Giáo trình luật hành chính - Bài 5: QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC doc - Pdf 19

Bài 5:
QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC

I. NHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC.
1. Khái niệm "viên chức nhà nước"- "con người hành chính".
2. Ðặc điểm.
3. Phân loại viên chức nhà nước.
II. NHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ CÔNG VỤ NHÀ NƯỚC.
1. Khái niệm công vụ nhà nước.
2. Các nguyên tắc của công vụ Nhà nước.
III. QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC.
1. Sư phát triển của quy chế viên chức nhà nước ta.
2. Quyền hạn của viên chức nhà nước.
3. Nghĩa vụ của viên chức nhà nước.
4. Khen thưởng viên chức nhà nước.
5. Trách nhiệm pháp lý của viên chức nhà nước trong trong hoạt động công
vụ.
6. Ðặc điểm của trách nhiệm viên chức trong hoạt động công vụ.
IV. PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIÊN CHỨC VÀ CÔNG
VỤ NHÀ NƯỚC.
1. Ðường lối cán bộ của Ðảng ta trong giai đoạn hiện nay.
2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về công vụ nhà nước.
________________________________________________________________________
_______________________
I. NHỮNG VẤN ÐỀ CHUNG VỀ VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC
1. Khái niệm "viên chức nhà nước"- "con người hành chính"
Vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề quan trọng, là một yếu tố cơ bản của quản lý
nhà nước. Cơ quan nhà nước không thể hình thành và hoạt động nếu không có viên chức
nhà nước. Thật vậy. tất cả những hoạt động quản lý để đảm bảo trật tự xã hội sẽ mất đi
nếu thiếu "con người hành chính" này. Vì vậy, cán bộ là người quyết định mọi vấn đề
trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

3. Hoạt động của viên chức nhà nước ít nhiều mang tính quyền lực nhà nước.
+ Hoạt động của họ có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt những quan hệ pháp luật
cụ thể hoặc tạo điều kiện cần thiết cho sự phát triển, thay đổi, chấm dứt những quan hệ ấy.
+ Viên chức nhà nước được giao cho những quyền hạn nhất định, những quyền hạn đó là
phương tiện đảm bảo cho viên chức nhà nước hoàn thành nhiệm vụ của mình. Ðồng thời
họ cũng phải gánh vác những nghĩa vụ nhất định đối với nhà nước. Vì thế, quyền hạn và
nghĩa vụ của viên chức nhà nước liên quan chặt chẽ với nhau.
+ Lưu ý rằng thẩm quyền của viên chức nằm trong phạm vi quyền hạn và trong giới hạn
công vụ tương ứng.
4. Hoạt động của họ không trực tiếp tạo ra của cải vật chất mà xác định hướng phát triển
và bảo đảm sự lãnh đạo nhà nước đối với các quá trình sản xuất. Nghĩa là họ có những
hình thức và phương pháp hoạt động riêng, khác hẳn với hoạt động của công nhân.
5. Chịu sự thay đổi, điều động công tác và chấm dứt quan hệ theo sự điều động của nhà
nước trên cơ sở pháp luật. Người lao động không có quyền đòi hỏi nhà nước phải trao
cho mình một chức vụ hoặc cho quyền tiến hành những hoạt động nhất định nhằm thực
hiện một chức vụ nào đó thuộc về nhà nước. Nhà nước, cụ thể là các cơ quan có thẩm
quyền có quyền thay đổi, điều động công tác hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật lao động
với viên chức nhà nước nếu lợi ích nhà nước đòi hỏi nhưng phải tuân theo các trình tự,
thủ tục do pháp luật quy định.
3. Phân loại viên chức nhà nước
Là sự phân chia viên chức nhà nước ra thành các loại, các hạng ngạch khác nhau theo
những tiêu chuẩn nhất định.
Có nhiều căn cứ để phân loại viên chức nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay người ta phân loại
dựa vào ba căn cứ sau:
- Căn cứ vào tính chất công việc.
- Căn cứ vào đặc điểm pháp lý của công việc.
- Căn cứ vào sự phân công lao động và đặc tính lao động của viên chức.
Trong đó căn cứ quan trọng nhất là căn cứ vào tính chất công việc, bởi vì căn cứ này có
liên quan đến việc xác định công chức và không công chức-yếu tố chỉ phát sinh ở chế độ
có bộ máy công quyền.

nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên
trong một công sở của nhà nước ở trung ương hoặc địa phương, ở trong nước hoặc ngoài
nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp.
Căn cứ vào những dấu hiệu nêu trên, những người sau đây gọi là công chức nhà nước:
1. Những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, ở các
tỉnh, huyện và cấp tương đương. Vậy, cán bộ cấp xã (cấp hành chính), ấp không phải là
công chức.
2. Những người làm việc trong các đại sứ quán, lãnh sự quán của nước ta ở nước ngoài.
3. Những người làm việc trong các bệnh viện, trường học, cơ quan nghiên cứu khoa học,
cơ quan báo chí, phát thanh truyền hình của nhà nước và nhận lương từ ngân sách.
4. Những nhân viên dân sự làm việc trong các cơ quan Bộ Quốc phòng.
5. Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ
máy các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát các cấp.
Ví dụ: Thẩm phán, kiểm sát viên, hoặc thư ký toà án đã vào ngạch công chức.
6. Những người được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong bộ
máy của văn phòng Quốc hội, ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp.
Ví dụ: Thư ký văn phòng quốc hội đã vào ngạch.
b) Căn cứ vào đặc điểm pháp lý của công việc mà viên chức đảm nhiệm
Theo tiêu chuẩn thì ta phân loại viên chức nhà nước thành nhân viên giúp việc và viên
chức phụ trách.
* Nhân viên giúp việc:
Là những người phục vụ, thực hiện các hoạt động vật chất và kỹ thuật như: đánh máy,
thông tin liên lạc, lưu trữ hồ sơ, lái xe Ðặc điểm pháp lý của hoạt động giúp việc là
không trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay đình chỉ các quan hệ pháp luật cụ thể. Hoạt
động của đội ngũ nhân viên giúp việc góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ
của cơ quan.
* Viên chức phụ trách:
Là những người giữ chức vụ nhất định trong bộ máy nhà nước. Ðể thực hiện chức vụ,
nhân viên phụ trách có quyền sử dụng quyền lực nhà nước theo quy định của pháp luật.
Quyết định của viên chức phụ trách có thể trực tiếp làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ các

quan và công sở Nhà nước là công vụ Nhà nước. Công vụ là hoạt động do các cán bộ,
viên chức nhà nước tiến hành nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước.
1. Công vụ Nhà nước là một phần hay một mặt hoạt động có tính tổ chức Nhà nước,
nhằm thực hiện chức năng nhà nước.
+ Hoạt động này được phân biệt với các hoạt động khác trong xã hội như sản xuất vật
chất, sáng tạo giá trị tinh thần và hoạt động phục vụ trong các tổ chức chính trị xã hội bởi
sự gắn bó chặt chẽ của công vụ Nhà nước với quyền lực Nhà nước.
+ Công vụ Nhà nước, nếu nhìn từ góc độ vị trí của nó trong tổ chức Nhà nước, được bắt
đầu từ lúc xác lập các chức vụ Nhà nước. Hoạt động công vụ Nhà nước là một dạng lao
động xã hội, nhằm quản lý các hoạt động công vụ liên quan đến nhiều mặt hoạt động xã
hội, và nó đòi hỏi nhiều lĩnh vực khoa học và nghề nghiệp, nhưng nghề nghiệp cơ bản
nhất của viên chức Nhà nước là thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và chức năng lập
pháp, xét xử, kiểm sát của Nhà nước.
2. Hoạt động công vụ Nhà nước trước hết là hoạt động quyền lực, tác động đến ý chí của
con người, dẫn đến những hành vi có ý thức hoặc đáp ứng những nhu cầu chung của mọi
người trong xã hội. Hoạt động công vụ do các viên chức nhà nước mang quyền lực nhà
nước đảm nhiệm nhằm thực hiện nhiệm vụ Nhà nước. Quyền lực Nhà nước được những
người có chức vụ Nhà nước thực hiện, vì rằng mỗi chức vụ là một phần thẩm quyền của
cơ quan đó.
3. Chức vụ là bộ phận cơ cấu cơ sở của công vụ cơ quan Nhà nước, bao gồm hàng loạt
vấn đề: xác định các chức vụ, các quy tắc, và phương thức tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn
nhiệm, bãi chức, tuyên chuyển
2. Các nguyên tắc của công vụ Nhà nước
Các nguyên tắc của công vụ Nhà nước được xác định bởi nội dung hoạt động công vụ,
nghĩa là được xác định bởi tính chất của Nhà nước. Nguyên tắc công vụ là những quan
điểm, những tư tưởng, những quy định chung nhất nhằm thực hiện một cách có hiệu quả
việc quản lý nhà nước.
Do có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm và nội dung của công vụ Nhà
nước nên cũng có sự khác nhau về cách phân loại các nguyên tắc của công vụ Nhà nước.
Từ quan niệm công vụ Nhà nước chỉ tập trung vào hoạt động của viên chức Nhà

thành nhiệm vụ, phải biết tận tụy với công việc, phải trung thực. Ngoài năng lực tổ chức,
người cán bộ phải nắm vững khoa học quản lý, phải có chí tiến thủ, phải có khả năng đạt
được kết quả tốt trong công tác, có khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, phát huy
sáng kiến, khả năng bố trí và sử dụng cán bộ, có tính tổ chức, tự chủ cao, có tính quyết
đoán và lòng nhân ái đối với con người.
3. Không có bất kỳ một hạn chế nào về mặt đảm nhiệm chức vụ ngoài những hạn chế
nhằm đảm bảo việc thực hiện tốt các chức vụ đó
Mọi công dân đều bình đẳng trong việc đảm nhiệm chức vụ nhà nước. Ðây là biểu hiện
cụ thể của quyền bình đẳng trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Mọi công
dân đều có thể tham gia gánh vác công vụ nhà nước nếu đáp ứng yêu cầu của công vụ ấy
không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần nhân thân, giới tính.
Những hạn chế trong việc đảm nhiệm chức vụ nhà nước đều xuất phát từ lợi ích công vụ
và đều được pháp luật quy định chặt chẽ. Nhà nước hạn chế không cho một số đối tượng
trở thành viên chức nhà nước đó là:
a) Người mất trí;
b) Người bị toà án tước một số quyền;
c) Người bị tòa án cấm không cho giữ một chức vụ hoặc đảm nhận, tiến hành một hoạt
động nhất định;
d) Người đang bị phạt tù;
e) Ngoài ra, trong cùng một cơ quan nhà nước không được sắp xếp những người có quan
hệ thân thích với nhau làm những công việc mà nhiệm vụ của người này là kiểm soát
công việc của người kia, nhất là những công việc liên quan đến tài sản như kế toán, thủ
quỹ, thủ kho
4. Không có đặc quyền đặc lợi nào dành riêng cho viên chức nhà nước
Viên chức nhà nước cũng làm việc và hưởng lương theo chức vụ và khả năng như mọi
người khác chứ không có một đặc quyền đặc lợi nào dành riêng cho họ. Trong một số
ngành do điều kiện làm việc đặc biệt nên có quy định về chế độ đãi ngộ đặc biệt cho loại
viên chức nhà nước này hoặc viên chức nhà nước khác như: những người thường xuyên
tiếp xúc với hóa chất độc hại, những người phải làm việc liên tục cả ngày nghỉ, ngày
lễ Những quy định này xuất phát từ tính chất, đặc điểm của công việc mà viên chức đảm

thế nào để viên chức Nhà nước thực hiện đúng thẩm quyền của mình, không lạm dụng
quyền lực để đi đến tham nhũng, hối lộ và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác.
III. QUY CHẾ PHÁP LÝ HÀNH CHÍNH CỦA VIÊN CHỨC NHÀ NƯỚC
1. Sư phát triển của quy chế viên chức nhà nước ta
Quy chế pháp lý hành chính của viên chức nhà nước là tổng thể những quy định pháp luật
về trình tự và điều kiện bổ sung đội ngũ viên chức nhà nước, địa vị pháp lý của viên chức
nhà nước, những điều kiện và trình tự thực hiện hoạt động công vụ, các hình thức khen
thưởng và trách nhiệm của viên chức nhà nước.
Khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, một trong những nhiệm vụ quan trọng
được đặt ra là phải xây dựng nền hành chính của chế độ mới, đào tạo, xây dựng đội ngũ
công nhân viên chức nhà nước, ban hành các quy định về quy chế pháp lý hành chính của
viên chức nhà nước. Quá trình này trải qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Mỗi giai
đoạn đánh dấu một bước phát triển mới với những đặc thù riêng của nó.
Từ năm 1980 đến nay, nhà nước ta đã ban hành những quy định chung cho cả công nhân
và viên chức nhà nước về tuyển dụng, cho thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền lương, kỷ luật
lao động Sự thống nhất về cơ bản giữa quy chế công nhân và quy chế công chức thể
hiện rõ quan điểm của nhà nước ta cho rằng trong xã hội xã hội chủ nghĩa, viên chức nhà
nước cũng là người lao động, không phải là một đẳng cấp tách biệt với công nhân, những
quyền và nghĩa vụ cơ bản của viên chức nhà nước cũng được quy định như đối với công
nhân và do luật lao động điều chỉnh.
2. Quyền hạn của viên chức nhà nước
a. Những quyền hạn chung
Là những quyền hạn mà mọi viên chức nhà nước đều được hưởng. Những quyền hạn này
không gắn với chức vụ cụ thể mà gắn với hoạt động công vụ nói chung, đó là:
- Viên chức nhà nước có quyền được học tập để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ
cũng như trình độ lý luận chính trị.
- Viên chức nhà nước có quyền thi tuyển lên chức vụ cao hơn.
- Viên chức nhà nước được hưởng các chế độ bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật.
- Viên chức nhà nước được hưởng chế độ khen thưởng do quy định của pháp luật.
b. Những quyền hạn cụ thể

chức thi hành mệnh lệnh bất hợp pháp của cấp trên thì dù cố ý hay vô ý họ đều phải chịu
trách nhiệm.
Như vậy, sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên không phải là sự phục tùng máy
móc mà là sự phục tùng tự giác trên cơ sở pháp luật.
4. Khen thưởng viên chức nhà nước
Khen thưởng được nhà nước sử dụng như một phương pháp khuyến khích về vật chất hay
tinh thần đối với người lao động khi họ đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong
công tác.
Nhà nước ta quy định mức khen thưởng cho viên chức nhà nước trong mọi lĩnh vực, hình
thức khen thưởng có thể là phong tặng danh hiệu, huy hiệu.
Ơớ những ngành, những lĩnh vực khác nhau có hình thức khen thưởng riêng. Các hình
thức khen thưởng trên có thể được kèm theo những quyền lợi về vật chất như tiền thưởng,
tăng lương trước kỳ hạn.
5. Trách nhiệm pháp lý của viên chức nhà nước trong trong hoạt động công vụ
a) Quan niệm về trách nhiệm pháp lý của viên chức
Một đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền là giữa Nhà nước và cá nhân công dân
có trách nhiệm qua lại. Viên chức Nhà nước vì vậy, có trách nhiệm trước nhân dân về
mọi quyết định và hành vi hành chính của mình.
Trách nhiệm viên chức được xem xét dưới hai bình diện khác nhau: trách nhiệm tích cực
(chủ động) và trách nhiệm tiêu cực (bị động).
Trách nhiệm chủ động
Trách nhiệm chủ động là trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ của viên chức, phải thực hiện
trước nhà nước, trước nhân dân trên cơ sở qui định của pháp luật và các nguyên tắc của
quản lý hành chính nhà nước.
Bản chất Nhà nước ta là "Nhà nước của dân, do dân và vì dân. "Tuy nhiên, Nhà nước cần
làm những gì mà công dân không thể thực hiện được, nhằm đáp ứng, bảo đảm sự ổn định
phát triển xã hội. Chẳng hạn như: bảo vệ trật tự trị an, an toàn xã hội, hoạch định chính
sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, giao thông - vận tải, an ninh - quốc
phòng và thực hiện các dịch vụ hành chính. Trách nhiệm của Nhà nước cũng chính là
trách nhiệm của các nhà chính trị, các cán bộ quản lý, viên chức. Khi không thực hiện các

thiện pháp luật về công vụ, viên chức, công chức.
* Trách nhiệm thụ động
Khi các cơ quan Nhà nước, viên chức không thực hiện trách nhiệm tích cực, vi phạm
pháp luật gây thiệt hại cho công dân, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, họ bước vào một
quan hệ pháp luật mới và phải chịu những hậu quả bất lợi nhất định về vật chất hoặc tinh
thần. Ơớ khía cạnh thụ động trách nhiệm công vụ là sự phản ứng của Nhà nước, cơ quan
Nhà nước đối với cá nhân viên chức khi thực hiện một hành vi trong quá trình thực thi
công vụ trái pháp luật, hoặc quyết định của cơ quan cấp trên gây thiệt hại, xâm phạm tới
quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của công dân. Trách nhiệm thụ động thể hiện ở việc phải
chịu áp dụng các chế tài pháp luật tương ứng mà hậu quả là cơ quan, cá nhân viên chức
gánh chịu những hậu quả bất lợi, thiệt hại về vật chất, tinh thần do Toà hành chính có
thẩm quyền thực hiện.
Tài phán hành chính là một chế định dựa trên cơ sở chế độ trách nhiệm của Nhà nước
trước công dân, có loại trừ chế độ đặc quyền, miễn trừ trách nhiệm của Nhà nước trong
các quyết định của mình trong phạm vi trách nhiệm công vụ của viên chức nhà nước.
Tài phán hành chính là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền thực hiện, phán xét những khiếu kiện của công dân, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội đối với cơ quan hành chính đã có những quyết định, hoặc hành vi mà công
dân cho là trái pháp luật hoặc xâm phạm tới quyền, tự do lợi ích hợp pháp của họ.
Hoạt động xét xử của Toà án hành chính nhằm bảo vệ quyền, tự do, lợi ích hợp pháp của
công dân, bảo vệ pháp chế, trật tự pháp luật, bảo vệ những hành vi công vụ của viên chức
đúng pháp luật trong quá trình giải quyết các tranh chấp hành chính giữa công dân với cơ
quan hành chính Nhà nước.
6. Ðặc điểm của trách nhiệm viên chức trong hoạt động công vụ
Nếu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hành chính, trách nhiệm lao
động là các loại trách nhiệm được quy định rõ ràng trong các bộ luật, đạo luật; thì trách
nhiệm công vụ của viên chứ nói riêng hay trách nhiệm công vụ nói chung không được
quy định như vậy. Trách nhiêm công vụ được quy định trong nhiều văn bản thuộc Luật
hành chính. Luật hành chính là một ngành luật gồm tổng thể các quy phạm pháp luật,
nằm trong nhiều đạo luật và văn bản pháp quy (xét về số lượng) trên các lĩnh vực quản lý

động trái pháp luật).
- Hành vi hành chính trái pháp luật của Nhà nước hoặc các quyết định của cấp trên.
- Hành vi hành chính vô quyền.
- Hành vi hành chính lạm quyền.
- Hành vi từ chối không thực hiện các công việc hành chính theo quy định của pháp luật.
- Hành vi chậm trể trong công vụ gây thiệt hại cho công dân, tổ chức.
¨ Lỗi trong trách nhiệm công vụ :
Hoạt động của con người là hoạt động có ý thức. Khi hành động, một người bình thường
đều nhận thức được tính nguy hại cho xã hội của hành vi và thấy được hậu quả của hành
vi, hoặc theo quy định của pháp luật đều phải nhìn thấy trước hoặc có thể nhìn thấy trước.
Tất cả mọi hành vi hành chính do cơ quan hành chính, viên chức Nhà nước thực hiện. Do
vậy mọi hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình thi hành công vụ đều là hành vi có lỗi.
Có hai hình thức lỗi là : cố ý và vô ý.
Trách nhiệm công vụ là loại trách nhiệm xảy ra trong quá trình thực thi công vụ để phục
vụ cho lợi ích toàn xã hội, lợi ích nhà nước, công dân. Ðể bảo vệ cho lợi ích toàn xã hội
có thể gây thiệt hại cho một công dân, một nhóm công dân cụ thể nào đó vì lợi ích cộng
đồng, lợi ích xã hội, viên chức vẫn thực hiện hành vi hành chính đó.
Về phía công dân bị thiệt hại họ có thể khiếu kiện tới cơ quan tài phán hành chính. Cơ
quan tài phán hành chính dựa vào các tình tiết cụ thể, căn cứ vào pháp luật để đánh giá
hành vi cụ thể đó, rút ra kết luận có vi phạm hay không vi phạm. Trong trường hợp hành
vi hành chính trái pháp luật, hoặc trái quyết định của cơ quan cấp trên hoặc không đúng
thẩm quyền gây thiệt hại cho công dân thì Tòa án hành chính yêu cầu người có hành vi vi
phạm phải chịu trách nhiệm công vụ, bồi thường vật chất cho công dân nếu có.
Cần phân biệt lỗi của viên chức và lỗi của cơ quan hành chính.
+ Khi thực hiện công vụ, vì mục đích vụ lợi, hoặc mục đích khác mà viên chức có hành
vi hành chính trái pháp luật thì đó là lỗi của cá nhân viên chức, gọi là lỗi tách rời công vụ,
không liên quan đến việc thi hành công vụ. Cá nhân viên chức gây thiệt hại cho công dân,
thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cũng có trường hợp khi thi hành công vụ,
không vì mục đích vụ lợi, nhưng vì do sơ suất, không nắm vững pháp luật, có hành vi
hành chính gây thiệt hại cho công dân thì cần xác định trách nhiệm công vụ thuộc về nền

và yêu cầu cơ quan hành chính có trách nhiệm bồi thường.
+ Những hoạt động vì lợi ích công cộng xã hội, khi xảy ra rủi ro, làm thiệt hại cho một
công dân (hoặc một số công dân) không thể chỉ quy định trách nhiệm cho một viên chức
hoặc một cơ quan, mà trong nhiều trường hợp, là trách nhiệm của một quy định, một chủ
trương thuộc các đạo luật, các nghị quyết Do vậy, cần phân biệt lỗi cá nhân viên chức,
lỗi cơ quan, lỗi Nhà nước. Việc xác định rõ trách nhiệm dẫn đến một hệ quả : ai phải
gánh chịu rủi ro khi xảy ra. Chẳng hạn, Nhà nước thành lập quỹ bình ổn giá cà phê, khi
giá cà phê xuống thấp gây thiệt hại cho người trồng và người mua bán cà phê, thì Nhà
nước dùng quỹ đó để bồi thường cho dân. Hoặc khi dân đóng thuế Nhà nước trích một
phần thuế đưa vào quỹ bảo hiểm, khi rủi ro mất mùa dùng quỹ đó bồi thương cho dân.
+ Khi thực thi công vụ, cơ quan Nhà nước nào có lỗi gây thiệt hại thì bồi thường lấy từ
công quỹ, người bị rủi ro được đền bù.
Hành vi bị truy cứu trách nhiệm công vụ phải là hành vi gây thiệt hại thực tế. Thiệt hại
trong trách nhiệm công vụ tương tự giống khái niệm thiệt hại trong trách nhiệm dân sự,
đó là thiệt hại thực tế chứ không phải thiệt hại suy đoán. Do đó, một hành vi hành chính
vi phạm pháp luật gây thiệt hại thực tế cho công dân cụ thể thì phải bồi thường. Công dân
khiếu kiện không phải nhằm lên án cơ quan, cá nhân viên chức thi hành công vụ, mà chủ
yếu đòi bồi thường thiệt hại cho họ.
Tóm lại, trách nhiệm pháp lý của viên chức nhà nước phát sinh khi viên chức nhà nước
thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật hoặc không hoàn thành nhiệm vụ được cơ
quan giao cho. Những hình thức trách nhiệm pháp lý có thể được áp dụng đối với viên
chức nhà nước bao gồm: trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự, trách nhiện kỷ luật,
trách nhiệm vật chất, trách nhiệm hành chính.
a. Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm này phát sinh khi viên chức nhà nước thực hiện những hành vi nguy hiểm
cho xã hội mà bộ luật hình sự quy định đó là tội phạm và được tòa án xác định.
Cần phân biệt những tội phạm có tính chất đặc thù của viên chức nhà nước với những tội
phạm thông thường khác. Những tội phạm có tính chất đặc thù của viên chức nhà nước là
những tội phạm về chức vụ. Chủ thể là viên chức theo quan điểm của luật hình sự, nghĩa
là bất cứ người nào đảm nhận một công việc do nhà nước ủy nhiệm với tư cách là một đại

+ Viên chức gây ra thiệt hại hoàn trả khoản tiền mà cơ quan nhà nước đã bồi thường cho
người bị thiệt hại.
Sau khi đã bồi thường cho người bị thiệt hại, thủ trưởng cơ quan quản lý viên chức gây ra
thiệt hại thành lập hội đồng xét giải quyết việc hoàn trả bồi thường thiệt hại.
Viên chức nhà nước gây ra thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền bồi thường cho cơ quan
mình theo phương thức hoàn trả một lần bằng tài sản riêng của mình trong thời hạn 30
ngày kể từ ngày có quyết định hoàn trả hoặc trừ dần vào thu nhập nhưng không dưới 10%
và không vượt quá 30% tổng thu nhập từ tiền lương và phụ cấp hàng tháng. Trong trường
hợp có nhiều người cùng gây thiệt hại thì họ phải liên đới chịu trách nhiệm trên cơ sở lỗi
của mỗi người.
c. Trách nhiệm vật chất
Trách nhiệm vật chất là trách nhiệm đặc thù của viên chức nhà nước, do cơ quan chủ
quản áp dụng đối với người vi phạm. Quy định của pháp luật về trách nhiệm vật chất của
viên chức nhà nước có nội dung như sau:
- Phạm vi thi hành của chế độ trách nhiệm vật chất chỉ được áp dụng để giải quyết những
vụ thiệt hại tài sản nhà nước do công nhân viên chức gây ra trong quá trình sản xuất, công
tác.
- Viên chức có thể gây ra thiệt hại cho tài sản nhà nước khi vi phạm kỷ luật lao động hoặc
thiếu tinh thần trách nhiệm. Trong trường hợp viên chức nhà nước gây thiệt hại nghiêm
trọng cho tài sản nhà nước do thiếu tinh thần trách nhiệm thì bị xử lý theo chế độ trách
nhiệm dân sự và có thể bị truy tố về mặt hình sự.
- Về mức bồi thường trong trách nhiệm vật chất:
+ Ðối với những trường hợp làm hư hỏng tài sản nhà nước thì tùy tình hình cụ thể, căn cứ
vào mức độ lỗi, điều kiện, hoàn cảnh của người vi phạm mà xí nghiệp, cơ quan quyết
định người vi phạm phải bồi thường một phần hay toàn bộ thiệt hại.
+ Ðối với những trường hợp làm mất tài sản nhà nước thì về nguyên tắc viên chức phải
đền bù toàn bộ tài sản. Nếu việc làm mất tài sản có lý do chính đáng và được xác minh rõ
ràng thì có thể quyết định mức bồi thường thấp hơn mức thiệt hại.
d. Trách nhiệm kỷ luật
Trách nhiệm kỷ luật của viên chức nhà nước phát sinh khi viên chức vi phạm kỷ luật lao

2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về công vụ nhà nước
Ngay sau khi giành độc lập dân tộc, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về
công vụ Nhà nước, sắc lệnh số 76/SL ngày 20/05/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân
Chủ Cộng Hòa ban hành quy chế công chức. Sắc lệnh này đã quy định khá đầy đủ các
vấn đề tuyển dụng, thuyên chuyển, phân cấp, quản lý cán bộ, khen thưởng,, ký luật
Nhưng do tình hình chiến tranh nên sắc lệnh này trên thực tế chưa được áp dụng phổ biến.
Trong giai đoạn sau đó, hoạt động viên chức Nhà nước được điều chỉnh chung với hoạt
động lao động sản xuất của công dân. Ðó là những văn bản quan trọng như Nghị định
195/CP 1964 của Hội đồng Chính phủ ban hành Ðiều lệ về kỷ luật trong các xí nghiệp, cơ
quan Nhà nước, Nghị định 49/CP của Hội đồng Chính phủ (1968) ban hành chế độ trách
nhiệm vật chất của công nhân viên chức đối với tài sản Nhà nước. Ngoài ra còn có nhiều
quy định về tuyển dụng khen thưởng, lương, biên chế
Từ năm 1980 trở lại đây hoạt động công vụ đã điều chỉnh. Ðó là quyết định 117/HÐBT
(1982) ban hành bản danh mục số 1 các chức vụ viên chức Nhà nước, trong đó có phân
loại các chức danh. Trong nhiều ngành kinh tế quốc dân cũng ban hành các tiêu chuẩn
nghiệp vụ cho mỗi loại viên chức.
Tuy vậy, những văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động công vụ vẫn chưa được hệ thống
hóa. Nhiều quy định đã lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu đổi mới.
Hệ thống hành pháp thống nhất, ổn định và vững chắc đòi hỏi phải có đội ngũ công chức
Nhà nước được đạo tạo, có nghiệp vụ mới bảo đảm được những yêu cầu đổi mới toàn
diện các mặt của đời sống xã hội và đội ngũ đó cần phải hoạt động trên cơ sở đạo luật về
công vụ Nhà nước. Từ đó đòi hỏi phải đổi mới công tác cán bộ. Trước hết, phải hoàn
thiện quy chế công chức Nhà nước làm việc tại các cơ quan hành chính Nhà nước, tạo ra
một đội ngũ công chức chuyên nghiệp được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ công chức.
Tiếp theo, để hình thành đội ngũ công chức Nhà nước, cần có hình thức quản lý công
chức phù hợp với yêu cầu phân biệt chức năng giữa Ðảng và Nhà nước, giữa cơ quan
Chính phủ với các đơn vị sản xuất kinh doanh, gắn chặt hoạt động quản lý cán bộ với
hoạt động kinh tế. Ơớ Việt Nam, theo quyết định của Chính phủ, đã thành lập Ban tổ
chức và cán bộ của Chính phủ, loại cơ quan quản lý cán bộ như vậy có thể thấy ở Nga, ở
Mỹ, và một số nước khác. Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm trong và ngoài nước, cần đổi

đương và do luật định.
- Thứ năm , xác định thời hạn phục vụ của các chức vụ. Nhiệm kỳ của một số chức vụ
Nhà nước được pháp luật nhiều nước ghi nhận. Nhưng ở Việt Nam pháp luật chưa điều
chỉnh vấn đề này. Cần phải quy định viên chức lãnh đạo thực thi chức vụ có thời hạn theo
luật định, còn công chức chuyên nghiệp thực thi chức vụ suốt đời.
- Thứ sau, luật về công vụ cần điều chỉnh các bảo đảm cho hoạt động công vụ Nhà nước,
bảo hiểm cho viên chức đã hoàn thành nghĩa vụ phục vụ hoặc vì những điều kiện chính
đáng phải thôi việc.
- Cuối cùng, pháp luật về công cụ phải quy định tổng thể hàng loạt vấn đề về khen
thưởng, trách nhiệm của công chức Nhà nước.

CÂU HỎI
1. Thế nào là viên chức nhà nước? Hãy phân loại viên chức nhà nước căn cứ vào tính
chất công việc?
2. Công vụ nhà nước là gì? Hãy nêu đặc điểm của công vụ nhà nước?
3. Thế nào là trách nhiệm viên chức trong hoạt động công vụ?
Nói "Trách nhiệm công vụ chỉ có ở viên chức" là đúng hay sai? Giải thích?
4. Phân biệt trách nhiệm chủ động và trách nhiệm thụ động?


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status