TÂM THẦN PHÂN LIỆT – PHẦN 3
VI. CHẨN ĐOÁN
Mặc dù không xác định được các triệu chứng đặc trưng của bệnh một cách
chặt chẽ, nhằm mục đích thực tiễn, cần chia các triệu chứng nói trên thành từng
nhóm có phần quan trọng đặc biệt đối với chẩn đoán. Theo phân loại chẩn đoán
quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) có 09 nhóm triệu chứng sau:
1. Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắpvà tư duy bị phát
thanh.
2. Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ rệt
với vậ động thân thể hoặc có những liên quan với ý nghĩ, hành vi hay cảm giác đặc
biệt .
3. Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo
luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất hiện từ một bộ phận
nào đó của cơ thể.
4. Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hoá và
hoàn toàn không thể có được như tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị hoặc
những khả năng về quyền lực siêu nhân (ví dụ: có khả năng điều khiển thời tiết
hoặc đang tiếp xúc với những người của thế giới khác).
5. Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua
hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm ý tưởng quá
đáng dai dẳng xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hay nhiều tháng.
6. Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan hay
lời nói không thích hợp hoặc bịa ngôn ngữ.
7. Tác phong căng trương lực như kích động , giữ nguyên dáng hay phủ định
không nói/ sững sờ
8. Các triệu chứng âm tính như vô cảm, ngôn ngữ nghèo nàn, cảm xúc cùn
mòn hay không thích hợp thường đưa đến cáh ly xã hội giảm sút hiệu xuất lao
động; phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm cảm hay thuốc an thần
kinh gây ra.
9. Biến đổi thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính
-Nội dung các triệu chứng (nhất là các hoang tưởng, ảo giác ) có liên
quan trực tiếp và phản ảnh sâu sắc nội dung của các sang chấn tâm lý.
-Trong tiền sử đã có những lần phản ứng nhẹ trước các sang chấn hoặc
có nhiều nhân tố thuận lợi (nhân cách, cơ thể, môi trường ) thúc đẩy bệnh phát
sinh.
-Điều trị đúng (liệu pháp tâm lý) bệnh khỏi nhanh và khỏi hoàn toàn
không để lại di chứng tâm thần.
Mặt khác, mỗi một trạng thái phản ứng bệnh lý còn có những sắc thái
lâm sàng riêng biệt để làm chẩn đoán xác định. Ví dụ, các rối loạn stress sau sang
chấn còn có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng như :
Sự tái diễn những giai đoạn sang chấn bằng các " hồi ức sang chấn".
Cảm giác "tê cóng" và cùn mòn cảm xúc (mất thích thú, tách khỏi mọi
người và môi trường xung quanh )
Né tránh các hoạt động và hoàn cảnh gợi lại sang chấn.
Các rối loạn thần kinh tự trị, rối loạn khí sắc, lo âu, hoảng sợ, trầm cảm,
rối loạn hành vi xuất hiện vài tuần đến 6 tháng sau sang chấn.
2. Phân biệt bệnh tâm thần phân liệt với các rôí loạn cảm xúc nội sinh
Trong bệnh tâm thần phân liệt cũng có thể có các rối loạn cảm xúc. Các
hội chứng này dù là hưng cảm hay trầm cảm song nhiều khi khá rõ rệt trong bệnh
cảnh lâm sàng và tồn tại như là những rối loạn tâm thần cơ bản trong tiến triển của
bệnh. Do vậy việc chẩn đoán phân biệt bệnh tâm thần phân liệt và các rối loạn cảm
xúc nội sinh nhiều khi rất khó và phải căn cứ vào các đặc trưng sau đây (của các
rối loạn cảm xúc)
- Các rối loạn cảm xúc xuất hiện một cách tự phát, từng thời kỳ chiếm
ưu thế rõ rệt trong bệnh cảnh lâm sàng.
- Thời gian tồn tại các hội chứng cảm xúc có thể kéo dài, song vẫn có
giới hạn rõ rệt (3 đến 6 tháng ) đó gọi là các cơn, các giai đoạn.
- Các rối loạn cảm xúc phải xuất hiện trước các triệu chứng loạn thần
khác.
- Các triệu chứng loạn thần (hoang tưởng, ảo giác ) là thứ phát và có
thuộc vào tiến triển các triệu chứng của bệnh chính.
- Khi bệnh chính khỏi thì loạn thần cũng mất đi .
- Nếu là loạn thần cấp thì có thường có các biểu hiện rối loạn ý thức (đi
từ u ám đến bán hôn mê, hôn mê; mê sảng lú lẫn ). Có thể có hội chứng kích
động giống động kinh, hội chứng ảo giác cấp
- Có thể có các hội chứng bịa chuyện, Korsakop nhất thời, cảm xúc
không ổn định (dễ khóc lóc, dễ bùng nổ thô bạo), hội chứng tâm thần thực tổn
nếu bệnh lý kéo dài.
-Tùy từng bệnh lý cơ thể mà triệu chứng lâm sàng có thể tiến triển theo
những quy luật riêng biệt, có các triệu chứng cơ thể kèm theo và nhất là các triệu
chứng cận lâm sàng nhiều khi rất có giá trị cho chẩn đoán sớm (công thức máu,
máu lắng, chụp X quang phổi, Xquang sọ não, huyết thanh chẩn đoán giang mai,
điện não đồ )
- Đôi khi ngưỡng dung nạp các thuốc an thần kinh thấp trong khi các
triệu chứng phụ nhất là các triệu chứng ngoại tháp, lú lẫn lại xuất hiện sớm và
nặng cũng là sự gơị ý đến một căn nguyên thực tổn nằm bên dưới các triêụ
chứng loạn thần.
4. Phân biệt bệnh tâm thần phân liệt với các trạng thái nhiễm độc chất
ma túy hay đang cai chất ma túy
Những người nghiện chất ma túy nhất là nghiện thuốc phiện hay các chất
dạng thuốc phiện; nghiện rượu cũng có thể bị các rối loạn tâm thần, nhiều khi là
những trạng thái loạn thần rõ rệt cần phải được phân biệt với bệnh TTPL. Các
triệu chứng đặc trưng cần lưu ý đến rối loạn tâm thần do rượu hoặc ma túy là :
- Có một tiền sử (nhiều khi khá dài) sử dụng rượu hay chất ma túy.
- Có các biểu hiện của hội chứng nghiện chất (3/6 tiêu chuẩn chẩn đoán
của bảng phân loại quốc tế ICD.10)
- Có biểu hiện hội chứng cai (tùy thuộc vào từng loại chất và liều dùng
trước khi cai)
- Xét nghiệm có chất ma túy trong máu, nước tiểu.
- Các triệu chứng loạn thần xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng
- Do 3 tác dụng chống loạn thần:
+ Yên dịu sự kích động và lo âu.
+ Giảm những ảo giác và hoang tưởng.
+ Giải ức chế trên sự cùn mòn cảm xúc và sự khép kín của người bệnh.
- Tùy theo sản phẩm, người ta giữ ưu tiên:
+ Tác dụng làm yên dịu.
+ Hoặc tác dụng giải ức chế.
+ Hoặc tác dụng nhiều mặt.
- Nhưng tác dụng còn tùy thuộc vào:
+ Liều lượng được dùng.
+ Thời gian điều trị.
+ Và thời kỳ diễn biến của bệnh.
Các phương pháp điều trị khác với những chỉ định rất rõ ràng có thể được
dùng:
- Liệu pháp sốc điện (ECT), nếu người bệnh không phù hợp các thuốc an
thần kinh, đặc biệt:
+ Trong một giai đoạn căng trương lực.
+ Hoặc trong một vài giai đoạn trầm cảm không điển hình.
- Lithium, với tính cách phòng ngừa trong các bệnh tâm thần phân liệt loạn
khí sắc.
- Các thuốc chống lo âu trong thời gian của các thể di chứng.
1.1. Điều trị tấn công
Ở bệnh viện, bởi vì cần phải có một sự chăm sóc theo dõi hàng ngày về tình
trạng tâm thần và cơ thể:
- Để thay đổi liều lượng dựa trên kết quả điều trị.
- Để điều chỉnh hoặc phòng ngừa nhiều tác dụng không mong muốn.
Kết hợp thường xuyên nhất:
- Tác dụng của một thuốc an thần kinh yên dịu, loại chlorpromazine.
- Và một sản phẩm đa tác dụng loại halopéridol.
Đường dùng:
- Thay đổi những sự kích thích dựa theo ảnh hưởng mà chúng có được trên
người bệnh, cũng như về một sự tăng thêm săn sóc khi một khuyết điểm có thể
làm rõ nét sự co cụm lại hoặc sự lo âu.
Phải tuân theo một điều kiện: mọi thầy thuốc phải thoát ra khỏi một quan
niệm cứng nhắc. Về một quá trình tiến triển của bệnh tâm thần phân liệt, để có thể
tránh 2 điều trở ngại trái ngược nhau:
- Từ chối sự theo dõi người bệnh.
- Hoặc có thành kiến xấu về tương lai của nó.
Kết hợp trong thực hành nhiều phương pháp tương tự:
- Sự liên lạc cá nhân với người bệnh, loại bán trực tiếp.
- Tác động ở mức gia đình bằng cách thông báo cho gia đình biết rõ những
biện pháp áp dụng và bằng cách ngăn không cho gia đình sai lầm.
- Đóng góp vào những hoạt động của nhóm như những cuộc họp chung giữa
những người săn sóc và người được săn sóc, những cuộc đi chơi giải trí, những
buổi liệu pháp lao động.
- Sắp xếp dần dần việc trở lại đời sống hoạt động như nằm viện ban ngày
hoặc với chế độ về ban đêm, một thời gian ở gia đình hoặc một tổ chức trung gian
khác.
Đôi khi tập trung vào một kỹ thuật:
- Liệu pháp gia đình.
- Liệu pháp tác phong.
- Liệu pháp nhóm.
3. Liệu pháp tái thích ứng xã hội
Liệu pháp tái thích ứng xã hội giúp cho người bệnh trở lại cuộc sống bình
thường tại cộng đồng. Phục hồi lại những thói quen trong sinh hoạt, khôi phục khả
năng lao động của người bệnh. Đối với người bệnh tâm thần phân liệt mạn tính
liệu pháp này càng đặc biệt quan trọng vì những người bệnh này do tính chất của
bệnh làm cho họ ngày càng có xu hướng thu mình, xa lánh những người xung
quanh và thu vào cuộc sống nội tâm. Liệu pháp này giúp cho người bệnh sau khi
ra viện có thể thích nghi ngay với cuộc sống thường ngày.