kiến thức về kỹ thuật chăm sóc cây vải.
-Đối tượng đào tạo: Nông dân có nhu cầu học, tuổi từ 30 - 40, số lượng 10 người,
trong đó nam 5, nữ 5, tất cả là dân tộc Dao, nhu cầu của người học là được nâng cao kiến
thức về kỹ thuật trồng chăm sóc loài cây vải.
-Yêu cầu:
Nội dung học tập đáp ứng yêu cầu người học.
Phương pháp gi
ảng dạy ngắn gọn, dễ hiểu, thực tế.
-Mục tiêu khoá đào tạo: Khi học xong người học có khả năng:
Trình bày được kỹ thuật trồng và chăm sóc cây vải.
Làm được các công việc trồng, chăm sóc cây vải đúng yêu cầu kỹ thuật.
Tuyên truyền vận động người dân cùng thực hiện mô hình canh lác trên đất
dốc để sử dụng bền vững. -Chương trình đ
ào tạo: Chương trình khoá tập huấn được thể
hiện ở bảng sau:
Bảng 4.5. Chương trình đào tạo
-Dự trù kinh phí: Dự trù kinh phí khoá tập huấn được thể hiện ở bảng sau:
Bảng 4.6. Dự trù kinh phí tập huấn
4.2.3. Kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm
Sau 5 năm tổ chức thực hiện nâng cao năng lực cho cộng đồng, chúng tôi đã tổ chức
thực hiện được các hoạt động sau:
Tổ chức 02 đợt thăm quan các mô hình canh tác đất dốc và các mô hình chăn nuôi
gia cầm, chăn nuôi lợn với sự tham gia của 40 người.
Tổ chức 12 lớp tập huấn về kỹ thuật nông lâm nghiệp, t
ạo giống, trồng cây ăn quả
và lâm nghiệp, phòng trừ sâu bệnh hại, kỹ năng giao tiếp và thúc đẩy, tín dụng, kỹ thuật
chế biến chè, chăn nuôi thú y với sự tham gia của 240 lượt người.
Bước 1. Điều tra chọn hộ
H
ọp nhóm đánh giá tiềm năng đất, nhân lực, tiền vốn và nguyện vọng của người dân,
gợi mở cho nhóm hộ tham gia. Trên cơ sởđó chọn ra hộđiển hình tiến hành điều tra cụ thể
để thu thập các thông tin sau:
-Số khẩu, lao động chính;
-Tổng diện tích đất, đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chưa sử dụng;
Tìm hiểu kế hoạch sử dụng đất của gia đình trong tươ
ng lai, xác định khu vực thực
hiện nông lâm kết hợp;
-Cùng với hộđo đếm diện tích, mô tả đất, phác hoạ sơ đồ bằng các công cụ thước
dây, la bàn, cuốc, giấy bút
Bước 2. Lập kế hoạch có sự tham gia
Dựa trên các thông tin cơ bản cùng người dân lập kế hoạch có sự tham gia, trên
nguyên tắc người dân tự làm, người ngoài cộng đồng chỉ có vai trò thúc đẩy bằng những
gợi ý cụ th
ể để người dân nói được ý nguyện của mình như: Trồng cây gì? Tại sao? Đã có
hiểu biết gì về việc làm đó? Thời vụ trồng? Tiêu chuẩn cây trồng? Cách bố trí cơ cấu cây
trồng ra sao? Người dân đóng góp gì? Bao nhiêu?
Bước 3. Báo cáo kết quả lập kê hoạch trước nhóm để mọi người góp ý
Lưu ý mọi ý kiến của người dân và kinh nghiệm sản xuất của họ đều được tôn trọng,
bàn bạc chia sẻ và đi đến thống nhất.
Bước 4. Xây dựng mô hình nông lâm kết hợp
Trên cơ sở kế hoạch được thống nhất, người dân tiến hành tổ chức thực hiện theo trật
tự thời gian dưới sự giám sát của nhóm, mọi sự thay đổi phải có ý kiến của nhóm hoặc nhà
tài trợ nếu có.
Bước 5. Nghiệm thu đánh giá kết quả
Nghiệm thu đánh giá được ti
ến hành theo phương pháp có sự tham gia đó là trong
quá trình đánh giá có sự tham gia của chủ mô hình, lãnh đạo nhóm, các thành viên khác
-Đủ nhân lực ;
-Giao thông thuận tiện;
-Có nguyện vọng muốn làm từ lâu. Bên cạnh những thuận lợi đó hộ còn có những
khó khăn khi bước vào xây dựng
mô hình như: Thiếu vốn đầu tư;
-Thiếu hiểu biết về khoa học kỹ thuật (kỹ thuật xây dựng mô hình. kỹ thuật trồng cây
chăm sóc, thu hái, bảo quản );
-Không có nguồn giống, dịch vụ phân bón tại chỗ. Qua việc chọn hộ các thành viên
đã thể hiện được tinh thần đoàn kết, thân ái, hoà
đồng, hăng hái phát biểu ý kiến trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau cùng tham gia xây dựng
nhóm ngày càng phát triển.
• Lập kế hoạch thử nghiệm mô hình nông lâm kết hợp
a) Những thông tin cơ bản về hộ
Trên cơ sở nhóm đã chọn ra hộ Lăng Văn Dim làm mô hình, để giúp cho việc lập kế
hoạch dễ dàng chúng tôi đã đến tham quan tình hình thực tế diện tích thử nghiệm, tiến
hành đo đạc, phỏng vấn và thu thập một số thông tin cơ bản, kết quả như sau: -Tên chủ hộ:
Lăng Văn Dim
-Dân tộc: Núng Số nhân khẩu: 7 khẩu
-Số lao
động chính: 4 người
-Diện tích xây dựng mô hình: 0,5 ha
-Độ dốc: < 30o Hiện trạng thực bì: rừng tự nhiên tái sinh (chủ yếu là tre, giang, nứa)
b) Lựa chọn cây trồng
-Đưa cây trám, mỡ có giá trị kinh tế cao vào trồng mô hình
Trồng băng cốt khí để giữ nước, cải tạo đất, làm băng phân xanh
Trồng cây ăn quả (vải, xoài) và một số cây lương thực (khoai lang, sắn) vào mô hình.
c) Lập kế hoạch
-Mục tiêu: Có đượ
c mô hình nông lâm kết hợp điển hình ở khu vực, cho thu
nhập cao và ổn định từ mô hình. Chỉ tiêu: Tỷ lệ sống, tình hình sinh trưởng của cây (chiều
bàn thôn, xã cũng như trên thị trường chúng tôi và chủ hộđã tính toán và dự trù kinh phí
cho từng hoạt động nhưở bảng sau:
Bảng 4. 7. Dự trù kinh phí thực hiện mô hình -Vốn đầu tư cho mô hình là 2.485.000, đây là một số tiền đáng kể đối với người dân
nông thôn miền núi. Do vậy phần lớn vốn đầu tư cho mô hình là do Khoa Lâm nghiệp hỗ
trợ. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng phát triển mô hình.
d) Báo cáo kết quả lập kế hoạch Trong buổi họp nhóm chủ hộ Lăng Văn Dim đã trình
bày trước nhóm bản kế hoạch mà mình đã l
ập ra và mong các thành viên trong nhóm
góp ý kiến cụ thể cho từng hoạt động, để giúp cho việc xây dựng mô hình được hoàn
chỉnh và hợp lý hơn. Kết quả buổi họp báo cáo kế hoạch xây dựng mô hình được góp ý
hoàn thiện. Qua buổi họp đã giúp các thành viên trong nhóm hiểu và nắm bắt được
phương pháp lập kế hoạch khi tiến hành xây dựng mô hình nông lâm kết hợp. Đó là một
trong những yêu cầu mà chúng tôi mong muốn mang đến cho người dân. e) Tổ chức
thự
c hiện và nghiệm thu kết quả
-Trên cơ sở kế hoạch đã lập ra tiến hành tổ chức thực hiện xây dựng mô hình theo
trình tự thời gian sau:
+ Tháng 3 hộđã nhanh chóng phát dọn thực bì và đốt sạch sẽ toàn bộ diện tích thử nghiệm.
+ Đầu tháng 4 dưới sự hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật tiến hành làm băng gieo cất khí trên
toàn bộ diện tích thử nghiệm, bố trí dọc theo đường
đồng mức với chiều rộng 0 5 m, mỗi
băng cách nhau 7 m, một băng gieo thành 2 hàng cách nhau 0,3 m.
+ Từ 6 - 15/4 cuốc hố trồng cây lâm nghiệp, theo đúng cự ly kích thước.
+ Từ 20 - 25/4 mang cây giống đến giao tận nơi cho chủ hộ với số lượng cây là: 450 cây
mỡ và 130 cây trám con mang đến đảm bảo về chất lượng và số lượng. Trước khi trồng
tiến hành kiểm tra thực tế việc đào hố, tiến hành trồng khi
điều kiện thời tiết thuận lợi
động dồi dào ở nông thôn miền núi chưa được huy động vào các hoạt động nghề rừng nên
thiếu việc làm,
đời sống khó khăn. Do vậy họ không có sự lựa chọn nào khác là phá rừng
làm nương rẫy, canh tác theo hình thức quảng canh hoặc du canh du cư nên diện tích rừng
ngày một suy giảm cả về số lượng và chất lượng.
Từ khi có Nghị định số 02/CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ, quy định giao đất
giao rừng cho các thành phần kinh tế khác nhau để quản lý sử dụng lâu dài vào mục đích
phát triển lâm nghiệp. Từđó hình thức quản lý lâm nghiệp truy
ền thống đang chuyển sang
hình thức lâm nghiệp xã hội, người dân tham gia vào các hoạt động bảo vệ rừng, trồng
rừng, chăm sóc và khai thác lợi dụng rừng, rừng đang từng bước hồi sinh. Tuy nhiên diện
tích rừng thì rộng, phân bốở những nơi cơ sở hạ tầng giao thông kém đi lại khó khăn. Đất
rừng giao cho từng hộ gia đình manh mún, nhiều hoạt động cần sự hỗ trợ của cộng đồng
khó tổ chức thực hiện như cháy rừng, vì vậy đòi hỏi bảo vệ tài nguyên rừng phải có sự
tham gia. Tiến trình tổ chức quản lý bảo vệ rừng có sự tham gia được tiến hành theo các
bước sau:
Bước 1. Thu thập thông tin có sẵn từ các cơ quan quản lý địa phương
Đ
ây là các bước khởi đầu rất quan trọng nó giúp ta có cái nhìn tổng quan và đánh giá
được điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội, nắm bắt được một số thông tin chính về tình hình
quản lý phát triển nông lâm nghiệp.
Bước 2. Khảo sát, phân tích đánh giá hiện trạng rừng, tình hình bảo vệ rừng
Trong bước này có hai khoát động chính sau:
-Thống kê diện tích rừng theo trạng thái giao cho các chủ hộ;
-Xác định phân tích thuận lợi, khó khăn trong bảo vệ tài nguyên rừng.
Bước 3. Phân
tích vai trò của các bên liên quan trong bảo vệ tài nguyên rừng Bước 4. Đề xuất các
giải pháp bảo vệ Bước 5. Tổ chức bảo vệ rừng Sau đây chúng tôi ví dụ một kết quả
nghiên cứu điển hình bảo vệ rừng có sự
tham gia tại xã Văn Lăng, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
và phát triển rừng sẽ phát huy được hiệu quả, hiệu lực và tính tích cực của chúng.
Rừng được giao cho hộ gia đình trên địa bàn xã chủ yếu là rừng tự nhiên phục hồi
sau nương rẫy và rừng tự nhiên bị khai thác kiệt với nhiều trạng thái khác nhau. Sau đây là
đặc điểm và hướng sử dụng của từng trạng thái rừng:
Trạng thái Ia, Ib: Đất bị thoái hoá do canh tác nương rẫy, hàm lượng mùn trong đất
thấp, đất bị xói mòn, rửa trôi mạnh, thành phần thực vật chủ yếu là trảng cỏ và cây bụi
thấp. Hướng dẫn sử dụng là trồng rừng.
Trạng thái Ic: Đây là trạng thái đất rừng sau nương rẫy đã tự phục hồi thành rừng,
nhưng chủ yếu là cây bụi và cây gỗ tái sinh mọc rải được giao, hướng sử dụng là khoanh
nuôi, tái sinh.
Trạng thái IIa, IIb: Đây là trạng thái rừ
ng non mới phục hồi, có tổ thành cây ưa sáng
mọc nhanh là chủ yếu. Hướng sử dụng là khoanh nuôi và làm giàu rừng.
Trạng thái IIIa,,IIIa2: Đây là trạng thái rừng đã qua khai thác, trữ lượng gỗ thấp.
Hướng sử dụng là điều chế rừng (xúc tiến tái sinh tự nhiên).
Trạng thái rừng nứa, nứa + gỗ: Đây là trạng thái rừng nứa mọc thuần loài hoặc rừng
nứa có cây gỗ mọ
c xen lẫn rải rác, thường gặp ở dọc sông suối. Diện tích loại rừng này tuy
không lớn (81,52 ha) nhưng có thể coi đây là loại rừng cho thu nhập trước mắt đối với
người dân. Vì họ được phép khai thác bán nguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất, xây
dựng. Mặt khác do ở gần sông suối, nên khi khai khác sẽ dễ vận chuyển và tiêu thụ dễ
dàng, một phần thu nhập đó người dân có thể dùng cho sinh ho
ạt gia đình và một phần họ
có thể đầu tư trở lại để trồng những loài cây có giá trị hơn, từng bước nâng cao giá trị của
rừng. Hướng sử dụng là khai thác kết hợp với tái sinh.
Mặc dù diện tích các loại rừng Ia, Ib, Ic khi giao cho hộ gia đình khổ lớn (960,97 ha),
từ khi giao cho đến nay người dân chưa tiến hành trồng mới do thiếu vốn đầu tư.
Nhưng hiện nay phầ
n lớn diện tích này đã được che phủ bởi những cánh rừng tái sinh
Đồng bào dân tộc H'mông, Dao đã ổn định cuộc sống, từ bỏ cuộc sống du canh du
cư, vì thế việc phá rừng làm nương rẫ
y đã được hạn chế.
• Những khó khăn
-Rừng được giao cho từng hộ gia đình quản lý, nên họ chỉ tập trưng vào quản lý rừng
nhà mình, tinh thần tự quản của cộng đồng chưa được phát huy, mối liên kết giữa các hộ
trong quản lý rừng chưa chặt chẽ;
-Chưa có cơ chế khuyến khích người giữ rừng, kinh phí hỗ trợ quản lý bảo vệ
rừng
phòng hộ không được cấp tiếp, việc xin phép khai thác lợi dụng rừng còn khó khăn, rườm
rà, hầu như nông dân chưa nắm được thủ tục này;
-Sự phối kết hợp giữa chính quyền, các tổ chức, cơ quan đoàn thể trong công tác
quản lý rừng chưa chặt chẽ, còn thiếu đồng bộ, dẫn đến việc triển khai các chủ trương,
chính sách có liên quan đến quản lý rừng còn chậm trễ
, chưa kịp thời;
-Lực lượng bảo vệ rừng còn mong, không đủ khả năng bao quát toàn xã, nên còn
nhiều vi phạm chưa được xử lý;
-Diện tích rừng chưa giao, địa bàn rừng núi phức tạp nên khó bảo vệ;
-Người dân chưa tập trung, chú trọng vào đầu tư phát triển sản xuất lâm nghiệp vì
còn thiếu giống, vốn, kỹ thuật;
-Việc đốt bãi làm nương rẫy của đồng bào Dao, H'mông là nguy cơ d
ễ phát sinh ra
cháy rừng;
-Chưa có mô hình kiểu mẫu về trang trại lâm nghiệp trên toàn địa bàn xã, để người
dân có thể tham quan học tập.
4.4.2.3. Các tổ chức xã hội có liên quan tới quản lý bảo vệ rừng
Qua tìm hiểu chúng tôi thống kê được các tổ chức, đoàn thể, cơ quan có liên quan tới
quản lý bảo vệ rừng tại xã Văn Lăng như trong bảng sau:
Bảng 4.11. Các tổ chức, đoàn thể có liên quan tới quản lý bảo vệ rừng tại xã Văn Lăng