Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
Phần 4: Kinh nghiệm châu thổ
sông Hồng
LỊCH SỬ ĐÊ ĐIỀU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG
Con người đã sống ở Đồng bằng sông Hồng từ thời Đồ Đá Củ cách đây khoảng 25
ngàn năm. Canh tác lúa nước được phát triển vào thời Đồ Đá Mới trong nền văn
hóa Hòa Bình - Bắc Sơn, cách đây khoảng 9 ngàn năm. Ước vọng chế ngự lũ lụt ở
Đồng bằng sông Hồng của dân Lạc Việt được thi vị hóa qua huyền thoại Sơn Tinh
thắng Thủy Tinh. Hệ thống đê sông ở Châu thổ sông Hồng Việt nam đã có lịch sử
trên 2 ngàn năm.
Theo Giao Châu Ký của Trung Hoa, thì khoảng 3 thế kỷ trước công nguyên
ở Giao Châu đã có đê lớn “Ở huyện Phong Khê có đê bảo vệ nước lũ từ Long
Môn” (Sông Đà bây giờ). Theo Hán Thư thì “Miệt tây bắc Long Biên (tức Hà Nội)
có đê chống giữ nước lũ từ sông” (2).
Trong sách lịch sử Việt Nam, đê được nói đến đầu tiên là vào khoảng năm
521 dưới thời Lý Bí (tức Lý Bôn). Tuy nhiên, người có công và được nhắc nhở
nhất là Cao Biền, giữa thế kỷ thứ 9: “Sử chép rằng Cao Biền đào sông, khơi ngòi,
mở đường lộ, lập quán trọ cho khách đi đường trên khắp An Nam. Nhiều đoạn đê,
nhất là đoạn đê trên vùng gần Hà Nội hiện nay được đắp để chống lụt lội” (8).
Cao Biền ra lệnh dân thiết lập đê quanh thành Đại La với tổng số chiều dài 8,500
thước, cao 8 thước (2).
Đê Cơ Xá là con đê đầu tiên được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây
dựng vào tháng 3 năm Mậu Tý (1108) để bảo vệ kinh thành Thăng Long khỏi
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
ngập lụt (18)). Nhà vua ra lệnh đắp đê trên sông Như Nguyệt (Sông Cầu bây giờ)
dài 30 km (2).
Dưới đời nhà Trần, những con đê được đắp chỉ cốt giữ cho nước lũ không
tràn vào đồng ruộng để kịp làm vụ lúa chiêm, sau khi mùa màng thu hoạch xong
thì nước được tự do tràn vào đồng ruộng. Tháng 3 năm Mậu Thân (1248), vua
hư hỏng thì phải sửa chửa lại” (18).
Nguyễn Công Trứ (1778-1858) đã có công khẩn hoang vùng duyên hải
Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương. Ông đi kinh lý khắp bải bồi vùng duyên hải, tự
vẽ bản đồ, phân phát trâu bò, nông cụ cho dân để khẩn hoang. Chỉ trong 2 năm
(1828 - 1829), Ông lập ra 2 huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình)
cùng hai tổng Hoàng Thu và Minh Nhất (ven bờ biển Thái Bình, Ninh Bình), khai
khẩn tổng cộng được 37,770 ha đất. Đây là vùng đất bồi, hàng năm tốc độ phù sa
bồi tụ tiến ra biển từ 80 - 100 m. Từ đó, cứ sau 20-30 năm, đê biển mới được xây
đắp lấn ra biển. Đến nay, 178 năm sau, Kim Sơn đã tiến hành quai đê lấn biển sáu
lần, tiến ra biển hơn 500 m, nhờ vậy diện tích hiện nay gấp gần 3 lần so với khi
mới thành lập (24, 31).
Ngoài ra, từ trước năm 1837, Nguyễn Công Trứ đã đề xuất giải pháp phân
lũ bằng cách khai đào đoạn khởi đầu sông Đuống (tức sông Thiên Đức thời bấy
giờ) nối với sông Hồng ở phía thượng lưu để chuyển nhận nước từ sông Hồng giải
tỏa áp lực lũ ở vùng Hà Nội. Nhưng phải sang thời Tự Đức ý tưởng đó mới được
thực hiện một phần và được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp thuộc. Từ đó, sông
Đuống trở thành đường thoát lũ quan trọng nhất của sông Hồng (28). Hệ thống đê
sông và đê biển được hoàn chỉnh thêm trong thời Pháp đô hộ và sau này.
Tính đến nay (2006), hệ thống đê sông Hồng khu vực quanh Hà Nội được
nâng cấp tương đối hoàn chỉnh, dài tổng cộng khoảng 60 km. Dự án này thực hiện
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
từ năm 1996, kết thúc năm 2002, nhờ nguồn vốn vay của ngân hàng ADB. Một số
đoạn đê khác đã có đường hành lang hai bên thân đê, mặt đê được cứng hóa bằng
nhựa hoặc bê tông (1, 28).
Dưới thời quân chủ, phá hủy hay làm hư hại đê là một trọng tội. Năm nào
có thiên tai, lũ lụt nặng, chính nhà vua lập đàn chay tạ tội, nhận trách nhiệm cùng
trời đất.
ĐỒNG BẰNG SÔNG HỒNG VÀ NGUYÊN NHÂN LŨ LỤT
Đồng bằng Sông Hồng bắt đầu được thành lập vào thời Holocene, cách đây
Địa hình thượng lưu các sông gồm các vùng đồi núi với độ dốc lớn nên
nước mưa đỗ nhanh chóng xuống vùng đồng bằng. Mỗi khi có mưa to, vùng đồng
bằng Sông Hồng nhận nước lũ từ hai hệ thống Sông Hồng và Sông Thái Bình. Hệ
thống Sông Hồng bao gồm Sông Đà, Sông Hồng, Sông Thao nhập lưu tại Việt Trì,
và hệ thống Sông Thái Bình gồm các nhánh chính là Sông Cầu, Sông Thương,
sông Lục Nam nhập lưu tại Phả Lại.
Ngoài nguyên nhân chính là các trận mưa bão ở miền thượng lưu, nạn phá
rừng trầm trọng ở đầu nguồn (thảm rừng chiếm 95% năm 1943, chỉ còn 17% năm
1991), cũng như ở đồng bằng (từ 55% năm 1943 còn 29% năm 1991) (17); hệ
thống đê đập còn nhiều nhược điểm, hệ thống thoát lũ và thoát nước thải thành
phố yếu kém (16), và đô thị hóa nông thôn hiện nay làm trầm trọng lũ lụt ở Đồng
Bằng Sông Hồng.
Khu trung tâm của vùng ĐBSH rất bằng phẳng, phần lớn nằm ở độ cao từ
0,4 m đến 12 m trên mực nước biển, với 56% có độ cao thấp hơn 2 m. Tuy nhiên
cũng có những khu vực đất cao, gồm các đồi đá vôi, các đỉnh núi nhọn và những
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
dãy đồi núi dọc theo hai cánh tây-nam và đông-bắc của vùng. Phần lớn vùng đất
của đồng bằng sông Hồng được 2 loại đê bão vệ: khoảng 3,000 km đê ngăn lũ của
hệ thống sông, và 1,500 km đê biển ngăn sóng lớn của các cơn bão ở vịnh Bắc
Việt (27). Tuy nhiên, đa số các trung tâm đông dân cư đều nằm dưới mực nuớc lũ
Sông Hồng. Vì vậy khi mưa quá to và nước lũ phá vỡ đê làm nhiều nguời thiệt
mạng (16).
Đồng bằng sông Hồng nằm trong 8 tỉnh hay thành phố. Mật độ dân cư ở
đồng bằng châu thổ sông Hồng cao nhất Việt Nam (1,179 người/km²). Tổng dân
số của vùng là 17,649,700 người (2003) (27).
Đồng bằng châu thổ sông Hồng do phù sa của 2 sông chính bồi đắp là sông
Hồng và sông Thái Bình.
SÔNG HỒNG
nhất gây lụt 1971) (17). Lưu lượng nước bình quân hàng năm 2,640 m³/s (tại cửa
sông), tuy nhiên lưu lượng nước phân bố không đều. Về mùa khô lưu lượng giảm
chỉ còn khoảng 700 m³/s, nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30,000 m³/s.
(29). Mực nước lũ cao nhất là 14.13 m tại Hà Nội, nhưng vào mùa khô, mức thấp
nhất là 1.5 m tại Hà nội (13). Nước sông hạ thấp trung bình 9 cm/giờ khi lũ rút
(22). Lưọng phù sa trung bình khoảng 80 triệu m
3
, tương đương với 130 triệu tấn
(19). Năm 1971, năm lũ lớn của thế kỷ, có lượng phù sa tới 202 triệu tấn (17).
Trong mùa lũ, mỗi mét khối nước chứa khoảng 1.5 kg phù sa làm nước sông có
màu đỏ hồng (29). Vì nạn phá rừng và đất bị xoi mòn ở thượng nguồn, lượng phù
sa có khuynh hướng gia tăng. Chẳng hạn, tại trạm Yên Bái trong thời kỳ từ 1961-
1970, lượng phù sa là 1,780 g/m
3
đã tăng lên 1,820 g/m
3
trong thời kỳ 1981-1993.
Tương tự tại trạm Bảo Yến lượng phù sa đã tăng từ 997 g/m
3
trong thời kỳ 1983-
1989 đến 1,250 g/m
3
vào 1990-1993 (11). Chỉ 5% số phù sa (khoảng 26 triệu tấn)
lắng đọng suốt chiều dài dòng chảy làm lòng sông cạn dần, còn bao nhiêu (khoảng
trên 100 triệu tấn) đều được đưa ra vịnh Bắc Việt bồi đắp dọc biển làm cho đồng
bằng châu thổ sông Hồng lấn biển mỗi năm có nơi thêm 100 m (19). Để phòng lũ
lụt, ngưòi Việt đã đắp đê ngăn nước tràn vào làng mạc ruộng đồng. Chỉ riêng sông
Hồng, chiều dài đê tổng cộng là 1,660 km (19).
Trong 3 nhánh của sông Hồng, sông Đà và sông Thao có lưu vực xấp xỉ
như nhau (sông Đà: 52,900 km
đồi trọc miền Đông Bắc, đất đai bị xói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm
lượng phù sa cao. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy cạn nên sông Thái Bình
là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất. Lưu lượng nước hàng năm đạt
khoảng 53 tỷ m³ (30).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
Hệ thống sông Thái Bình ra biển Đông với các cửa: (i) Cửa Thái Bình của
sông Thái Bình, nằm giữa hai tỉnh Thái Bình và Hải Phòng; (ii) Cửa Văn Úc, trên
sông Văn Úc (dài 38 km) Hải Phòng; (iii) Cửa Lạch Tray, trên sông Lạch Tray
(dài 43 km), Hải Phòng; (iv) Cửa Cấm, trên sông Cấm (dài 37 km), Hải Phòng; (v)
Cửa Nam Triệu, trên sông Bạch Đằng (dài 42 km), nằm giữa hai tỉnh Quảng Ninh
và Hải Phòng; (vi) Cửa sông Chanh, Quảng Ninh (27).
Ở Vịnh Bắc Việt, trung bình cứ 20 km đường bờ biển thì có một cửa sông
lớn. Lượng cát bùn lớn vào mùa lũ, chiếm tới 75- 85 % lượng dòng chảy cả năm
tạo các bải bồi và lấn biển.
HỆ THỐNG CHỐNG LŨ LỤT
Ở Đồng Bằng Sông Hồng, hệ thống chống lũ lụt gồm (i) thiết lập đê sông, đê biển,
(ii) hồ chứa nước ở thượng nguồn, (iii) hệ thống phân lũ thoát nước, (iv) thiết lập
các vùng chặn lũ xung quanh Việt Trì và Phả Lại, và (v) hệ thống báo động.
Hệ thống đê sông: Hiện tại, tổng số chiều dài hệ thống đê sông trong vùng đồng
bằng Sông Hồng là 3,000 km, gồm 2,417 km đê thuộc Bắc Bộ, và 420 km ở các
sông vùng Thanh - Nghệ. Hệ thống sông Hồng có 1,667 km đê, và 750 km đê
thuộc hệ thống sông Thái Bình. Hệ thống đê sông Hồng có quy mô lớn và hoàn
thiện hơn so với các hệ thống đê còn lại. Các đê sông thường có độ cao không quá
10 m (3). Chiều cao trung bình của đê sông từ 6-8 m, có nơi lên đến 11 m. Tuy
nhiên hệ thống đê được xây dựng đã lâu đời trên nền đất yếu, đất đấp đê cũng lấy
từ địa phương và không đồng nhất, nhiều nơi bị hư hại vì thiếu bảo quản. Nhiều kè
cống rất củ kỳ. Dọc theo đê còn có nhiều ao hồ làm nước lũ khó thoát. Dân cư quá
đông đúc sống kế cận bờ đê. Ngày nay, nhiều nhà cửa xây cất ngay trên bờ đê. Vì
vậy đê có thể bị vỡ bất cứ lúc nào trong mùa lũ lớn.
2
, dân số khoảng 2 triệu,
nếu tính cả ngoại ô là 3 triệu (13).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long Đê sông Hồng
Trong thời nhà Nguyễn, người Hoa ở vùng Hà Nội xin phép nhà vua để họ
đắp kè lấp đá cho một số đê dọc sông Hồng nơi họ cư trú.
Năm 1885 mưa bão lớn làm sụt lở bờ sông sát Đồn Thuỷ. Người Pháp đổ
kè đá ở bên ngoài bờ sông Hồng chỗ Hàng Than dài 400 m để hướng dòng chảy
về phía Gia Lâm (19).
Trận lụt năm 1926, Hà nội bị ngập lụt nặng, vì lúc đó chưa có đoạn đê dọc
đường Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải ngày nay (4). Người Pháp đắp đê này
đồng thời củng cố cả hệ thống đê Hà Nội, có nơi cao 14 m.
Sau biến cố vỡ đê năm 1971, nhiều biện pháp mới được ban hành, ngoài
việc tăng cường hệ thống đê, còn lập hồ chứa nước và phân lũ. Khi mực nước
sông Hồng tại Hà Nội đến mức báo động 13.4 m, thì dòng nước sông Hồng ở đầu
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
nguồn được xả vào Hà Tây, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Nam và Nam Định. Việc
tháo nước phân lũ vào sông Đáy do Thủ Tướng quyết định vì có ảnh hưởng đến
khoảng 675,000 dân chúng, và chính phủ bồi thường thiệt hại.
Ngày nay, hệ thống đê dọc sông Hồng bảo vệ Hà Nội dài 61 km được nâng
cấp tương đối hoàn chỉnh. Dự án này thực hiện từ năm 1996, kết thúc năm 2002,
nhờ nguồn vốn vay của ngân hàng ADB. Một số đoạn đê khác đã có đường hành
lang hai bên thân đê, mặt đê được cứng hóa bằng nhựa hoặc bê tông (1, 28). Ngoài
ra, Hà Nội có hơn 40 hồ lớn và sâu, chưa kể ao, có khả năng giảm lũ khi có mưa
lớn.
1. Hồ Thác Bà trên sông Chảy để làm thủy điện, đưa vào vận hành từ năm 1972,
có dung tích chứa lũ là 460 triệu m
3
, điều tiết khoảng 6 % lưu lượng nước sông
Hồng tại Sơn Tây.
2. Hồ Hoà Bình trên sông Đà, diện tích 208 km
2
, đưa vào vận hành từ năm 1988,
có dung tích chứa lũ 5,720 triệu m
3
, và điều tiết khoảng 48% lưu lượng xả tại Sơn
Tây. Đập Hoà Bình được ước tính có thể giảm đĩnh lũ năm 1971 tại Hà Nội chừng
1.5 m (3).
3. Hồ Đại Thị trên sông Gầm tỉnh Tuyên Quang vận hành vào năm 2007, với dung
tích chứa lũ là 1,600 triệu m
3
, điều tiết 9 % lưu lượng tại Sơn Tây.
4. Ngoài ra, hồ Sơn La trên sông Đà tại tỉnh Sơn La, thượng nguồn hồ Hoà Bình
và cách hồ Hoà Bình khoảng 187 km, sẽ được đưa vào vận hành năm 2015, với
dung tích chứa lũ là 4,500 triệu m
3
và điều tiết 46% lưu lượng xả tại Sơn Tây.
Với 4 hồ chứa khi đưa vào vận hành, tổng dung tích chứa lũ sẽ tăng lên,
làm cho mức an toàn trong vùng đồng bằng tăng đáng kể. Tổng dung tích chứa lũ
sông Đà khi vận hành hồ Sơn La được xác định ở mức 7 tỷ m
3
và được chia giữa
hồ Sơn La và hồ Hoà Bình (6).
Tất cả các hồ chứa nói trên đều là hồ đa mục đích (thủy điện, thủy nông).
Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hay Ninh
Cơ), nối sông Hồng và sông Đáy là hai sông Phủ Lý và sông Nam Định. Vùng
chậm lũ Vân Cốc nằm ở thượng nguồn đập Đáy. Nếu khi nước sông Hồng sắp tràn
bờ thấp ở cống Vân Cốc; và nếu tiếp tục tăng cao thì có thể mở đập Đáy cho nước
tràn vào sông Đáy. Sông Đáy có thể rút lấy nước lũ sông Hồng với 5,000 m
3
/giây
(6).
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
Ngoài ra, thông qua sông Tích, nước từ sông Đà có thể được dẫn trực tiếp
vào sông Đáy.
Tạo các vùng phân chậm lũ
Trong trường hợp mực nước sông Hồng tại Hà Nội tiếp tục vượt quá mức báo
động 13.4 m thì tháo cống đê, hoặc cho nổ mìn đê sông Hồng để cho nước chảy
vào một số vùng thấp gần Việt Trì, như Tam Thanh ở tỉnh Phú Thọ, Lập Thạch ở
tỉnh Vĩnh Phúc, Lương Phú và Quảng Oai ở huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, và dọc theo
sông Đáy, như Chương Mỹ, Mỹ Đức, hoặc gần Phả Lại thuộc tỉnh Thái Bình.
Tổng dung tích chứa lũ của các vùng này ước tính vào khoảng 3 tỷ m
3
(3, 6).
TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ DỰ BÁO LŨ
Từ thời xa xưa, quản lý đê điều do Hà Đê Chánh Sứ (tương tự chức Bộ Trưởng
bây giờ) của triều đình do vua bổ nhiệm. Cấp thừa hành thấp nhất là làng xả, có
nhiệm vụ bảo trì, báo cáo lên cấp trên, những vấn đề thuộc đê điều trong phạm vi
làng xả của mình. Ngày nay, quản lý bậc cao nhất là Thủ Tướng, các vị bộ trưởng
liên hệ (Nông nghiệp, Giao Thông, v.v.) ở cấp quốc gia, tới cấp tỉnh (hay thành
phố), huyện và làng xả. Mỗi xã đều có một đội quản lý đê xuống đến tận
thôn/xóm. Các đội quản lý đê này được các kỹ sư thuỷ lợi huyện tư vấn và hỗ trợ
về mặt kỹ thuật (3).
Sơn Tây phía hữu ngạn sông Hồng khi mực nước Hà Nội là 11.11m. Ngày 18
tháng 8, vỡ đê Nghĩa Lộ phía hữu ngạn thuộc tỉnh Hà Nam, khi mực nước Hà Nội
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
11.03 m. Ngày 19 tháng 8, vỡ đê Quang Thừa, Lỗ Xá sông Đáy phía hữu ngạn
thuộc tỉnh Hà Nam, khi mực nước Hà Nội 10.99 m. Nước lũ làm ngập gần hết tỉnh
Vĩnh Phúc (cũ), một phần Hà Tây, Nam Định, Hà Nam, Thái Bình và Bắc Ninh
(28).
Năm 1915, từ ngày 11 đến 20 tháng 8: Đê bị vỡ liên tiếp 42 chỗ với tổng
chiều dài 4,180 m (từ 11 - 20/7/1915 khi mực nước Hà Nội dao động từ 11.55 –
11.64 m). Những nơi vỡ chính như: Xâm Dương, Xâm Thị đê hữu sông Hồng
thuộc tỉnh Hà Đông. Các chỗ vỡ khác như Lục Cảnh, Hoàng Xá, Trung Hà tỉnh
Phúc Yên; Phi Liệt, Thuỷ Mạo tỉnh Bắc Ninh. Đê tả sông Hồng, vỡ ở: Mễ Chân
tỉnh Hưng Yên; Gia Quất, Gia Thượng, Phú Tòng, Yên Viên, Đông Thụ, Danh
Nam tỉnh Bắc Ninh và một số chỗ khác trên sông Phó Đáy, Đuống và sông Đáy
(28).
Năm 1926, ngày 29 tháng 7, khi mực nước Hà Nội lên tới 11.93 m thì vỡ
đê tả ngạn sông Hồng vùng Gia Quất, Ái Mộ, Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh; vỡ đê hữu
ngạn sông Luộc tại Hạ Lao, Văn Quán tỉnh Thái Bình; vỡ đê tả ngạn sông Luộc tại
Bô Dương, tỉnh Hải Dương. Tổng diện tích đất canh tác bị ngập lụt do vỡ đê
khoảng 100,000 ha (28). Hà nội lúc này chưa đắp đê cao như hiện nay nên lũ sông
Hồng uy hiếp trực tiếp Thành phố Hà Nội. Kể từ đây đê được nâng cao lên 14 m.
Nhiều tuyến đê được nắn lại, hai sườn đê được đắp không đối xứng đảm bảo
chống chịu nước lũ tốt hơn (19).
Năm 1945. Một trận lũ lớn vào tháng 8 năm 1945 gây vỡ đê tại 79 điểm,
gây ngập 11 tỉnh với tổng diện tích 312,000 ha, ảnh hưởng tới cuộc sống của 4
triệu người (28)
Năm 1971, ảnh hưởng những trận mưa to liên tục và một cơn bão lớn, nước
trên sông Thao, sông Lô và sông Đà đã hợp lại gây nên cơn lũ lịch sử của đồng
bằng sông Hồng. Mực nước sông Hồng ngày 20 tháng 8 lên đến 14.13 m ở Hà Nội
tuyến. Tuyến sông Nhuệ và Duy Tiên (Hà Nam) có tổng cộng 6,000 m đê bị tràn.
Điểm Châu Can, Bạch Hạ, Đại Xuyên bị sụt. Tại Ninh Bình đê trên sông Hoàng
Long bị vỡ, hàng ngàn nhà ở Nho Quan bị ngập lụt (22).
Tổng số người chết ở Miền Bắc là 92, riêng Hà Nội 22 người, thiệt hại kinh tế lên
đến gần 5,000 tỷ đồng. Mưa lũ kéo dài cũng khiến cho khoảng 169 km đê nội
đồng kênh mương hư hỏng; hơn 266,000 ha diện tích hoa màu và thủy sản bị ngập
úng; hàng trăm nghìn nhà cửa bị sập đổ và hư hại (21).
TẠI SAO HÀ NỘI BỊ LỤT?
Trận lũ tháng 11/2008 tại Hà Nội và đồng bằng sông Hồng không lớn lắm.
Mặc dầu mưa to gió lớn liên tục trong ba ngày, mực nước sông tại Hà Nội vẫn
dưới mức báo động, hệ thống đê sông Hồng và Thái Bình vẫn vửng chắc, không bị
phá vở nhiều nơi như trận lụt năm 1971. Các hồ chứa và biện pháp phân lũ cũng
như hệ thống đê chứng tỏ có hiệu quả. Tuy nhiên, Hà Nội và nhiều thành phố lớn
khác ngập trong biển nước trong nhiều ngày. Lý do của việc thất bại bảo vệ thủ đô
Hà Nội là do:
(i) Xây cất nhà cửa, chiếm cứ đất đai trên mặt đê làm đê
yếu, rạn nức khoảng 40 địa điểm (25).
(ii) Đường sá phát triển và nhà cửa xây cất vô trật tự cản
trở thoát nước.
(iii) Các hồ trong thành phố cạn, thiếu nạo vét, hệ thống
phân lưu quá tải và tắt nghẻn, nhiều kinh mương và hồ bị lấp nên
thiếu đường thoát nước
(iv) Hệ thống tháo nước của thành phố quá yếu kém, chỉ cần
một trận 100 mm là có nhiều vùng bị ngập, nếu mưa 200 mm là
Thử tìm giải pháp thủy lợi cho đồng bằng sông Cửu Long
nguyên thành phố bị ngập. Tổng số nước mưa tại Hà Nôi trong
ngày 31/10 và 1/11 hơn 600 mm, dĩ nhiên ngập lụt xảy ra do
mưa, chứ không phải do vỡ đê. Hơn 90% máy bơm không chạy
Mười sáu năm sau, vào ngày 5 tháng 10 năm Tự Đức thứ 6 (1861), Khoa
đạo Ngự sử Vũ Văn Bính lại dâng bản điều trần nói về cái hại của việc giữ đê và
cái lợi của việc bỏ đê. Bản điều trần này lặp lại ý kiến của Tổng đốc Nguyễn Đăng
Giai năm 1846. Nguyễn Trường Tộ (1830–1871) cũng chủ trương phá đê, mà phải
khai thông sông và đào kinh.
Vua Tự Đức triệu tập một hội nghị lớn thẩm nghị bản điều trần này và tất
cả đều cho rằng không nên bỏ đê, và cần khơi thông sông Thiên Đức, củng cố hệ
thống đê cũ còn lại ở hai bờ sông (12).
Khoảng 6 văn bản điều trần của các quan ở triều đình và địa phương hiện
còn lưu trữ tại khu Lưu trữ TƯ 2, dưới ký hiệu tập CB.262, trang 47-70. (12).
Không ai có thể phủ nhận lợi ích của hệ thống đê sông và đê biển ở Đồng bằng
sông Hồng.