ĐIỀU TRỊ MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG
THƯỜNG GẶP TRONG UNG THƯ
GIAI ĐOẠN CUỐI Mục tiêu học tập
1. Mô tả được một số triệu chứng, hội chứng thường gặp ở bệnh nhân ung
thư giai đoạn cuối.
2. Giải thích được nguyên nhân và đề xuất các phương pháp điều trị phù
hợp.
Chăm sóc bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối dành cho người bệnh
trước khi từ trần khoảng 3 tháng, khi mà bệnh tiến triển có tiên lượng xấu, mà sự
điều trị tích cực không mang lại hiệu quả gì. Trong giai đoạn này bệnh nhân bắt
đầu xuất hiện một số triệu chứng do di căn của ung thư làm cho bệnh nhân đau
đớn khó chịu.
Mục đích của điều trị là làm giảm bớt các triệu chứng, đem lại sự
thoải mái, dễ chịu cho người bệnh.
I. NÔN VÀ BUỒN NÔN
Nôn và buồn nôn kéo dài là những triệu chứng gây khó chịu và
thường gặp nhất trong ung thư giai đoạn cuối. Có thể có nhiều nguyên nhân gây
buồn nôn. Các nguyên nhân thường gặp :
- Do sử dụng một số thuốc chống ung thư, morphin để điều trị giảm đau.
- Dạ dày chướng hơi, bị chèn ép bởi khối u hoặc bị kích thích.
- Tắt ruột, bệnh lý ở gan.
- Kích thích tâm lý gây nôn.
Để điều trị nôn không nên chỉ dùng một loại thuốc quen thuộc mà
phải tìm nguyên nhân gây nôn và lựa chọn thuốc điều trị cho phù hợp.
Sự chọn lựa thuốc tùy theo nguyên nhân
Nguyên nhân Điều trị
Thuốc : Bắt đầu sử dụng thuốc chống nôn kèm theo
phân
Thuốc nhuận trường - nhiều loại.
Tắc ruột Nếu tắc ruột thấp, ăn chế độ ít chất bả (xơ)
tốt và tiêu hóa được. Nếu tắc ruột hơi cao, nhịn ăn,
ngậm đá nhỏ và uống Haloperidol 1,5-5 mg hay
hyoscine butylbromide 20 mg 3 lần/ngày
Dexamethazone 8 mg truyền tĩnh mạch
Mở dạ dày qua da bằng nội soi
Rối loạn tiền đình Prochlorperazine 5-25 mg 3 lần/ngày
Hyoscine 1,5 mg trong 3 ngày liên tiếp
Lo lắng Động viên, thư giản
Diazepam 5-10 mg 2 lần/ngày
Truyền dịch midazolam 5-50 mg/24 giờ
Haloperidol 1,5-5 mg - 3 lần/ngày
Tăng Ca
+
máu Truyền nước
Truyền dung dịch muối
Biphosphonate
Tăng Urê máu Chlorpromazine 25-50 mg 3 lần/ngày
II. TÁO BÓN
- Táo bón thường gặp trong giai đoạn cuối của bệnh ung thư do ít hoạt
động, uống ít nước và ngay cả môi trường chung quanh không quen thuộc. Suy
yếu các cơ bụng và sàn chậu làm giảm khả năng bài tiết qua trực tràng. Hơn nữa,
hầu hết các thuốc giảm đau mạnh, thuốc phiện, thuốc chống trầm cảm, thuốc
kháng cholin gây liệt nhẹ đám rối thần kinh của ruột và gây táo bón, nên cho thuốc
nhuận trường (nếu cần).
- Hỏi kỹ và ghi hồ sơ đều đặn về chức năng đường ruột rất cần thiết, thăm
khám trực tràng là phần quan trọng của việc đánh giá người bệnh ở giai đoạn cuối.
Khi táo bón không giảm và bệnh nhân không nhận biết có thể gây đau bụng, làm
dầu hay Phosphates có thể được điều dưỡng thực hiện tại nhà theo y lệnh bác sĩ :
cho 1 ngón tay có mang găng tay sạch lấy phân qua trực tràng, nên cho thuốc giảm
đau và an thần (nếu cần). Chích Pethidine 25-100 mg tiêm tĩnh mạch (tùy thuộc
vào khả năng hấp thu thuốc của bệnh nhân) và cho thêm diazepam 5 mg hay
midazolam 5 mg giúp lấy phân dễ hơn và không làm bệnh nhân khó chịu.
III. CÁC TRIỆU CHỨNG KHÁC :
1. Cổ chướng :
- Trước hết cần tìm nguyên nhân gây bụng chướng : khối u, gan to, chướng
hơi, tắc ruột, táo bón. Cổ chướng do nguyên nhân ác tính có thể tích tụ 10 lít dịch
hay hơn nữa gây căng tức thành bụng, hạn chế hoạt động cơ hoành làm bệnh nhân
rất khó chịu.
- Có thể dùng các thuốc lợi tiểu để làm giảm cổ chướng như :
Spironolactone 50 mg 4 lần/ngày ; Furosemide 40-120 mg/ngày có thể làm giảm
viêm chung quanh khối u và giảm sự xâm nhập huyết thanh vào khoang bụng.
Chọc hút bớt dịch màng bụng chỉ nên thực hiện khi sự căng chướng gây tức bụng,
khó chịu, bởi vì chọc hút dịch màng bụng sẽ lấy đi một số lượng lớn chất đạm có
thể làm người bệnh yếu sức và suy nhược nhanh hơn.
- Đặt ống nối màng bụng - tĩnh mạch chủ : Thỉnh thoảng được làm trong
các tình huống đặc biệt, ví dụ : Cổ chướng nhũ trấp do dò từ ống ngực
2. Khó thở :
- Khó thở thường chiếm 70% các trường hợp bệnh nhân ung thư giai đoạn
cuối. Các nguyên nhân thường gặp là các bệnh ác tính ở phổi có thể gây : chèn ép
đường hô hấp, xẹp thùy phổi hay nhiễm trùng, tắt nghẽn phế quản. Các nguyên
nhân phụ khác như : tràn dịch màng phổi, xơ phổi, di căn phổi rộng, cổ chướng,
viêm phổi do xạ trị, nghẽn mạch phổi, chèn ép màng ngoài tim cấp.
- Cần xác định nguyên nhân để điều trị cho phù hợp, thí dụ : Suy tâm thất
trái cho lợi tiểu, viêm phổi cho kháng sinh, co thắt phế quản cho Salbutamol hay
thuốc kháng viêm dạng khí dung .v.v
3. Các triệu chứng ăn kém, khô miệng:
Ngoài những triệu chứng thường gặp ở giai đoạn cuối, những biểu
tan với Chlorhexidine.