Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, xu hướng “ toàn cầu hoá” đang từng ngày, từng giờ tác động
đến tất cả các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, hoạt động tài chính quốc tế sẽ là
hoạt động chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu rộng nhất của xu hướng này. Bởi lẽ,
sự phát triển các quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng sẽ là khâu đột
phá, mở đường cho sự phát triển các quan hệ hợp tác kinh tế - quốc tế trên mọi
lĩnh vực khác, tạo đà cho sự phát triển kinh tế mỗi nước. Hệ thống ngân hàng
các nước ngày càng mở rộng hoạt động, tích cực cung ứng vốn cho nền kinh tế.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam cũng không nằm ngoài sự vận động chung đó.
Hơn nữa, đường lối đổi mới toàn diện của Đại hội Đảng VI (1986) như
luồng gió mát lành đầy sinh khí thổi vào bức tranh kinh tế Việt Nam. Một trong
những nội dung quan trọng của đường lối này là đổi mới nền kinh tế, thực hiện
nền kinh tế mở cửa. Từ kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để thực hiện thành công
mở cửa nền kinh tế thì hệ thống tài chính - ngân hàng là hệ thống hỗ trợ hiệu
quả nhất.
Dưới tác động của xu hướng “ toàn cầu hoá”, và nhu cầu phát triển nền
kinh tế trong điều kiện nền kinh tế thị trường, thực hiện nền kinh tế mở cửa tại
Việt Nam; các ngân hàng liên doanh đã từng bước được thiết lập và phát triển.
Các ngân hàng liên doanh với nước ngoài tại Việt Nam đã góp phần mở rộng
quan hệ đối ngoại, đẩy nhanh quá trình mở cửa nền kinh tế. Đồng thời, các ngân
hàng liên doanh cũng tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Các ngân hàng
thương mại trong nước sẽ được tiếp cận, học hỏi công nghệ ngân hàng tiên tiến
từ đó cải tiến, nâng cao kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng đáp ứng yêu cầu về tiêu
chuẩn dịch vụ ngân hàng và kinh doanh tiền tệ.
2. Mục đích nghiên cứu
Khái niệm “ liên doanh” hiện nay được hiểu ở hai góc độ: “ liên doanh
cũ” và “liên doanh mới”. “ Liên doanh cũ” đơn thuần là sự liên doanh giữa một
(hoặc các bên) Việt Nam với một (các bên) nước ngoài. “ Liên doanh mới” là sự
1
Chương II: Quy chế pháp lý về ngân hàng liên doanh ở Việt Nam;
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chương III: Thực tiễn hoạt động của ngân hàng liên doanh và một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động của ngân hàng liên doanh
ở Việt Nam.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG VÀ NGÂN HÀNG
LIÊN DOANH
1. Lịch sử ra đời, phát triển của ngân hàng
Hiện nay, các nhà khoa học và các nhà kinh tế đều cho rằng: “Hoạt động
ngân hàng hình thành và phát triển cùng với sự hình thành đời sống kinh tế và
xã hội của loài người”. Ngân hàng đã bước đi từng bước cực kỳ thô sơ (như hình
thức bancus) và dưới những tác động của nhu cầu phát triển xã hội, nền kinh tế,
đã thúc đẩy ngân hàng không ngừng được hoàn thiện. Xã hội càng phát triển thì
hoạt động của ngân hàng càng trở nên đa dạng hơn.
Giai đoạn lịch sử phát triển đầu tiên của hoạt động ngân hàng được gọi là
“giai đoạn sơ khai của các ngân hàng” xuất hiện vào thời Hy Lạp, đế quốc La
Mã…Điển hình là hoạt động của các nhà đổi tiền Hy Lạp (Iraperita) nhận tiền
của giai cấp quý tộc, người giàu có…và cho các thương gia vay. Đây là hoạt
động mua bán, trao đổi vay tiền sơ khai đầu tiên. Đồng thời, nó cũng dẫn đến sự
ra đời của thuật ngữ “ ngân hàng” (xuất phát từ chữ Latinh Bancus). Giai đoạn
phát triển thứ hai của lịch sử ngân hàng bắt đầu từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ thứ
XVII với nhiều hoạt động mới được áp dụng. Hoạt động ngân hàng tiến bộ rất
nhiều so với ngân hàng sơ khai như sự xuất hiện của nghiệp vụ áp dụng phương
pháp bù trừ trong thanh toán, nghiệp vụ chuyển ngân…Thế kỷ XVII ngân hàng
bước vào giai đoạn ba với việc mạnh dạn cho vay tạo ra những khoản tiền mới
và lưu thông, nghĩa là ngân hàng đã “tham gia vào hoạt động cung ứng tiền”.
nền kinh tế thị trường; thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển; góp phần hình
thành và phát triển thị trường chứng khoán; phát triển quan hệ kinh tế đối ngoại.
Như vậy, ngân hàng ra đời cùng với quá trình sản xuất kinh doanh, trực
tiếp phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh và khi ngân hàng phát triển nó
lại đóng vai trò thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển nhanh.
2. Quá trình ra đời và phát triển của ngân hàng liên doanh
2.1. Sự cần thiết của việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng và sự ra
đời của ngân hàng liên doanh
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Xu hướng hợp tác kinh tế, quốc tế là một nhu cầu tất yếu đối với phát
triển kinh tế trong điều kiện cơ chế thị trường, đặc biệt với các nước đang phát
triển. Cách mạng công nghiệp đã cho ra đời một nền công nghiệp mới và dần
thay thế công nghệ truyền thống. Các nước phát triển đang chuyển tỷ trọng từ
công nghiệp truyền thống sang công nghiệp hiện đại, dựa vào tri thức và thông
tin. Nền kinh tế không hướng theo chiều rộng mà hướng tới phát triển theo chiều
sâu. Tình hình đó làm phát sinh nhu cầu bức thiết là đòi hỏi các nước phải mở
rộng quan hệ hợp tác kinh tế - quốc tế để tiếp nhận công nghệ, khoa học kỹ thuật
hiện đại, thúc đẩy sản xuất, công nghiệp hoá đất nước. Hợp tác kinh tế - quốc tế
được mở rộng trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống trong đó có hợp tác kinh tế -
quốc tế trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Hơn nữa, trong nền kinh tế thị
trường, không một hoạt động kinh tế nào không liên quan tới hoạt động tài chính
và tín dụng, giám sát và điều tiết thông qua hệ thống tiền tệ. Ngân hàng được coi
là một bộ phận của hạ tầng cơ sở trong nền kinh tế.
Thứ nhất, để ổn định và phát triển kinh tế trong điều kiện cơ chế thị
trường thì vị trí của đồng tiền và vai trò của ngân hàng hết sức to lớn. Đồng tiền
với vai trò thúc đẩy sản xuất, mở rộng giao lưu hàng hoá phải luôn ổn định, đủ
tín nhiệm cả đối ngoại lẫn đối nội và ngân hàng cần được tổ chức thành một hệ
thống, có mặt ở khắp nơi để kế toán, kiểm soát trên phạm vi toàn quốc, thực
hiện chức năng quản lý vĩ mô của ngân hàng đối với quá trình sản xuất, lưu
vì vậy, sự xuất hiện của các ngân hàng nước ngoài dưới hình thức chi nhánh
ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh giữa ngân hàng trong nước với
ngân hàng nước ngoài, trong giai đoạn đầu của quá trình mở cửa, là một xu
hướng phổ biến, giải quyết được những khúc mắc của các nhà đầu tư nước
ngoài, từ đó thu hút đầu tư nước ngoài. Hầu hết các nước đang phát triển khi
bước vào thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; hệ thống
ngân hàng còn chưa đủ mạnh, chưa đáp ứng được nhu cầu vốn cho sự phát triển
kinh tế. Vì thế, cần phải thực hiện hiệu quả việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Ngân hàng liên doanh được thành lập nhằm tạo ra một ngân hàng có sức mạnh
tổng hợp trên cơ sở khắc phục những yếu kém của ngân hàng trong nước, phát
huy thế mạnh của ngân hàng nước ngoài, góp phần cải thiện môi trường đầu tư
và tạo điều kiện cho việc đổi mới hệ thống ngân hàng tại các nước này.
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng liên doanh là một loại hình ngân hàng mà trong đó có sự tham
gia hợp tác liên doanh giữa ngân hàng thương mại trong nước với ngân hàng
nước ngoài trên cơ sở góp vốn để hình thành nên một ngân hàng thương mại
mới, có tư cách pháp nhân và hoạt động theo pháp luật của nước sở tại.
Qua khái niệm trên, ta thấy ngân hàng liên doanh có những đặc điểm như:
- Ngân hàng liên doanh được ra đời trên cơ sở hợp đồng liên doanh giữa
bên ngân hàng trong nước và bên ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng liên doanh
có tư cách pháp nhân và tồn tại độc lập với ngân hàng đã tham gia liên doanh
thành lập ra nó.
- Ngân hàng liên doanh có sự hợp tác kinh tế chặt chẽ giữa bên ngân hàng
trong nước với bên ngân hàng nước ngoài nhằm tiến hành các hoạt động kinh
doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Sự gắn bó chặt chẽ giữa các bên được thể
hiện qua các nội dung kinh tế như vốn, quản trị điều hành, phân chia lợi
nhuận…
- Ngân hàng liên doanh phần lớn là liên doanh hai bên trong đó một bên là
ngân hàng nước ngoài có uy tín và tầm cỡ trên thế giới với một bên là ngân hàng
giành được độc lập, hệ thống ngân hàng Inđônêxia còn yếu kém. Để thu hút vốn
từ bên ngoài, Chính phủ Inđônêxia đã cho phép các ngân hàng nước ngoài vào
hoạt động dưới một hình thức duy nhất là ngân hàng liên doanh trên cơ sở cùng
góp vốn liên doanh giữa các ngân hàng nước ngoài và ngân hàng thương mại
trong nước với tỷ lệ góp vốn khá chênh lệch bên ngân hàng thương mại
Inđônêxia 20% còn bên ngân hàng nước ngoài vào khoảng 80%. Do vậy, các
ngân hàng liên doanh với nước ngoài tại Inđônêxia được thành lập hầu hết vào
giai đoạn này. Từ cuối những năm 60 đầu những năm 70 cho đến cuối những
năm 80 và đến nay, nền kinh tế đã phát triển, các ngân hàng thương mại nội địa
Inđônênxia dần lớn mạnh, đáp ứng được nhu cầu dịch vụ ngân hàng của nền
kinh tế, Chính phủ Inđônêxia thực hiện chính sách hạn chế sự có mặt của các
ngân hàng liên doanh. Nhìn chung, sự điều chỉnh pháp luật đối với ngân hàng
liên doanh của Inđônêxia là điển hình của xu hướng “ thu hẹp dần”. Đây là xu
hướng mà ban đầu, việc cho phép thành lập các ngân hàng liên doanh rất rộng
rãi với nhiều ưu đãi… nhằm khuyến khích sự có mặt của các ngân hàng nước
ngoài tại nước sở tại, góp phần đẩy nhanh thu hút vốn tạo sức bật cho nền kinh
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế. Khi hệ thống ngân hàng thương mại trong nước đã phát triển vững mạnh thì
thắt chặt dần các quy định đối với ngân hàng liên doanh.
Ngược lại với xu hướng “thu hẹp dần” là xu hướng “ mở rộng dần”. Điển
hình của xu hướng này là Trung Quốc. Ngân hàng liên doanh với nước ngoài
xuất hiện tại Trung Quốc cùng với công cuộc mở cửa và được đánh dấu bằng Bộ
luật đầu tư và hợp tác giữa Trung Quốc và nước ngoài ngày 1/7/1979. Để
khuyến khích sự có mặt các ngân hàng nước ngoài tại Trung Quốc, ngay từ đầu
Chính phủ Trung Quốc cho phép các ngân hàng nước ngoài được hoạt động
dưới nhiều hình thức khác nhau, ngân hàng nước ngoài độc lập 100% vốn; chi
nhánh ngân hàng nước ngoài; ngân hàng liên doanh…Dưới những hình thức
này, đến nay tại Trung Quốc đã có mặt nhiều ngân hàng lớn có tầm cỡ của các
nước như: Mỹ, Anh…Ngân hàng liên doanh với nước ngoài tại Trung Quốc
ngân hàng nước ta cũng như sự vắng mặt của các ngân hàng nước ngoài đã trở
thành cản trở đối với nhiều dự án”. Trước yêu cầu đó, Hội đồng nhà nước đã ban
hành Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín
dụng và công ty tài chính tháng 5 năm 1990. Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính 1990 (sau đây gọi là Pháp lệnh Ngân hàng năm
1990) đã đưa ra mục tiêu cải cách hệ thống ngân hàng, định hướng rõ chính sách
và cơ chế nghiệp vụ cũng như về cơ cấu tổ chức của hệ thống ngân hàng, tạo lập
môi trường pháp lý cho hoạt động của các tổ chức tín dụng.
Một trong những mục tiêu của cải cách hệ thống ngân hàng là làm cho hệ
thống ngân hàng ngày càng đa dạng hơn để các tổ chức tín dụng đáp ứng được
tốt hơn với môi trường và hoàn cảnh kinh tế mới. Đây là cơ sở pháp lý và điều
kiện nền tảng cho sự ra đời của ngân hàng liên doanh. Lần đầu tiên khái niệm
“ngân hàng nước ngoài” và “ngân hàng liên doanh” được đưa ra trong Pháp lệnh
Ngân hàng năm 1990. Pháp lệnh này cũng dành toàn bộ chương V để điều chỉnh
những vấn đề cơ bản nhất đối với ngân hàng liên doanh với nước ngoài hoạt
động tại Việt Nam, phù hợp với Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, phù hợp
với các hình thức đầu tư trực tiếp của nước ngoài trong Luật đầu tư. Sau khi ban
hành Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990, ngày 15 tháng 6 năm 1991 Chính phủ
Việt Nam đã ban hành Quy chế về chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng
liên doanh hoạt động tại Việt Nam (ban hành kèm theo Nghị định 189/HĐBT
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ngày 15/6/1991) đã quy định chi tiết về việc cấp phép, khai trương nội dung và
phạm vi hoạt động, tài chính và hoạch toán, thay đổi gia hạn chấm dứt hoạt động
và thanh lý. Để chi tiết hoá hơn nữa, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư
178/NH-TT ngày 5/10/1991 hướng dẫn thực hiện quy chế về chi nhánh ngân
hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh hoạt động tại Việt Nam.
Có thể nói, Luật đầu tư và Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 là hai văn bản
pháp quy quan trọng nhất chi phối sự thành lập và hoạt động của ngân hàng liên
doanh giữa Việt Nam với nước ngoài tại Việt Nam.
Ngân hàng liên doanh Việt - Nga là ngân hàng liên doanh được thành lập
mới nhất trong gần 10 năm trở lại đây. Ngân hàng liên doanh Việt - Nga là ngân
hàng liên doanh giữa ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và ngân hàng
Ngoại thương của Nga với số vốn điều lệ là 10 triệu USD, trong đó ngân hàng
Đầu tư và Phát triển Việt Nam đóng góp 51% số vốn. Số vốn điều lệ dự kiến sẽ
được tăng lên 30 triệu USD. Ngân hàng liên doanh Việt - Nga đã khai trương
hoạt động vào ngày 19/11/2006, trụ sở chính được đặt tại Hà Nội.
Nhìn chung, sự ra đời của các ngân hàng liên doanh là hoàn toàn phù hợp
với đặc điểm kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, qua đó thực hiện mục
tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng
Việt Nam nói riêng dần hoà nhập vào thị trường thế giới và thị trường tài chính
quốc tế.
3.2. Vai trò của ngân hàng liên doanh tại Việt Nam
Sự xuất hiện của các ngân hàng liên doanh có ảnh hưởng quan trọng đến
việc phát triển kinh tế hàng hoá, thúc đẩy giao lưu hợp tác kinh tế, quốc tế.
Trước hết, sự xuất hiện của các ngân hàng liên doanh đã góp phần tạo ra môi
trường đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Ngày nay, khi đầu tư
vào một nước cụ thể các nhà đầu tư quan tâm đầu tiên là ở nước đó hệ thống
ngân hàng có đủ mạnh không? hỗ trợ gì cho họ? ngân hàng của nước họ đã có
mặt chưa? Môi trường đầu tư hấp dẫn sẽ thu hút được nguồn vốn ngoại tệ từ
nước ngoài, đáp ứng một phần nhu cầu vốn phát triển kinh tế trong nước. Sự có
mặt ngân hàng liên doanh với nước ngoài là đánh dấu một bước khởi đầu của
13
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thời kỳ tăng cường hợp tác kinh tế - quốc tế; tăng cường hợp tác kinh tế đối
ngoại.
Trong ngân hàng liên doanh, do bản chất là sự góp vốn kinh doanh tiền tệ
giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài nên ngân hàng trong nước
cũng được trực tiếp tham gia vào quản lý kinh doanh cùng bên nước ngoài, vì
vậy ngân hàng nước sở tại có điều kiện để học tập kinh nghiệm, quản lý, nghệ
doanh được quy định tại chương V: Chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân
hàng liên doanh tại Việt Nam.
Để cụ thể hơn các quy định pháp lý về ngân hàng liên doanh và khắc phục
những hạn chế không phù hợp của Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990, Nhà nước ta
đã ban hành Luật các TCTD để chỉnh sửa, bổ sung và phát triển thêm một bước
tiến mới các quy định về hệ thống ngân hàng. Luật các TCTD không trực tiếp và
chính thức đưa ra khái niệm về ngân hàng liên doanh mà chỉ gián tiếp thông qua
các nội dung của khái niệm ngân hàng, và định nghĩa tổ chức tín dụng, tổ chức
tín dụng nước ngoài.
Luật các TCTD quy định: Theo nhu cầu cần thiết cho sự phát triển kinh tế
xã hội của đất nước, Nhà nước cho phép thành lập tổ chức tín dụng liên doanh
(Khoản 2 Điều 12).
Theo Điều 20 của Luật các TCTD thì:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật
này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm
dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín
dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán;
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan;
Tổ chức tín dụng nước ngoài là tổ chức tín dụng được thành lập theo pháp
luật nước ngoài;
Nghị định 13/1999/ NĐ-CP ngày 17/3/1999 về tổ chức hoạt động của Tổ
chức tín dụng nước ngoài, văn phòng đại diện của tổ chức tín dụng nước ngoài
tại Việt Nam đã có những quy định cụ thể về khái niệm ngân hàng liên doanh.
Gần đây nhất, Chính Phủ đã ban hành Nghị định 22/2006/NĐ-CP ngày 28 tháng
2 năm 2006 về tổ chức và hoạt động của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân
hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, văn phòng đại diện tổ chức
tín dụng nước ngoài tại Việt Nam thay thế Nghị định 13 nói trên, quy định chi
trong ngân hàng liên doanh.
Tính chất sở hữu vốn của ngân hàng liên doanh, ngân hàng liên doanh là
một pháp nhân hoạt động và hạch toán độc lập nên ngân hàng liên doanh hoạt
động và chịu trách nhiệm về rủi ro trong phạm vi số vốn điều lệ tự có, mà không
phụ thuộc vào các ngân hàng tham gia thành lập ra nó. Các bên trong liên doanh
cùng sở hữu tài sản, cùng quản lý, phân chia lợi nhuận và cùng mạo hiểm rủi ro.
Tổ chức quản trị điều hành; ngân hàng liên doanh chịu sự quản lý và giám
sát của Ngân hàng Trung ương. Ngân hàng liên doanh có bộ máy quản lý chung
trong đó cơ quan lãnh đạo cao nhất là Hội đồng quản trị, tiếp theo là bộ máy
điều hành như Tổng giám đốc (Giám đốc), Ban kiểm soát…
Thời hạn hoạt động tối đa của ngân hàng liên doanh không quá 99 năm.
Khi có nhu cầu gia hạn thời hạn hoạt động, ngân hàng liên doanh nộp hồ sơ xin
gia hạn cho Ngân hàng Nhà nước trước khi thời hạn hoạt động kết thúc tối thiểu
là 180 ngày. Mỗi lần gia hạn tối đa bằng thời hạn hoạt động trước đó được quy
định trong giấy phép (Điều 11,12 Nghị định 22/2006/NĐ-CP).
Từ những phân tích trên đây có thể định nghĩa ngân hàng liên doanh tại
Việt Nam như sau: Ngân hàng liên doanh tại Việt Nam hiện nay là liên doanh
giữa ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam và ngân hàng nước ngoài trên
cơ sở góp vốn để hình thành nên một ngân hàng thương mại mới, có tư cách
pháp nhân và hạch toán kinh tế độc lập, hoạt động kinh doanh nhằm mục đích
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lợi nhuận, góp phần phát triển hệ thống ngân hàng trong nước, thúc đẩy các
quan hệ kinh tế - thương mại phát triển.
1.2. Tính chất pháp lý đặc thù của ngân hàng liên doanh tại Việt Nam
Ngân hàng liên doanh là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt
động kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù: kinh doanh tiền tệ. Do vậy, ngân hàng
liên doanh ở Việt Nam chịu sự điều chỉnh đồng thời của hai hệ thống văn bản
pháp luật: Các văn bản pháp luật về đầu tư và các văn bản pháp luật về ngân
hàng.
trực tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài. Nhà đầu tư nước ngoài có thể là tổ chức
kinh tế, cá nhân nước ngoài. Trong ngân hàng liên doanh nhà đầu tư nước ngoài
chỉ có thể là ngân hàng nước ngoài, chứ không phải bất kỳ một cá nhân, tổ chức
nào.
Việc hợp tác kinh doanh giữa các nhà đầu tư trong doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài được thực hiện trên tất cả các mặt kinh tế nhằm mục tiêu lợi
nhuận. Hoạt động kinh doanh chính của ngân hàng liên doanh là hoạt động ngân
hàng, hoạt động huy động vốn để cho vay.
Cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài là Bộ kế hoạch và đầu tư. Do tính chất đặc thù của ngân hàng liên
doanh nên cơ quan quản lý nhà nước đối với ngân hàng liên doanh là Ngân hàng
Nhà nước.
1.3.2. Sự khác nhau giữa ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng
nước ngoài
Ngân hàng liên doanh là ngân hàng được thành lập trên cơ sở hợp đồng
liên doanh, bằng vốn góp của bên Việt Nam (gồm 1 hoặc nhiều ngân hàng nước
ngoài) và bên nước ngoài (gồm một hoặc nhiều ngân hàng nước ngoài).
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài là đơn vị phụ thuộc của ngân hàng nước
ngoài, hoạt động theo giấy phép mở chi nhánh và được ngân hàng mở chi nhánh
bảo đảm chịu trách nhiệm đối với mọi nghĩa vụ và cam kết của chi nhánh.
Trong ngân hàng liên doanh mối quan hệ giữa ngân hàng nước ngoài và
ngân hàng Việt Nam rất chặt chẽ gắn bó trong một pháp nhân chung. Giữa
những ngân hàng tham gia liên doanh nảy sinh những ràng buộc về vốn, phân
chia kết quả kinh doanh và quản lý hoạt động ngân hàng, chịu trách nhiệm về rủi
19
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ro. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài với tư cách là đơn vị phụ thuộc của ngân
hàng nước ngoài nên không có tư cách một chủ thể độc lập mà theo chế độ ủy
quyền của ngân hàng nước ngoài. Đối với chi nhánh ngân hàng nước ngoài,
nước sở tại không phải bỏ vốn, không phải chia sẻ rủi ro. Do các khoản rủi ro
thiết phải bảo đảm an toàn cho hoạt động của ngân hàng liên doanh nên ở nước
ta các quy định của pháp luật về điều kiện thành lập một ngân hàng liên doanh
được quy định khá chặt chẽ. Trước khi Luật các TCTD có hiệu lực thi hành thì
quy trình thành lập một tổ chức tín dụng ở nước ta có sự tách biệt giữa hai khâu:
cấp giấy phép thành lập và cấp giấy phép hoạt động. Để đơn giản hoá các thủ
tục hành chính, tránh sự chồng chéo phiền hà trong việc cấp phép thành lập, giấy
phép hoạt động cho các tổ chức tín dụng, đồng thời nâng cao vai trò và trách
nhiệm quản lý của Ngân hàng Nhà nước, Luật các TCTD đã quy định thống
nhất thành một khâu cấp phép là cấp giấy phép thành lập và hoạt động.
Theo Nghị định 22/2006/NĐ-CP quy định các điều kiện để được cấp giấy
phép thành lập và hoạt động ngân hàng liên doanh (Khoản 1 và 3 Điều 8) là:
- Ngân hàng nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định về
hoạt động ngân hàng và các quy định pháp luật khác của nước nguyên xứ trong
vòng 3 năm gần nhất liền kề trước khi xin cấp giấy phép;
- Ngân hàng nước ngoài có kinh nghiệm hoạt động quốc tế, được các tổ
chức xếp loại tín nhiệm quốc tế xếp hạng ở mức có khả năng thực hiện các cam
kết tài chính và hoạt động bình thường ngay cả khi tình hình, điều kiện kinh tế
biến đổi theo chiều hướng không thuận lợi;
- Ngân hàng nước ngoài đạt được tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, các tỷ lệ bảo
đảm an toàn theo thông lệ quốc tế;
- Cơ quan giám sát, thanh tra có thẩm quyền của nước nguyên xứ có khả
năng giám sát toàn bộ hoạt động của ngân hàng nước ngoài trên cơ sở tổng hợp
theo thông lệ quốc tế; có cam kết hợp tác quản lý, giám sát hoạt động và trao đổi
thông tin với Ngân hàng nhà nước;
- Có nhu cầu hoạt động ngân hàng trên địa bàn xin hoạt động;
- Có vốn quy định tại Điều 83 Luật các TCTD (Điều 83: Mức vốn pháp
định do Chính phủ quy định. Theo Nghị định 141/2006/NĐ-CP ngày
21
Website: Email : Tel : 0918.775.368
22/11/2006 về ban hành danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng;
Website: Email : Tel : 0918.775.368
dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; Bảng cân đối tài chính, bảng kết quả
lãi, lỗ đã được kiểm toán và báo cáo tình hình hoạt động 3 năm gần nhất của tổ
chức tín dụng nước ngoài; Hợp đồng liên doanh đối với tổ chức tín dụng liên
doanh; Họ tên của Tổng giám đốc (Giám đốc) tổ chức tín dụng liên doanh
(Khoản 1 Điều 108 Luật các TCTD). Hồ sơ xin cấp giấy phép của ngân hàng
nước ngoài, tổ chức tín dụng nước ngoài phải lập thành 2 bộ, 1 bộ bằng tiếng
Việt và 1 bộ bằng tiếng nước ngoài thông dụng. Bộ hồ sơ bằng tiếng nước ngoài
thông dụng phải được hợp pháp hóa lãnh sự. Các bản sao tiếng Việt và các bản
dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt phải được cơ quan công chứng Việt Nam
xác nhận theo quy định của pháp luật về công chứng (Khoản 1 Điều 9 Nghị định
22/2006/NĐ-CP).
Các quy định của pháp luật về điều kiện được cấp giấy phép và hồ sơ xin
cấp giấy phép thành lập và hoạt động ngân hàng liên doanh được quy định ngày
càng chặt chẽ, khoa học hơn nhằm mục đích bảo đảm an toàn trong hoạt động
kinh doanh cho các ngân hàng liên doanh, hạn chế những nguy cơ tiềm ẩn gây
thiệt hại đến lợi ích của xã hội, gây mất an toàn đối với hệ thống các tổ chức tín
dụng và có ảnh hưởng nhất định đến chính sách tiền tệ quốc gia đồng thời vẫn
đảm bảo vai trò quản lý của các cơ quan Nhà nước.
Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ xin cấp giấy
phép, Ngân hàng Nhà nước cấp hoặc từ chối cấp giấy phép. Trong trường hợp từ
chối cấp giấy phép, Ngân hàng Nhà nước có văn bản giải thích lý do. Ngân hàng
liên doanh sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải nộp lệ phí
cấp giấy phép theo quy định của Bộ Tài chính.
Sau khi được cấp giấy phép, ngân hàng liên doanh phải đăng ký kinh
doanh theo quy định của pháp luật. Nếu như việc cấp giấy phép thành lập và
hoạt động là xác nhận sự ra đời của ngân hàng liên doanh thì việc đăng ký kinh
doanh chính là thủ tục pháp lý xác nhận ngân hàng liên doanh là chủ thể pháp lý
độc lập có đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về phần vốn pháp định: Theo quy định tại Mục c Khoản 1 Điều 28 Luật
những vấn đề quan trọng nhất của ngân hàng liên doanh. Hội đồng quản trị có
tối thiểu là 3 thành viên gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và thành viên. Số lượng
thành viên Hội đồng quản trị do các bên tham gia liên doanh quyết định trên cơ
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sở số vốn góp của Bên nước ngoài và Bên Việt Nam trong ngân hàng liên
doanh, và theo nguyên tắc: Nếu liên doanh có 2 bên thì mỗi bên có ít nhất 2
thành viên Hội đồng quản trị; nếu liên doanh có nhiều bên thì mỗi bên có ít nhất
một thành viên Hội đồng quản trị; nếu liên doanh có nhiều bên mà chỉ có một
bên Việt Nam hoặc một bên nước ngoài thì bên đó ít nhất có 2 thành viên Hội
đồng quản trị. Thành viên Hội đồng quản trị là những người có uy tín, đạo đức
nghề nghiệp và hiểu biết về hoạt động ngân hàng và không thuộc các đối tượng
quy định tại Điều 40 Luật các TCTD. Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị không
quá 5 năm.
Đứng đầu Hội đồng quản trị là Chủ tịch Hội đồng quản trị do các bên liên
doanh thoả thuận cử ra và phải được Thống đốc Ngân hàng nhà nước chuẩn y.
Chủ tịch Hội đồng quản trị không được đồng thời là Tổng giám đốc (Giám đốc)
hoặc Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) của ngân hàng liên doanh và không
được phép tham gia quản trị hoặc điều hành tổ chức tín dụng khác, trừ trường
hợp tổ chức đó là công ty con của ngân hàng liên doanh.
Như vậy, Hội đồng quản trị đại diện cho những chủ sở hữu là các bên
ngân hàng tham gia liên doanh, chịu trách nhiệm quản lý tài sản và hoạt động
kinh doanh của ngân hàng liên doanh.
Ngân hàng liên doanh được đặt dưới quyền điều hành của Tổng giám đốc
(Giám đốc). Tổng giám đốc (Giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của
ngân hàng liên doanh (trừ trường hợp Điều lệ ngân hàng liên doanh có quy định
khác), chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị. Tổng giám đốc (Giám đốc) của
ngân hàng liên doanh không kiêm nhiệm chức danh Tổng giám đốc (Giám đốc)
hoặc chủ tịch Hội đồng quản trị của tổ chức tín dụng khác (trừ trường hợp đó là
công ty con của ngân hàng liên doanh)