tóm tắt pháp luật chông định giá lạm dụng của eu ,hoa kỳ việt nam so sánh và kinh nghiệm áp dụng cho việt nam - Pdf 19


ĐẠI HỌC LUND TRƯỜNG ĐH LUẬT
KHOA LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

TRẦN HOÀNG NGA PHÁP LUẬT CHỐNG ĐỊNH GIÁ LẠM DỤNG
CỦA EU, HOA KỲ, VIỆT NAM
-SO SÁNH VÀ KINH NGHIỆM ÁP DỤNG CHO
VIỆT NAM

– So sánh
: 62.38.60.01
TP.HCM - 2011

2
Công trình được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUND, THỤY ĐIỂN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP. HỒ CHÍ MINH

Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. HANS HENRIK LIDGARD
PGS.TS. LÊ THỊ BÍCH THỌ

Phản biện 1:
Phản biện 2: …………………………………….
Phản biện 3:

để nhận dạng thị trường là cạnh tranh, độc quyền hay độc quyền
nhóm.
Giá cả cũng là công cụ quan trọng mà các đối thủ cạnh tranh
sử dụng để chiến đấu nhằm tồn tại và giành được một vị trí trong thị
trường liên quan. Định giá là công việc hết sức quan trọng đối với
mỗi doanh nghiệp ở nền kinh tế thị trường. Nó là cơ sở để hiện thực
hóa mục tiêu kinh doanh. Trong hoạt động cạnh tranh, định giá được
sử dụng đầu tiên. Những chiến lược áp dụng đối với các yếu tố khác
của sản phẩm như chất lượng, tính năng sử dụng hay bảo hành, hậu
mãi, v.v., suy cho cùng, đều liên quan gián tiếp đến giá của sản

4
phẩm. Định giá có thể sử dụng với mục đích cạnh tranh hoặc phản
cạnh tranh. Trong thị trường độc quyền, quyền lực chi phối, quyết
định giá nằm trong tay của nhà độc quyền. Họ thường có khuynh
hướng khai thác quyền lực đó để tận thu lợi ích và duy trì vị trí độc
quyền của mình.
. Tuy nhiên, t
vậy
.
Thời điểm ra đời của pháp luật kiểm soát độc quyền trên thế
giới được thừa nhận rộng rãi là năm 1890 khi Luật Sherman của Hợp
Chủng Quốc Hoa Kỳ được thông qua. Sau đó Hoa Kỳ lần lượt ban
hành nhiều đạo luật khác. Trong các đạo luật này, Điều 2 Luật
Sherman, Điều 2 và 3 Luật Clayton, và Luật Robinson – Patman tạo
thành khuôn khổ của chế định chống lạm dụng vị trí thống lĩnh thị
trường. Ở Liên Minh Châu Âu, pháp luật về kiểm soát độc quyền ra
đời cùng với và là một phần của sự hình thành Cộng Đồng Chung.
Các qui định về nguyên tắc cạnh tranh đã xuất hiện ở Điều 3(g), 85
và 86 của Công Ước thành lập Cộng Đồng Kinh Tế Châu Âu ký tại

đã hoặc đang thu hút tranh luận của các doanh nghiệp, cơ quan nhà
nước, nhà nghiên cứu và luật gia về việc liệu đó có phải là những
hành vi lạm dụng hay không, ví dụ hành vi tăng giá dược phẩm, tăng
giá sữa, giá thép, “cuộc chiến về giá” giữa các nhà cung ứng dịch vụ

6
viễn thông di động, tranh chấp về giá thuê cột điện giữa Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và Tập đoàn Điện lực Việt
Nam (EVN), khiếu nại về việc tăng giá liên quan đến độc quyền phát
sóng các trận đấu ngày Chủ nhật của Giải bóng đá Ngoại hạng Anh
(EPL) của đài dịch vụ truyền hình số vệ tinh K+ ở Việt Nam. Những
trường hợp thực tiễn này cho thấy hai vấn đề. Một
.
Nguồn tài liệu liên quan về chế định này trong pháp luật EU
và Hoa Kỳ rất dồi dào. S
, những
khoảng trống
thực tế cho thấy
: “

.”

7
Kết quả từ công trình nghiên cứu này sẽ cung cấp kiến thức
chuyên sâu
phù hợp cho việc hoàn thiện pháp luật
cạnh tranh. Hơn nữa, tác giả tin rằng kết quả nghiên cứu sẽ hữu ích
cho công tác giảng dạy của chính mình và trở thành tài liệu tham
khảo cho những người quan tâm đến chủ đề này.
1.2. Mục đích nghiên cứu

phạm và phương thức xử lý của pháp luật Việt Nam về định giá lạm
dụng cũng sẽ được phân tích. Luận án sẽ tập trung làm sáng tỏ những
điểm hạn chế trong các qui định hiện hành của pháp luật Việt Nam
để đề xuất giải pháp khắc phục.

9
tham luận
, và cuối cùng là
.
Án lệ của EU và Hoa Kỳ sẽ được lựa chọn sử dụng trong
một chừng mực mà tác giả cho là phù hợp nhất để minh họa cho các
nội dung bàn luận. Với lịch sử phát triển lâu dài, phạm vi nguồn luật
của EU và Hoa Kỳ rất lớn, cung cấp một lượng khổng lồ các quan
điểm đa dạng và kinh nghiệm thực tế cho những vấn đề nghiên cứu
của luận án. Tuy nhiên, mặt khác, điều đó gây khó khăn cho việc so
sánh ở tầm vĩ mô nhằm tìm ra những điểm giống và khác nhau điển
hình giữa hai hệ thống. Vì vậy, trong một số trường hợp khi trình bày
quá trình phát triển lịch sử của án lệ hoặc các lý luận ở EU và Hoa
Kỳ, luận án dựa trước tiên vào các báo cáo và văn bản hướng dẫn
của cơ quan có thẩm quyền về cạnh tranh ở hai hệ thống này, bao
gồm cả việc viện dẫn các nguồn tham khảo được đề cập trong đó, dù
tác giả không tự mình nghiên cứu tất cả nội dung chi tiết của các
nguồn này.
Đối với pháp luật cạnh tranh Việt Nam thì các nhà nghiên
cứu đều gặp một vài khó khăn cản trở việc tìm và cập nhật thông tin.
Một là việc không công bố rộng rãi thông tin về các vụ việc cạnh
tranh ở Việt Nam. Các trang thông tin điện tử và ấn phẩm của Cục
Quản lý Cạnh tranh, Hội đồng Cạnh tranh không cung cấp thông tin
chi tiết về các vụ việc đang giải quyết và cả các vụ việc đã xử lý
xong. Nội dung đầy đủ các quyết định của Cục Quản lý Cạnh tranh

.
Phương pháp nghiên cứu pháp luật so sánh:
Chương 2, 3, và 4.
, một vấn đề chứa đựng rất nhiều thành tố mang
tính kinh tế, nên cần phải xem xét luật áp dụng từ góc độ kinh tế,
bằng cá

12
. Tuy nhiên, đây là một luận án chuyên ngành luật
học, nên chỉ áp dụng các phân tích và lý thuyết kinh tế trong chừng
mực đủ để hỗ trợ giải quyết vấn đề pháp lý, nghĩa là luận án chỉ nêu
ra các ý tưởng chung về lý thuyết và phân tích kinh tế đang được
thừa nhận một cách phổ biến. Luận án không trình bày các công
thức, đồ thị hay phương trình tính toán của kinh tế học.
1.5. Giá trị của công trình nghiên cứu
Giá trị học thuật:
những
án trong những
.
Giá trị thực tiễn: án
, đặc
biệt là hành vi định giá lạm dụng, từ đó có thể tránh thực hiện hành
vi vi phạm và/hoặc b

13
. Ngoài ra, tác giả h
h/độc quyền sẽ có
ý nghĩa và hữu ích.
1.6. Kết cấu của luận án
Ngoài Chương 1 giới thiệu về đề án nghiên cứu, luận án có

Ở EU và Hoa Kỳ, thuật ngữ “quyền lực thị trường” được sử
dụng phổ biến, còn “vị trí thống lĩnh” theo pháp luật EU thì có bản
chất tương tự “quyền lực độc quyền” trong pháp luật Hoa Kỳ. Theo
đó, vị trí thống lĩnh hay quyền lực độc quyền của một doanh nghiệp
là việc có “quyền lực thị trường lớn” trong một “khoảng thời gian lâu
bền”. Về tổng quát, cả hai hệ thống đều nhận dạng vị trí thống
lĩnh/quyền lực độc quyền dựa vào hai yếu tố cơ bản: thị phần và rào
cản gia nhập thị trường. Ngoài ra, EU còn đưa thêm yếu tố quyền lực
đối lại của khách hàng vào hệ thống cơ sở đánh giá vị trí thống lĩnh.
2.1.3. Khái niệm thị trường liên quan
đều coi bước thiết yếu đầu tiên trong việc này là xác định thị trường
liên quan. Thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm liên

15
quan và thị trường địa lý liên quan. Quan điểm và cách thức xác định
thị trường liên quan ở EU và Hoa Kỳ về cơ bản giống nhau.
2.2. Các hình thức định giá lạm dụng
2.2.1. Định giá quá đáng (định giá độc quyền)
P
quyền lực ,
.
EU
“ ”
, Tòa án Tư pháp EU
tranh. Về lý thuyết, định giá quá đáng có thể được thực hiện ở cả hai
phía bán và mua. Tuy nhiên, trong thực tế ở EU cho đến nay hầu như
không có án lệ về vi phạm Điều 102TFEU với hành vi định giá mua
quá đáng (quá thấp) của doanh nghiệp thống lĩnh phía bên mua.
2.2.2. Định giá hủy diệt
Mặc dù không có định nghĩa chung, định giá hủy diệt thường

một cách tổng quát, hành vi “chèn ép giá” hay “chèn ép lợi nhuận”
diễn ra khi doanh nghiệp thống lĩnh áp dụng chính sách định giá bán
thật cao đối với phương tiện, nguyên nhiên liệu thiết yếu đầu vào
và/hoặc hạ giá bán sản phẩm đầu ra thật thấp nhằm mục đích gây tổn
thương đối thủ cạnh tranh ở thị trường sản phẩm đầu ra.
Pháp luật Hoa Kỳ không điều chỉnh hành vi định giá quá
đáng nên không có cơ chế để chống chèn ép giá trên cơ sở định giá

17
quá cao ở thị trường đầu vào. Trong trường hợp bị “chèn ép giá”, các
đối thủ cạnh tranh ở thị trường đầu ra chỉ có thể khiếu kiện doanh
nghiệp vi phạm trên cơ sở pháp luật về định giá hủy diệt.
Ở EU, những phán quyết gần đây của tòa án EU trong các vụ
án về chèn ép giá cho thấy một hệ thống các điều kiện cần thiết để
truy cứu trách nhiệm doanh nghiệp thống lĩnh gồm (1) Doanh nghiệp
giữ vị trí thống lĩnh trong thị trường nguyên nhiên liệu hoặc thị
trường bán sỉ, và cũng cạnh tranh ở thị trường sản phẩm đầu ra hoặc
thị trường bán lẻ; (2) Nguyên nhiên liệu đầu vào mà doanh nghiệp
thống lĩnh cung cấp là thiết yếu cho sản phẩm đầu ra; (3) Hành vi
của doanh nghiệp thống lĩnh gây tác động, hoặc ít nhất có tiềm năng
gây tác động phản cạnh tranh vào thị trường sản phẩm đầu ra; và (4)
Không có lý do kinh tế chính đáng nào bào chữa cho hành vi.
2.2.4. Định giá phân biệt đối xử
Pháp luật EU và Hoa Kỳ đều được xây dựng tập trung chống
hành vi phân biệt đối xử về giá gây tổn hại thứ cấp. Pháp luật Hoa
Kỳ về định giá phân biệt đối xử còn một số thiếu sót. Pháp luật EU
điều chỉnh hành vi định giá phân biệt đối xử ở cả hai phương diện:
định giá khác nhau cho giao dịch giống nhau và định giá giống nhau
cho giao dịch khác nhau. Trong khi đó pháp luật Hoa Kỳ không điều
chỉnh hành vi định giá giống nhau cho giao dịch khác nhau.

Nhóm biện pháp này bao gồm yêu cầu chấm dứt hành vi vi
phạm, buộc phải thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định, cấm
không được thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định, buộc
doanh nghiệp giải thể, chia tách, hoặc tịch thu một phần doanh
nghiệp.
2.3.2. Biện pháp phạt và khắc phục bằng tiền
Nhóm biện pháp này bao gồm:

19
- Phạt tiền: Hoa Kỳ qui định mức phạt tiền trong phạm vi
một số tuyệt đối (đến 100 triệu đô la Mỹ đối với doanh nghiệp, đến 1
triệu đô la Mỹ đối với cá nhân), EU qui định mức phạt tiền trong
phạm vi tỷ lệ phần trăm doanh thu của năm tài chính liền trước năm
thực hiện hành vi vi phạm (đến 10%). Sự khác nhau này dẫn đến khả
năng khoản tiền phạt ở EU cao hơn ở Hoa Kỳ. Vì thế có vẻ như tác
động phòng ngừa của phạt tiền ở EU cũng cao hơn ở Hoa Kỳ.
- Bồi thường thiệt hại: Hoa Kỳ có qui chế về bồi thường gấp
ba lần thiệt hại (trible damages), EU không có qui chế bồi thường
thiệt hại gấp ba.
- Qui định về trách nhiệm chịu án phí và chi phí pháp lý tố
tụng khác như chi phí luật sư. Ở Hoa Kỳ
.
Như vậy, ở phương diện khác, hệ thống biện pháp xử lý của
Hoa Kỳ lại chứa đựng những biện pháp giúp tăng cường tác động
phòng ngừa và đồng thời khuyến khích việc thi hành luật chống độc
quyền từ thành phần tư nhân: đòi bồi thường thiệt hại gấp ba và
nguyên đơn thắng kiện được bị đơn trả chi phí luật sư.
2.3.3. Hình sự hóa và phạt tù
Ở EU, định giá lạm dụng, cũng như mọi hành vi vi phạm
luật cạnh tranh EU, không bị hình sự hóa.


21
3.1.4.1. Vị trí thống lĩnh và vị trí độc quyền
Pháp luật cạnh tranh Việt Nam có sự phân biệt rạch ròi hai
khái niệm “vị trí thống lĩnh” và “vị trí độc quyền”, và trên cơ sở đó
qui định hành vi lạm dụng vị trí độc quyền đa dạng hơn hành vi lạm
dụng vị trí thống lĩnh. Đây là điểm khác biệt với pháp luật EU và
Hoa Kỳ.
Luật Cạnh Tranh 2004 không có định nghĩa cụ thể thế nào là
vị trí thống lĩnh, chỉ qui định hai trường hợp mà doanh nghiệp được
xem là có vị trí này. Cụ thể là (1) doanh nghiệp có thị phần từ 30%
trở lên trên thị trường liên quan, hoặc (2) có khả năng gây hạn chế
cạnh tranh một cách đáng kể. Như vậy một doanh nghiệp có thị phần
30% trở lên là có vị trí thống lĩnh, không cần xem xét đến bất kỳ điều
kiện nào khác. Hoặc doanh nghiệp có thị phần dưới 30% trên thị
trường liên quan, nhưng có “khả năng gây hạn chế cạnh tranh một
cách đáng kể”, cũng được xem là có vị trí thống lĩnh. So sánh với
cách xác định vị trí thống lĩnh/ quyền lực độc quyền của EU và Hoa
Kỳ, tác giả cho rằng qui định của Việt Nam vừa thiếu, vừa không rõ
ràng.
Có một số điểm khác nhau Luật Cạnh Tranh Việt Nam và
pháp luật Hoa Kỳ, EU trong nhận diện vị trí thống lĩnh. Pháp luật EU
và Hoa Kỳ chú ý vào hai yếu tố: “quyền lực thị trường đáng kể” và
tính chất “bền vững” của quyền lực như biểu hiện của sự thống lĩnh.
Luật Cạnh Tranh Việt Nam chỉ tập trung vào quyền lực thị trường,
không có từ hay mệnh đề nào đề cập đến yếu tố thời gian trong qui
định về vị trí thống lĩnh/ độc quyền. Vì vậy, chỉ riêng lẻ yếu tố thị
phần, lại ở mức ba mươi phần trăm để xác định vị trí thống lĩnh theo
Luật Cạnh Tranh Việt Nam, tuy đơn giản và thuận tiện cho cơ quan
nhà nước áp dụng, nhưng có thể dẫn đến việc những doanh nghiệp

23
Cụ thể, -
(6
- -
.
Một vấn đề khác nữa là pháp luật cạnh tranh Việt Nam
không quan tâm thích đáng đến chênh lệch giữa giá và chi phí. Phép
kiểm tra của pháp luật Việt Nam không trực tiếp so sánh giá bán và
giá thành để tìm ra biên lợi nhuận. Pháp luật chỉ so sánh nhu cầu với
công suất thiết kế, và so sánh chi phí với chi phí.
3.2.1.2. Định giá quá đáng từ phía người mua
Tương tự như vậy, khi phân tích qui định hướng dẫn của
Nghị định 116/2005 về các dấu hiệu xác định hành vi “áp đặt giá
mua bất hợp lý gây thiệt hại cho khách hàng” của Luật Cạnh Tranh,
tác giả rút ra một vài điểm thiếu sót, chưa rõ ràng.
Cụ thể, Nghị định 116/2005/NĐ-CP không dùng giá thành
toàn bộ, mà dùng giá thành sản xuất làm mức chuẩn cho phép kiểm
tra hành vi lạm dụng này. Giá thành sản xuất chỉ là một phần trong
giá thành to

24
. Giá thành toàn bộ
trong phép kiểm tra xác định định giá bán quá đáng dựa vào chi phí
của doanh nghiệp thống lĩnh, nên doanh nghiệp tính toán biết rõ
được. Trong khi đó, giá thành sản xuất trong phép kiểm tra áp đặt giá
mua quá đáng dựa vào chi phí của người bán về nguyên vật liệu và
các chi phí trực tiếp chuyển hóa nguyên vậ
nên
.
3.2.1.3. Ấn định giá bán lại tối thiểu gây thiệt hại cho

của doanh nghiệp vi phạm, pháp luật Việt Nam qui định về các
trường hợp doanh nghiệp bán hàng hóa dưới ATC nhưng không bị
xem là định giá hủy diệt. Trong các trường hợp này, trường hợp “hạ
giá bán hàng hóa theo mùa vụ” và “hạ giá bán hàng hóa trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status