TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….
[\[\
Chuyên đề thực tập
Đề tài: Các giải pháp nâng cao giá trị
thương hiệu đường Biên Hòa
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
LỜI MỞ ĐẦU
Với định hướng xây dựng và phát triển ngành công nghiệp mía đường Việt
Nam trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, và đặc biệt từ sau
“chương trình một triệu tấn đường vào năm 2000 của Chính phủ” đã giúp ngành
mía đường Việt Nam nói chung và Công Ty cổ phần đường Biên Hòa nói riêng
phát triển mạnh mẽ. Từ một nước nhập khẩu đường, sau 5 năm thực hiện chương
trình đã đáp ứng nhu cầu tiêu thụ đường trong nước và tiến đến xuất khẩu.
Công Ty cổ phần đường Biên Hòa là một trong những cánh chim đầu đàn
của ngành công nghiệp mía đường Việt Nam, tự hào với trọng trách là người tiên
phong, Công Ty đã và đang gặt hái được những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên,
trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam đang hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới, là
thành viên của AFTA, rồi WTO với những luật chơi cũng đã đặt ra cho tất cả các
đơn vị trong ngành mía đường Việt Nam áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt, trong
đó Công Ty cổ phần đường Biên Hòa cần tìm ra một hướng đi riêng, để có thể tồn
thương hiệu đường Biên Hòa
Do có nhiều hạn chế trong việc tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu, cũng như
khả năng xử lý thông tin, dữ liệu và điều kiện khác. Nên đề tài không tránh khỏi
những thiếu sót, rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp của quý thầy cô cùng tất cả
các bạn để em có thể hoàn thành đề tài này tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
PHẦN THỨ NHẤT: CƠ SỞ LÝ LUẬN
A - LÝ THUYẾT VỀ THƯƠNG HIỆU VÀ GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU
I. KHÁI NIỆM THƯƠNG HIỆU
Chưa bao giờ thương hiệu lại trở thành một vấn đề thời sự và được các
doanh nghiệp, các cơ quan quản lý nhà nước và các hiệp hội thương mại quan tâm
một cách đặc biệt như hiện nay.
Các doanh nghiệp trên thế giới từ lâu đã nhận biết sâu sắc rằng thương hiệu
là một tài sản hết sức to lớn, là phương tiện ghi nhận, bảo vệ và thể hiện thành quả
của doanh nghiệp. Nó đem lại sự ổn định và phát triển của thị phần, nâng cao lợi
thế cạnh tranh, tạo ra danh tiếng và lợi nhuận.
Mặc dù vậy, với nhiều doanh nghiệp trong nước, việc tạo dựng và quản lý
thương hiệu vẫn còn là một vấn đề xa lạ và mới mẻ. không ít doanh nghiệp chỉ
chăm chút sản xuất sản phẩm mà chưa khai thác thương hiệu một cách hiệu quả.
Một số doanh nghiệp quan niệm đơn giản tạo dựng thương hiệu chỉ thuần tuý là đặt
cho sản phẩm một cái tên, không nhận thức đầy đủ để có một thương hiệu có giá trị
là cả một quá trình bền bỉ,với những nổ lực liên tục và cần được đầu tư bởi những
phương pháp và kỹ năng chuyên biệt.
Chính vì vậy mà định nghĩa thương hiệu và giá trị thương hiệu là một điều
cần thiết cho mỗi doanh nghiệp, mỗi công ty và xa hơn nữa là cho cả một đất nước.
1. Thương hiệu:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về định nghĩa này. Đối với đề tài này, em
chọn một định nghĩa về thương hiệu như sau:
Về cơ bản ,khái niệm tài sản thương hiệu nhấn mạnh đến tầm quan trọng của
vai trò thương hiệu trong các chiến lược marketing. Khái niệm tài sản thương hiệu
rõ ràng đã xây dựng nên nhiều nguyên lý về quản trị thương hiệu. Nguyên do là nó
thích ứng với các tiến bộ về lý thuyết và nghiên cứu hiện tại, nhắm vào những
thách thức mới của quản trị thương hiệu tạo ra bởi môt trường Marketing thay đổi,
tuy nhiên khái niệm tài sản thương hiệu có khả năng đem lại nhiều sáng tỏ mới và
hữu ích.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về giá tri thương hiệu (tài sản thương
hiệu), với đề tài nghiên cứu này em xin đưa ra một khái niệm về giá trị thương hiệu
của David Aker:
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
“Giá trị thương hiệu là một tập hợp nhãn hiệu, những tài sản liên quan đến
nhãn hiệu, đó là tên và biểu tượng (hay ký hiệu), cái đó được thêm vào hay trừ đi từ
việc cung cấp giá trị bởi sản phẩm hoặc dịch vụ từ nhà sản xuất hoặc khách hàng
của nhà sản xuất. Cho những tài sản hoặc tiền nợ nằm dưới giá trị thương hiệu,
chúng phải được liên kết với tên và biểu tượng của thương hiệu. Nếu tên và biểu
tượng cần thay đổi, thì một ít hoặc tất cả các tài sản hoặc tiền nợ có thể bị ảnh
hưởng hoặc thậm chí mất, mặc dù có thể thay đổi bởi một tên hoặc biểu tượng
mới”.
2.1. Những yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu
Giá trị thương hiệu có thể được nhóm vào trong 5 yếu tố cấu thành:
Sự trung thành đối với thương hiệu.
Sự nhận biết tên.
Sự nhận thức về chất lượng của khách hàng.
Sự liên tưởng của khách hàng về thương hiệu.
Những tài sản khác của thương hiệu như: phát minh sáng chế, nhãn
hiệu đăng ký, quan hệ kênh phân phối…
Giá trị thương hiệu được tổng kết trong hình dưới đây
Hình 1.1: Các yếu tố cấu thành giá trị thương hiệu (Aaker)
HI
ỆU
Đem lại giá trị cho công ty
- Nâng cao tính hữu hiệu
và hiệu quả của các chương
trình marketing
- Lòng trung thành với
thương hiệu
- Giá cả/ lợi nhuận
- Mở rộng thương hiệu
- Đòn bẩy thương mại
-
L
ợi thế cạnh
tranh
Đem lại giá trị cho khách
hàng:
- Tăng cường diễn giải/xử
lý thông tin
- Gia tăng sự tin tưởng
vào quyết định mua
- Tăng mức độ hài lòng
khi sử dụng
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
Cung cấp giá trị cho nhà sản xuất:
Ngoài vai trò đem lại giá trị cho khách hàng, giá trị thương hiệu còn tăng
tương tự như khách hàng, các trung gian phân phối sẽ có sự tin tưởng nhiều hơn đối
với những tên thương hiệu đã có những nhận biết là liên tưởng nhất định. Một
thương hiệu mạnh sẽ có lợi thế trong việc dành được việc trưng bày trên quầy hàng
và sự hợp tác của các trung gian trong thực hiện các chương trình marketing.
- Cuối cùng, giá trị thương hiệu còn mang lại lợi thế cạnh tranh và cụ thể là
sẽ tạo ra rào cản để hạn chế sự thâm nhập thị trường của các đối thủ cạnh tranh
mới.
II. NHỮNG YẾU TỐ TẠO NÊN GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU
1. Sự trung thành đối với thương hiệu:
Lòng trung thành được định nghĩa là sự gắn bó của khách hàng với một
thương hiệu trong một chủng loại sản phẩm nào đó qua thời gian.
Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thường phải tốn kém rất
nhiều nguồn lực và chi phí để tìm kiếm được những khách hàng mới so với việc
duy trì khách hàng hiện tại. Trong nhiều thị trường, khi giá ít thay đổi thì sự thay
đổi của khách hàng trong hành vi mua cũng tương đối ít. Tuy nhiên, việc cam kết
của khách hàng hiện tại với thương hiệu là kém bền vững. Một phần của lòng trung
thành đối với thương hiệu đến khách hàng cũ, chính những người này tạo ra sự cam
kết và ảnh hưởng tới những khách hàng mới của công ty đối với thương hiệu; tạo
nên lòng trung thành thương hiệu.
Sự trung thành thương hiệu sẽ giúp công ty duy trì được những khách hàng
cũ trong một thời gian dài. Sự trung thành sẽ được tạo ra bởi 4 thành tố trong tài
sản thương hiệu là: sự nhận biết thương hiệu, chất lượng cảm nhận, thuộc tính
thương hiệu và các yếu tố sở hữu khác. Chất lượng cảm nhận và thuộc tính thương
hiệu cộng thêm sự nổi tiếng của thương hiệu sẽ tạo thêm niềm tin và lý do để khách
hàng mua sản phẩm, cũng như những thành tố này sẽ ảnh hưởng đến sự hài lòng
của khách hàng. Gia tăng sự trung thành về thương hiệu đóng vai trò rất quan trọng
ở thời điểm mua hàng khi mà các đối thủ cạnh tranh luôn sáng tạo và có những sản
phẩm vượt trội. Sự trung thành thương hiệu là một thành tố trong tài sản thương
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
của
ngư
ời mua
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
để thu hút sự thoả mãn của khách hàng. Hơn nữa, lòng trung thành có ý nghĩa đòn
bẩy thương mại lớn hơn, từ những khách hàng mong đợi thương hiệu luôn sẵn có.
Hình 1.3: Lợi ích của sự trung thành thương hiệu
Và những nguyên tắc cơ bản được đưa ra để duy trì lòng trung thành của
khách hàng đối với thương hiệu:
SỰ TRUNG THÀNH
THƯƠNG HIỆU
Giảm chi phí Marketing
Đòn bẩy thương mại
Thu hút khách hàng mới:
- Tạo ra lòng trung thành đối
với thương hiêu
- Cam kết đối với khách hàng
mới
Thời gian làm việc phản lại sự
đe doạ đối với những nguy cơ
cạnh tranh
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
Hình 1.4: Cách thức tạo nên sự trung thành thương hiệu.
Hình trên thể hiện mức độ khác nhau của sự nhận biết về thương hiệu
Không nhận biết thương hiệu Sự thừa nhận thương hiệu
Nhớ lại thương hiệu
Nằm trong
tâm trí
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
Những lợi ích mà sự nhận biết thương hiệu mang lại:
Hình 1.6: Lợi ích sự nhận biết thương hiệu
3. Sự cảm nhận về chất lượng của thương hiệu
Một thương hiệu sẽ có được nhận thức về chất lượng toàn diện đối với
khách hàng mà không cần thiết phải dựa vào kiến thức với những giải thích chi tiết
của nó về chất lượng. Sự nhận thức về chất lượng có thể cảm nhận theo nhiều dạng
khác nhau từ những loại hình khác nhau của những ngành công nghiệp khác nhau.
Sự cảm nhận chất lượng sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến quyết định mua và sự trung
thành thương hiệu, đặc biệt khi một người mua không được thúc đẩy hoặc có sự
phân tích kỹ lưỡng. Ngoài ra, cảm nhận chất lượng có thể là cơ sở cho việc mở
rộng thương hiệu.
Giá trị đích thực của thương hiệu xuất phát từ người tiêu dùng, nếu họ có
những cảm nhận tốt thì thương hiệu mới có giá trị cao. Khi nói về giá trị thương
hiệu thì chúng ta lại quan tâm đến hai khía cạnh. Thứ nhất, giá trị cảm nhận là
những cảm xúc, tình cảm của người tiêu dùng đối với thương hiệu. Thứ hai, giá trị
tài chính là giá trị công ty, trong đó một số yếu tố tài chính (giá cả, doanh số…)có
về mức độ quan trọng và chi phí họ phải trả cho sản phẩm và dịch vụ. Tóm lại, mỗi
người tiêu dùng đều có sự đánh giá khác nhau cho cùng một sản phẩm hay dịch vụ
- đó chính là giá trị cảm nhận. Giá trị cảm nhận là một khái niệm rất quan trọng đối
với tổ chức. Một nhà sản xuất tin rằng khi họ tạo ra được sản phẩm tốt, giá cả phải
chăng thì người tiêu dùng sẽ chọn mua. Tuy vậy, một sản phẩm tốt chỉ khi người
tiêu dùng cho rằng nó tốt - một giá cả phải chăng chỉ được quan tâm khi mà người
tiêu dùng cảm nhận rằng nó phù hợp với những lợi ích mà họ nhận được khi tiêu
dùng sản phẩm.
Ảnh hưởng đối với sự cảm nhận chất lượng?
Mức độ cảm nhận chất lượng.
Mức độ cảm nhận chất lượng đối với trường hợp dịch vụ.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
Chuyển giao chất lượng cao.
Cam kết đối với chất lượng.
Những dấu hiệu của chất lượng cao.
Giá như một khẩu hiệu chất lượng.
Làm cho cảm nhận thực tế phù hợp với chất lượng.
4. Sự liên tưởng đến thương hiệu:
Một trong những thành phần đóng góp nhiều nhất vào giá trị thương hiệu đó
là các liên hệ thương hiệu, đó là cách để khách hàng sử dụng một thương hiệu. Các
liên tưởng thương hiệu mà khách hàng có thể cảm nhận và đánh giá có thể là các
thuộc tính của sản phẩm, hình tượng cá nhân hoặc là một biểu tượng cụ thể nào đó.
Liên tưởng thương hiệu được hình thành và dẫn đường bởi đặc tính của thương
hiệu – Đó chính là cái mà công ty muốn thương hiệu đại diện trong tâm trí khách
hàng. Do đó, một trong những chìa khoá cho sự tạo dựng một thương hiệu mạnh là
việc hình thành và phát triển đặc tính thương hiệu.
4.1 Giá trị của việc liên tưởng thương hiệu:
Hình 1.7: Giá trị của việc liên tưởng thương hiệu
Những
thuộc tính
sản phẩm
Lợi ích
khách
hàng
Nước/ khu
vực địa lý
Những đặc
điểm vô
hình
Sử dụng/
Sự chú ý
Giá tương
đối
Sự nổi
tiếng/ con
người
Tính cách/
cá nhân
Những đối
thủ cạnh
tranh
Lớp sản
phẩm
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
B – LÝ THUYẾT VỀ ĐO LƯỜNG GIÁ TRỊ THƯƠNG HIỆU
Đây là một thương hiệu manh: K, A, M, IBM? Tại sao một thương hiệu lại
Có rất nhiều phương pháp được sử dụng để đánh giá thành tích và giá trị của
thương hiệu nhưng phổ biến vẫn là nghiên cứu ước lượng tài sản thương hiệu hoặc
thuần khiết sử dụng các chỉ số tài chính.
Nếu chỉ sử dụng một trong hai cách trên, việc đánh giá giá trị của thương
hiệu không thể trọn vẹn và chính xác vì thiếu một trong hai yếu tố hoặc là của tài
chính, hoặc là của marketing. Điều đó buộc người ta phải nghĩ ra một cách có thể
kết hợp cả hai ưu điểm trên, gọi là phương pháp kinh tế. Phương pháp này giúp tính
ra giá trị của thương hiệu không chỉ phù hợp với các nguyên lý tài chính hiện nay
mà còn có thể dùng nó để so sánh với tất cả tài sản khác của doanh nghiệp. Vì vậy
giờ đây nó được đề cập và chấp nhận rộng rãi nhất. Thương hiệu được định giá
bằng cách xác định thu nhập trong tương lai có thể kiếm được nhờ thương hiệu, sau
đó qui số tiền này về giá trị hiện tại bằng cách sử dụng lãi suất chiết khấu (lãi suất
chiết khấu phản ánh mức độ rủi ro của số tiền trong tương lai). Phương pháp “kinh
tế” do interbrand đề ra năm 1988 và trở thành hệ phương pháp được thừa nhận rộng
rãi nhất, được áp dụng ở hơn 3.500 cuộc định giá trên toàn thế giới. Phương pháp
dựa trên những nguyên tắc cơ bản của marketing và tài chính.
Ở khía cạnh marketing, người ta quan tâm đến khả năng tạo ra lợi nhuận của
thương hiệu đối với các hoạt động kinh doanh. Đầu tiên thương hiệu giúp khơi dậy
nhu cầu cần mua ở người tiêu dùng - người tiêu dùng ở đây có thể là cá nhận hoặc
doanh nghiệp, tập đoàn. Nhu cầu của người tiêu dùng thể hiện thông qua doanh thu
dựa trên số lượng mua, giá cả và mức độ thương xuyên. Thứ hai, thương hiệu thu
hút được lòng trung thành của người tiêu dùng trong dài hạn.
Ở khía cạnh tài chính, giá trị thương hiệu chính là giá trị qui về hiện tại của
thu nhập mong đợi trong tương lai có được nhờ thương hiệu. Theo lí thuyết tài
chính quốc tế, dòng tiền mặt được chiết khấu (discounted cash flow - DCF) và giá
trị hiện tại ròng (net present value - NPV) của thu nhập trong tương lai là những
khái niệm thích hợp để đo lường giá trị của bất kì loại tài sản nào. Kể cả những tài
sản hữu hình vốn được định giá theo chi phí thì nay được định giá một cách chuyên
môn hơn theo DCF. Phương pháp qui về giá trị hiện tại ròng lúc đầu dựa trên dòng
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
Thứ nhất, đó là đo lường theo sự mô tả gián tiếp cho hai đặc điểm có thể
quan sát được: Sự chú ý giành cho thương hiệu, cái mà được đo lường bởi những
đặc điểm của sự nhận biết (Alba: 1991) và sự chấp nhận về hình ảnh của thương
hiệu( Biel:1992,Krishnan: 1996) Điều mà tên thương hiệu đã đánh thức trong tâm
trí khách hàng một cách mạnh mẽ.
Thứ hai, đó là đo lường một cách trực tiếp sự yêu thích của khách hàng
trong một vài khả năng có thể.
Hai nhà nghiên cứu Park và Srinivasan đã sử dụng một công thức quan trọng
cho việc đo lường giá trị thương hiệu:
e
ij
= aij + nij
Trong đó: e
i j
- Giá trị thương hiệu j cho cá nhân i.
A
i j –
Giá trị thương hiệu ei
j
với yếu tố dựa vào vật tượng trưng. Sự chấp nhận
thương hiệu dựa trên cơ sở đánh giá những đặc điểm của sản phẩm
N
i j
Giá trị thương hiệu ei
j
với yếu tố dựa vào không có vật tượng trưng. Giải
thích tác động thặng dư của thương hiệu về sự ưa thích, tin tưởng vào thương hiệu
bỏ qua việc đánh giá các đặc điểm của sản phẩm.
Phương pháp này có thuận lợi cho của việc đo lường một cách riêng biệt 2
yếu tố đóng góp của thương hiệu để phát triển quan điểm khách hàng hướng đến
- Sự nhận biết thương hiệu:
o Tôi biết X như một cái gì tương tự.
o Tôi có thể nhận ra X trong số những thương hiệu đang cạnh tranh khác.
o Tôi nhận biết X.
- Sự liên tưởng thương hiệu.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
o Một số đặc điểm của X đến từ suy nghĩ của tôi một cách nhanh chóng.
o Tôi có thể nhắc lại một cách nhanh chóng biểu tượng hoặc logo của X.
o Tôi cảm thấy khó khăn trong việc tưởng tượng X trong tâm trí của tôi.
2.2. Những yếu tố trong thang đo OBE (3 Yếu tố):
- Nó tạo ra sự nhạy cảm để mua X thay vì mua bất kỳ thương hiệu khác,
thậm chí nếu chúng giống nhau.
- Nếu thương hiệu khác không khác X trong bất kỳ cách nào, nó dường như
nhanh trí hơn để chọn mua X.
- Thậm chí nếu những thương hiệu khác có đặc điểm giống X, tôi sẽ ưu tiên
mua X.
Tiếp theo những yếu tố trên, nhiều nghiên cứu đã sử dụng kết hợp các yếu tố
trong mô hình phục vụ cho những nghiên cứu về đo lường giá trị thương hiệu công
ty và thương hiệu theo cảm nhận của khách hàng.
3. Phương pháp đo lường giá trị thương hiệu của David Aaker
3.1. Phát triển hệ thống đo lường giá trị thương hiệu có tính hiệu lực:
Những thách thức đối với một số thương hiệu đó là phát triển sự tin cậy và
đo lường cảm nhận của sức mạnh thương hiệu, tại đó cách thức đo lường này sẽ bổ
sung những đo lường tài chính với đo lường tài sản thương hiệu. Khi những mục
tiêu của thương hiệu và những chương trình được hướng dẫn bởi cùng kiểu đo
lường, kích thích cấu trúc trở nên cân bằng hơn. Và nó trở nên tiện lợi hơn cho việc
chứng minh và bảo vệ những hoạt động xây dựng thương hiệu.Tiến bộ chung trong
việc đo lường của giá trị thương hiệu sẽ giúp những nhà quản lý phát triển công cụ
hiệu lực cho những thương hiệu đặc thù.
ngày càng yêu thích bởi độc đáo hơn. Tuy nhiên, hàng loạt thử nghiệm những đo
lường chung chung có thể cung cấp cấu trúc và sự chỉ dẫn cho việc phát triển hàng
loạt những đo lường của những thương hiệu riêng lẽ khác. Thực sự thì những đo
lường chọn lọc cho sản phẩm trên phạm vi thị trường phải được ứng dụng cho việc
kiểm tra những thương hiệu độc lập.
CHUYÊN ĐỀ THỰC TẬP GVHD : ĐINH THỊ LỆ TRÂM
SVTH : NGUYỄN THỊ HOÀNG OANH
3.3. Sử dụng nghiên cứu đối với sự cải tiến 10 yếu tố đo lường:
Mười yếu tố đo lường mà nhà nghiên cứu đưa ra không nhất thiết là một giải
pháp tối ưu cho tất cả các thương hiệu ở những lĩnh vực khác nhau.Việc sử dụng
yếu tố thang đo phải phù hợp với hoàn cảnh và những biến động của các yếu tố
quan trọng đối với thương hiệu.Và đặc biệt là mỗi Công tycó thể đưa ra những tiêu
chuẩn nhiều hoặc ít hơn để đo lường giá trị thương hiệu của chính mình thông qua
khách hàng.
Đối với David Aaker ,qua quá trình nghiên cứu định lượng trong việc đo
lường giá trị thương hiệu, ông đã đưa ra đề nghị cho 10 tiêu chuẩn của thương
hiệu.Những yếu tố thang đo có thể thay đổi để phù hợp với mục tiêu của sự quan
tâm( như cảm nhận giá cao hơn liên tưởng với thương hiệu, quan điểm về thương
hiệu, hoặc ý định mua). Sức mạnh của mối liên hệ giữa đo lường giá trị thương
hiệu và những thay đổi mục tiêu này sẽ cung cấp một nền tảng cho sự ưu tiên cho
những đo lường được đề xướng.
3.4. Mười yếu tố của giá trị thương hiệu:
10 yếu tố giá trị thương hiệu này tạo nên một nhóm đo lường trong 5 thành
tố cấu thành của giá trị thương hiệu.