay tiêu dùng theo mức vốn vay
ĐVT: Triệu VNĐ
Năm 2001 Năm 2002 Chênh lệch
Chỉ tiêu
Đến 30 triệu
3264
3088
1668
40,7
38,5
20,8
3507
5915
2579
29,2
49,3
21,5
239
2827
911
7,32
91,55
54,62
3. Dư nợ bình quân
6725 100 9063 100 2338 37,77
Mức 5 triệu
Đến 15 triệu
Đến 30 triệu
1365
2347
3013
20,3
34,9
16
11
20,6
47,1
32,3
-11
-29
-19
-61,11
-64,44
-63,33
Nếu như năm 2001, tổng doanh số cho vay ở mức 5 triệu đồng là 3212 triệu
đồng chiếm 23,4% trong tổng doanh số cho vay thì sang năm 2002 tỷ lệ này giảm
xuống còn 15,3% với doanh số 2436 triệu đồng. Tổng vốn cho vay ở mức 5 triệu đồng
giảm cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối. Ngược lại, ở mức cho vay 15 và 30 triệu
đồng thì lại tăng cả về số tương đối lẫn tuyệt đối, trong đó mức vay 15 triệu đồng tăng
từ 6066 triệu đồng lên 7290 triệu đồng với tốc độ 20,18%, mức vay 30 triệu đồng tăng
từ 4447 triệu đồng với tỷ trọng 32,4% lên 6192 triệu đồng với tỷ trọng 38,9%. Doanh
số cho vay có sự biến động như thế là do khách hàng ngày càng muốn được vay một
số tiền lớn, nhu cầu về những món vay có giá trị nhỏ ngày càng giảm. Kinh tế càng
phát triển, mức sống cũng được cải thiện nâng lên ngày càng cao vì thế mức độ thoả
mãn những đòi hỏi về đời sống từ đó cũng tăng lên. Ví dụ như thay vì họ vay một số
tiền nhỏ để mua sắm những vật dụng thông thường, thì bây giờ họ sẽ vay những món
tiền lớn hơn để sắm những vật dụng đắt tiền hơn, có giá trị cao hơn. Hơn nữa, trong
điều kiện kinh tế ngày càng phát triển đã làm cho người lao động có nhiều hy vọng
hơn vào tiền lương hay thu nhập của mình được trả trong tương lai nên tâm lý của họ
sẵn sàng vay để chi tiêu, trang trải cho cuộc sống hiện tại. Và nếu như hồ sơ thủ tục là
giống nhau, thì họ sẽ không có lý do gì để không muốn vay số tiền tối đa cho phép.
Chính vì vậy doanh số của các mức vay cao có xu hướng tăng. Đối với những nhu cầu
2001, doanh số thu nợ ở mức 15 triệu là 3088 triệu đồng (38,5%) tăng lên 2827triệu
đồng với tốc độ tăng là 91,55% và đạt 5915 triệu đồng vào năm 2002. Còn ở mức 30
triệu cũng tăng nhưng với tốc độ thấp hơn 54,62% tương đương với 911 triệu đồng.
Điều này càng thể hiện sự đóng góp không nhỏ của các cán bộ tín dụng cũng như ban
lãnh đạo sát sao theo dõi, đôn đốc thu nợ theo từng tháng trong năm.
Trong khi đó, kết quả mức dư nợ bình quân được phân theo quy mô món vay
cho thấy trong mối quan hệ này có sự tỷ lệ giữa dư nợ bình quân và quy mô vốn vay.
Trong năm 2001 thì dư nợ bình quân của mức cho vay 5 triệu là 1365 triệu đồng
chiếm 20,3%, còn ở mức 15 triệu là 1368 triệu đồng chiếm 34,9%, ở mức cho vay cao
nhất là 3192 triệu đồng thì cũng chiếm tỷ lệ cao nhất 44,8% . Vì các món vay ở mức 5
triệu thông thường vay với thời hạn ngắn, có thể tất toán hợp đồng trước hạn, trong
thời gian dưới 1 năm nên số dư nợ của nó thường nhỏ, kéo theo dư nợ bình quân thấp
so với tổng dư nợ. Với nhưng hợp đồng vay vốn có số dư nợ lớn, thường là những
món vay có thời hạn dài nên số dư nợ của nó kéo dài từ năm này sang năm khác, trên
2 đến 3 năm, cộng thêm với những món nợ mới được phát vay trong tháng làm dư nợ
từng tháng tăng cao, từ đó dư nợ bình quân cũng tăng lên. Trong năm 2002, tổng dư
nợ tương đối khá về số tuyệt đối là 2338 triệu đồng tương ứng với 37,77%; do trong
năm qua có một số hợp đồng đã được tất toán, nhất là những dư nợ từ những năm
trước chuyển sang của những hợp đồng vay ở mức 5 triệu. Doanh số thu nợ tăng cộng
với thu được nợ quá hạn trong năm 2002 nợ quá hạn bình quân chỉ còn 7 triệu đồng
nhưng trong khi đó lại giảm doanh số cho vay làm dư nợ bình quân của mức vay 5
tiệu tăng không đáng kể (3 triệu đồng) so với năm 2001 chỉ đạt mức dư nợ bình quân
1368 triệu đồng. Dư nợ bình quân của mức vay 15 triệu có sự gia tăng, so với năm
2001 thì tăng về cả số tương đối lẫn tuyệt đối nhưng dư nợ ở mức 2828 triệu đồng
chiếm tỷ trọng 31,2% trong tổng dư nợ bình quân. Do đây là một món vay trung hạn,
vì thế doanh số thu nợ của từng tháng đã làm dư nợ từ năm trước đưa sang giảm đi
nhưng trong tháng lại tiếp tục tăng dư nợ do phát vay cho những hợp đồng mới nên lại
đẩy dư nợ lên, tuy tăng hơn mức cũ nhưng cũng không cao 481 triệu đồng tương ứng
với 20,49%. Đối với mức cho vay 30 triệu thì số dư nợ lại càng lớn hơn, vào những
tháng cuối năm 2002 cho vay đối với mức này tăng lên làm dư nợ bình quân cũng
Chỉ tiêu
Số tiền
TT(%) Số tiền TT(%) Số tiền TĐ(%)
1. Doanh số cho vay 13725 100 15918 100 9117 7,64
Đảm bảo bằng tín chấp
Bảo đảm bằng tài sản
8455
5270
61,6
38,4
9439
6479
59,3
40,7
984
1209
11,64
22,94
2. Doanh số thu nợ 8020 100 11997 100 3977 49,59
Đảm bảo bằng tín chấp
Bảo đảm bằng tài sản
5317
2703
66,3
33,7
7414
4583
61,8
38,2
-35
-24
-64,81
-70,59
Với số liệu trên, ta thấy doanh số cho vay theo cả hai hình thức bảo đảm đều
tăng trong năm 2002, doanh số cho vay đối với hình thức đảm bảo bằng tín chấp tăng
từ 8455 triệu đồng (năm 2001) lên 9439 triệu đồng (năm 2002) với tốc độ tăng là
11,64% tương ứng 984 triệu đồng; chỉ tiêu này đối với hình thức bảo đảm bằng tài sản
thì tăng từ 5270 triệu đồng lên 6479 triệu đồng với tốc độ 22,94% (1209 triệu đồng).
Đạt được kết quả trên là do trong năm ngân hàng đã chú trọng trong việc mở rộng cho
vay, góp phần đáp ứng kịp thời nhu cầu chi tiêu của khách hàng khi họ chưa có khả
năng chi trả một lần. Trong năm 2002 tốc độ tăng doanh số cho vay bảo đảm bằng tài
sản gấp đôi doanh số cho vay bảo đảm bằng tín chấp, vì trong năm này do thành phố