ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PGS.TS. ĐẶNG KIM VUI (Chủ biên) TS. LÊ SỸ TRUNG - ThS. NGUYỄN VĂN MẠN
- ThS. ĐẶNG THỊ THU HÀ
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN CÓ SỰ THAM GIA TRONG PHÁT
TRIỂN LÂM NGHIỆP XÃ HỘI
(SÁCH CHUYÊN KHẢO DÙNG CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH LÂM NGHIỆP, QUẢN LÝ
BẢO VỆ RỪNG VÀ NÔNG LÂM KẾT HỢP)
NHÀ XUẤT BẢN NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI - 2007
LỜI NÓI ĐẦU
Từ năm 1991 Ngành Lâm nghiệp Việt Nam đang từng bước đổi mới từ lâm nghiệp
truyền thống sang lâm nghiệp xã hội (LNXH). Chấp nhận mọi thành phần kinh tế tham gia
vào quản lý và phát triển rừng, đặc biệt là cộng đồng dân cư sống trong và gần rừng. Đây
là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước hướng tới mục tiêu tạo ra một diện tích rừng
đủ lớn, qu
ản lý bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng
cao đời sống của người dân địa phương. Tuy nhiên đối với phát triển Lâm nghiệp xã hội
còn nhiều bất cập, hạn chê do thiếu kiên thức, kỹ năng, phương pháp tiếp cận, thực hiện
chính sách chưa đồng bộ,
Để giúp cho cán bộ làm công tác ở địa phương có tài liệu tham khảo trong phổ cập
và phát tri
ển lâm nghiệp, Khoa Lâm nghiệp Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên được
sự hỗ trợ của Dự án Hỗ trợ lâm nghiệp xã hội giai đoạn II (1998 -2004) đã triển khai
nhiều thử nghiệm về xây dựng mô hình cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng, phát
triển công nghệ có sự tham gia. Các thử nghiệm này đã đem lại kết quả nhất đinh, được
cộng đồng chấp nhậ
n. Để khuyên cáo và nhân rộng kết quảđó, nhóm nghiên cứu xin giới
thiệu cuốn sách "Phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong phát triển lâm nghiệp xã
hội". Nội dung cuốn sách gồm 4 phần chính, do các các tác giả biên soạn như sau:
PGS.TS. Đặng Kim Vui -Chủ biên, trực tiếp biên soạn Phần 1 : Giới thiệu chung và
Phần 3: Phương pháp tiếp cận LNXH.
SOWT: Strength - Opportunity - Weakness - Threats (Điểm mạnh -Điểm yếu - Cơ hội -
Thách thức)
TB: Trung bình
TOT: Training of trainers (Đào tạo tập huấn viên)
UNDP: United Nation Development Programme (Chương trình phát triển Liên hợp
quốc)
Phần 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 GIỚI THIỆU
Dự án hỗ trợ lâm nghiệp xã hội (SFSP) giai đoạn II bắt đầu thực hiện từ đầu năm
1998 và kéo dài đến năm 2004, do Chính phủ Thuỵ Sỹ tài trợ nhằm nâng cao năng lực cho
cán bộ giảng dạy, phổ cập trong các lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực, tạo kiến thức,
nghiên cứu chuyển giao và trao đổi thông tin. Dự án gồm 7 đố
i tác, đó là Trường Đại học
Lâm nghiệp Việt Nam, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Trường Đại học Nông
Lâm Huế, Trung tâm Khuyến nông khuyến lâm tỉnh Hoà Bình, Viện Nông hoá thổ
nhưỡng, Trường Đại học Nông Lâm Thủ Đức và Đại học Tây Nguyên dưới sự hỗ trợ của
một văn phòng Trung ương ở Hà Nội.
Dự án đã thực hiện nhiều hoạt động ở các địa phương trong đó mộ
t hoạt động không
thể không kể đến là hoạt động nâng cao năng lực cho cán bộở hiện trường về tổ chức, tập
huấn, chuyển giao kỹ từ uất nông lâm nghiệp. Các kết quả vềđào tạo phổ cập, tạo lập
nhóm sở thích, phát triển công nghệ có sự tham gia, trong quản lý phát triển rừng được
thực hiện ở hầu hết các vùng miền trong nước, cho các đối tượng dân tộc khác nhau
đã
được tổng kết đánh giá và đang được sử dụng để phân tích cộng đồng, lập kế hoạch, phát
triển công nghệ có sự tham gia, giám sát đánh giá trong phát triển lâm nghiệp xã hội trong
những năm tiếp theo.
1.2. SỰ CẦN THIẾT CỦA CUỐN TÀI LIỆU
LNXH mới ra đời, về phương pháp luận, nhìn nhận đánh giá còn nhiều quan điểm
khác nhau, có người người cho rằng LNXH là một ngành, có người cho rằng LNXH là
Phần này giới thiệu cho độc giả về bối cảnh ra đời, khái niệm về lâm nghiệp xã hội,
sự khác nhau giữa LNXH và lâm nghiệp truyền thống (LNTT) và một số chính sánh liên
quan tới phát triển LNXH.
Phần 3. Phương pháp tiếp cận LNXH
Đây là phần quan trọng của cuốn tài liệu, giới thiệu về khái niệm tham gia,
điều kiện
và động lực thúc đẩy sự tham gia, các phương pháp tiếp cận có sự tham gia như: tiếp cận
có sự tham gia trong nghiên cứu LNXH, tiếp cận có sự tham gia trong đào tạo LNXH, tiếp
cận có sự tham gia trong nông lâm kết hợp (NLKH) và tiếp cận có sự tham gia trong
khuyến nông khuyến lâm.
Phần 4. Kết quả áp dụng phương pháp tiếp cận có sự tham gia trong phát triển
LNXH cấp thôn bản
Phần này cung cấp một số kế
t quả, phương pháp, bài học kinh nghiệm có được trong
quá trình nghiên cứu hiện trường tại các thôn điểm, nhằm giúp bạn đọc tham khảo để từđó
sử dụng các kết quảđó một cách linh hoạt ở các địa phương có trình độ dân trí, phong tục
tập quán, điều kiện kinh tế xã hội khác nhau.
Phần II GIỚI THIỆU VỀ LÂM NGHIỆP XÃ HỘI
2.1. BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA LNXH
2.1.1. Xu thế phát triển và nguyên nhân ra đời của LNXH
Từ những năm 1970 trở lại đây, ở một số nước trong khu vực châu Á đã bắt đầu xuất
hiện những xu thế mới trong việc quản lý, sử dụng tài nguyên rừng, đó là:
Xu thế phi tập trung hoá trong việc quản lý sử dụng tài nguyên rừ
ng thông qua việc
phân cấp trong quản lý, sử dụng, cho phép nhiều thành phần kinh tế tham gia vào quản lý
tài nguyên rừng, vai trò của người dân và cộng đồng địa phương được nâng cao;
Xu thế chuyển từ khai thác, lợi dụng gỗ sang sử dụng tổng hợp, đa dạng hoá sản
phẩm theo phương thức sử dụng tổng hợp tài nguyên rừng;
Xu thế phát triển từ đơn ngành lâm nghiệp sang phát triển đa ngành theo hướng
phát tri
2.1.2. Các giai đoạn phát triển lâm nghiệp
Theo Wiersum (1994), quá trình phát triển lâm nghiệp trên thế giới trải qua các thời
kỳ với các cách tiếp cận khác nhau nhưng rất đặc trưng cho quá trình chuyển từ LNTT
sang LNXH. Quá trình phát triển lâm nghiệp ở châu Á được tiến triển theo các mốc với
các giai đoạn được khái quát trong Bảng 2 . 1 .
Bảng 2.1. Quá trình phát triển lâm nghiệp ở châu Á
(Nguồn: Đinh Đức Thuận, 2002).
• Giai đoạn trước năm 1950
Đặc trưng của giai đoạn này là lâm nghiệp thuộc địa và phong kiến. Quyền sở hữu
đất đai và rừng thuộc về các nhà tư sản nước ngoài, các chủ đồn điền. Một phần đất đai
thuộc về quyền tự quản của các cộng đồng. Hoạt động chủ yếu của lâm nghiệp là khai thác
vơ vét tài nguyên rừ
ng phục vụ cho "Mẫu Quốc" và giai cấp thống trị.
• Giai đoạn từ 1950 trên 1970
Các nước thực hiện quốc hữu hoá rừng và xác định quyền sở hữu, quản lý đất rừng
thuộc nhà nước. Lâm nghiệp nhà nước chiếm vị trí chủ đạo. Hoạt động lâm nghiệp chủ
yếu vẫn dựa vào khai thác gỗ nhưng tập trung nhiều cho xuất khẩu sang các nước phát
triển. Ở
giai đoạn này, tài nguyên rừng ở hầu hết các nước bị tàn phá nghiêm trọng, tỷ lệ
tàn che giảm sút nhanh chóng.
• Giai đoạn từ 1971 đến 1990
Chính phủ huy động nhân dân địa phương vào bảo vệ và phát triển rừng. Một phần
rừng và đất ừng được giao cho các hộ gia đình quản lý. Các chương trình LXNH ra đời với
mục tiêu trợ giúp cho sự phát triển và thoả mãn các nhu cầu về lâm sản của người dân. Các
n
ước giảm dần lượng khai thác gỗ. Hoạt động lâm nghiệp đã hướng vào khai thác, lợi
dụng tổng hợp theo hình thức nông lâm kết hợp, phát triển nhiều loại sản phẩm khác nhau,
chuyển từ sản xuất đơn ngành sang sản xuất đa ngành.
• Giai đoạn từ 1 991 đến nay
dần được hình thành và phát triển cùng với quá trình cải cách kinh tế của đất nước. Sự
chuyển hướng từ một nền lâm nghiệp lấy quốc doanh làm chính sang một nền lâm nghiệp
nhân dân có nhiều thành phần kinh tế tham gia được xuất phát từ các bối cả
nh chủ yếu sau:
1) Thực trạng đời sống nông thôn, đặc biệt là nông thôn miền núi đang gặp nhiều khó
khăn, sự phụ thuộc của các cộng đồng vào rừng ngày càng tăng đòi hỏi phải có phương
thức quản lý rừng thích hợp
Hiện tại ở Việt Nam có khoảng 80% dân số sống ở vùng nông thôn, 27 triệu người
trong đó hơn 10 triệu người là các đồng bào dân tộc thiểu s
ố sống ở các vùng trung du và
miền núi. Mặc dù Chính phủđã có chương trình quốc gia hướng tới xoá đói, giảm nghèo
nhưng tỷ lệ hộ gia đình đói nghèo vẫn còn chiếm khá cao. Tỷ lệ này ở các tỉnh vùng cao
còn trên dưới 30%. Đa phần các hộ gia đình nghèo phải tập trung vào sản xuất lương thực,
chăn nuôi hay làm các ngành nghề phụ khác.
Sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa các vùng là một trở ngại lớn. Các vùng sâu
vùng xa sản xuất kém phát triển, lạc hậu, cơ sở hạ tầng thấp kém cần nhiều đầu lư hỗ trợ
và thời gian mới tiến kịp miền xuôi. Mặc dù nhiều nơi ở trung du và miền núi đã và đang
hình thành các vùng chuyên canh sản xuất cây nguyên liệu, cây công nghiệp, cây ăn quả,
rau xanh; đang xuất hiện hàng vạn trang trại nông lâm nghiệp; song nhìn chung sản xuất tự
túc, tự cấp vẫn còn nhiều, cơ
cấu kinh tế chưa hợp lý, vẫn nặng về trồng trọt, sản xuất hàng
hoá chưa phát triển tại các vùng sâu vùng xa.
Sự phụ thuộc vào rừng của các cộng đồng miền núi về lương thực, thực phẩm được
sản xuất trên đất rừng, tiền mặt thu được từ bán lâm sản như gỗ, củi đất, ngày càng tăng
dẫn đến khai thác tài nguyên rừng quá mức, nhiều nơi r
ừng không còn có khả năng tái sinh
dẫn đến đồi trọc hoá. Những xung đột trong sử dụng tài nguyên rừng ngày càng nhiều.
Lâm nghiệp nhà nước không còn khả năng kiểm soát có hiệu quả việc quản lý tài nguyên
rừng. Trong bối cảnh như vậy cần phải có một phương thức quản lý rừng thích hợp, làm
sao vừa đáp ứng được lợi ích của người dân địa phương vừa bảo vệ và phát triển tài
sản xuất nông nghiệp.
-Khoán 10 năm 1988 (Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị) Cơ chế khoán trong sả
n xuất nông
nghiệp theo Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị năm 1988 nhằm tiếp tục tăng trưởng sản
xuất nông nghiệp của đất nước. Phần lớn tư liệu sản xuất được giao cho hộ nông dân và họ
được chủ động sử dụng cho mục đích sản xuất ảnh hưởng của Nghị quyết 10 được nhận
thấy rõ rệt thông qua sản phẩ
m sản xuất nông nghiệp đã tăng và những thay đổi của các hệ
thống sản xuất nông nghiệp.
Các hệ thống sản xuất nông nghiệp ngày càng đa dạng và bắt đầu hướng vào sản xuất hàng
hoá hoặc sản xuất cho tiêu dùng tuỳ theo từng hộ.
-Luật Đất đai Luật Đất đai lần đầu tiên được ban hành vào năm 1988, được sửa đổi
và bổ sung
vào các năm 1993, 1998, 2004 được coi là m
ột trong những mốc quan trọng cho công cuộc
đổi mới quản lý nông nghiệp nhằm đảm bảo một hành lang pháp lý cho việc quản lý, sử
dụng tài nguyên đất đai một cách có hiệu quả và bền vững. Luật Đất đai 1993 là cơ sở
pháp lý rất quan trọng cho các hộ nông dân tự chủ sử dụng đất với 5 quyền cơ bản khi
nhận đất.
Những ảnh hưởng tích cực của Luật Đất đai được thấy rất rõ đối với các cộng đồng miền
núi, nơi đất đai và tài nguyên rừng đã và đang được giao cho các hộ gia đình, cộng đồng
quản lý, sử dụng lâu dài. Nông dân và cộng đồng được làm chủ thực sự trên các diện tích
đất được giao, họ yên tâm đầu tư vào sản xuất, được hưởng thành quả
lao động chính đáng
và đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước.
-Luật Bảo vệ và phát triển rừng, các văn bản dưới luật chủ yếu về lâm nghiệp Luật
Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991, sửa đổi năm 2004 là cơ sở quan trọng cho phát triển
LNXH tại các vùng nông thôn miền núi. Phân chia 3 loại rừng, quyền giao đất lâm nghiệp,
quyền hợp đồng khoán kinh doanh rừng của các hộ nông dân và tổ chứ
c cộng đồng có tư
trình LNXH ở các nước châu Á được coi là những ảnh hưởng tích cực đến phát triển
LNXH ở Việt Nam.
5) Các chương trình hỗ trợ phát triển lãm nghiệp của các tổ chức quốc tê và phi Chính
phủđóng góp tích cực vào phát triển LNXH ở Việt Nam
Vào đầu thập kỷ 90 nhiều chương trình hỗ trợ phát triển của các tổ chức quốc tế,
Chính phủ và phi Chính phủ được thực hiện. Chương trình hợp tác Lâm nghiệp Việt Nam -
Thụy Điển, các dự án của các tổ chức quốc tế như FAO, UNDP, GTZ và của các tổ
chức
phi Chính phủđã áp dụng cách tiếp cận mới trong phát triển lâm nghiệp. Phải khẳng định
rằng, Chương trình hợp tác Lâm nghiệp Việt Nam - ThuỵĐiển có vai trò quan trọng đầu
tiên về phát triển khái niệm LNXH ở Việt Nam. Những khởi đầu cho cách tiếp cận mới là
các chương trình phát triển và cho đến nay các chương trình này luôn là những điểm đi
đầu trong phát triển LNXH ở nước ta.
Chính phủ Thuỵ S tài trợ Chương trình hỗ
trợ Lâm nghiệp xã hội trong giai đoạn
1994 - 2004 nhằm vào 3 mục tiêu quan trọng, đó là: phát triển nguồn nhân lực cho hoạt
động LNXH; tạo kiến thức cho việc đào tạo LNXH; trao đổi thông tin về LNXH. Chương
trình này đã và đang giúp cho Việt Nam phát triển giáo dục và đào tạo LNXH một cách
toàn diện.
2.2. KHÁI NIỆM VÀ QUAN ĐIẾM VỀ LNXH
2.2.1. Khái niệm về LNXH
Giữa thập niên 1970, những chuyển biến quan trọng trong tư tưởng v
ề vai trò của
lâm nghiệp trong phát triển nông thôn đã diễn ra, một dấu hiệu đầu tiên của tư tưởng mới
này là giới thiệu thuật ngữ LNXH tại ấn Độ vào năm 1970. Trong báo cáo của ủy ban
Nông nghiệp quốc gia ấn Độ, người dân nông thôn được khuyến khích tham gia bảo vệ và
tái tạo tài nguyên rừng và dược cung cấp lâm sản không mất tiền.
Năm 1978 Ngân hàng Thế giới đã xuất bản công trình nghiên cứu về các chính sách
lâm nghiệp, báo hiệu chuyển hướng từ nền lâm nghiệp lâm sinh - công nghiệp rừng sang
bảo vệ môi trường và đáp ứng nhu cầu địa phương, ủng hộ lâm nghiệp vì nhân dân địa
(FAO, 1978). Cho nên ngay từ buổi đầu, LNXH được thiết lập trên sự tham gia của người
dân và hướng về nhu cầu của nông thôn, đặc biệt những người nghèo nhất trong số họ.
Wiersum (1994) nh
ận xét rằng, các quan niệm về LNXH có các ý nghĩa khác nhau là
do nguồn gốc của sự phát triển quan niệm này. Báo cáo của ấn Độ nêu bật vai trò của
LNXH như là sựđóng góp để cải thiện quản lý rừng. Trong khi tường trình của FAO chú ý
hơn đến hoàn cảnh phát triển nông thôn của LNXH cũng nhưđóng góp của nó đế cải thiện
việc sử dụng đất. Báo cáo của Ngân hàng Thế giới lại nhấn mạnh đến sự cầ
n thiết phải
quan tâm hơn nữa đến sự phát triển LNXH và từ sự phát triển này ảnh hưởng đến cộng
đồng tại chỗ.
Sau những thảo luận về khái niệm và giải thích thuật ngữ LNXH, các khái niệm về
LNXH của FAO (1978); Srivastava và Phút (1979); Lantica (1982); Hoskins (1990);
Wiersum (1994); Si mon (1994) về cơ bản là đồng nhất đó là người dân nông thôn đảm
đương một phần của trách nhiệm quản lý tài nguyên rừng, đáp ứng nhu cầu liên quan đến
r
ừng của các nhóm dân cư thiệt thòi về quyền lợi thông qua những cố gắng của chính họ.
Thật sự khó đưa ra một khái niệm đầy đủ và được mọi nơi chấp nhận, nhưng với mục
tiêu của LNXH là phát triển nông thôn và đặt nặng sự tham gia của người dân thì có thể
hiểu một cách tổng quát LNXH là sự tham gia của cộng đồng nông thôn trong quản lý tài
nguyên rừng và phục vụ cho phát triển nông thôn. Các hoạt độ
ng LNXH thích hợp với mọi
hình thức sở hữu đất đai, LNXH cũng loại trừ bất cứ hình thức lâm nghiệp nào mà chỉ kinh
doanh bằng hình thức thuê mướn và trả công.
Theo Dõi Gilmour (1997) một số tên thường được gọi hiện nay là: Lâm nghiệp cộng
đồng, Lâm nghiệp cộng quản, Lâm nghiệp có sự tham gia, LNXH. Sự khác biệt này dựa
trên nhiều góc độ xã hội khác nhau, quan trọng là tổ chức nào chịu trách nhiệm chủ yếu
trong quả
n lý tài nguyên rừng, trách nhiệm quản lý rừng của cộng đồng, các nhóm của
cộng đồng, nông hộ, trình độ kiểm soát, sử dụng hoặc sở hữu hiện nay của nhà quản lý
ệt trong tiếp cận tài nguyên như thời gian trước. Cuối thập niên 80
người ta thừa nhận tiếp cận phục hồi rừng cần phải được mở rộng bằng việc chú ý nhiều
hơn nữa đến các vấn đề quản lý rừng. Do vậy bên cạnh tham gia vào tạo rừng mới, người
dân còn tham gia vào quản lý tài nguyên rừng.
2.2.2. Quan điểm về LNXH
Trong quá trình phát triển, chiến lược của LNXH rất đ
a dạng, mỗi một chiến lược có
những đặc điểm, thế mạnh và giới hạn cụ thể với các mục tiêu quản lý rừng và phát triển
nông thôn khác nhau. Do vậy, có nhiều cách nhìn nhận về LNXH tùy bối cảnh kinh tế xã
hội có những quan điểm khác nhau về LNXH, đó là: một phương thức tiếp cận có sự tham
gia; một lĩnh vực quản lý tài nguyên; một phương thức quản lý tài nguyên.
2.2.2.1. LNXH được coi như là một phương thức tiếp cận có sự tham gia
Trong LNTT việc quản lý tài nguyên rừng chủ yếu là do lực lượng nhà nước đảm
nhận với mục tiêu là theo đuổi lợi ích kinh tế của nhà nước. Với mục tiêu đó việc lập kế
hoạch là theo kiểu từ trên xuống, nghĩa là đưa ra một số chỉ tiêu kế hoạch cần đạt được cho
từng bộ
phận, tiếp theo đó là bằng mọi cách để thực hiện bằng được các chỉ tiêu đó. Với
việc lập kế hoạch như vậy các hoạt động lâm nghiệp chủ yếu chú trọng tới lợi ích kinh tế
mà ít quan tâm tới môi trường và không hoặc rất ít chú ý tới nhu cầu và mối quan tâm của
người dân. Người dân địa phương lúc này chỉ là Người ngoài cuộc, họ hầu như không
tham gia hoặc tham gia một cách th
ụ động vào từng công đoạn của việc quản lý bảo vệ và
phát triển rừng với tư cách là người làm thuê.
Tiêu điểm chủ yếu của LNXH là sự tham gia của các chủ thể địa phương vào việc
quản lý tài nguyên rừng. Các chủ thểđó bao gồm: người dân địa phương.(ởđây bao gồm
các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng và các tổ chức địa phương) và các tổ chức phát triển
khác M
ục tiêu của LNXH là quản lý tài nguyên rừng để gia tăng năng suất rừng, sản xuất
bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, đồng thời để nâng cao đời sống
của người dân địa phương và phát triển cộng đồng địa phương, đem lại công bằng xã hội.
lâm nghiệp chuyên nghiệp hoặc các tổ chức phát triển nhằm khuyến khích những hoạt
động quản lý rừng được đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân địa phương, hoặc làm thích
ứng việc quản lý ở các khu rừng của nhà nước nhằm trực tiếp cải thiện phúc lợi của các
cộng
đồng nông thôn địa phương.
Như vậy, LNXH được xem như là chiến lược của các nhà lâm nghiệp chuyên nghiệp,
các tổ chức phát triển với mục đích khuyến khích sự tham gia tích cực của nhân dân địa
phương. Đa dạng hoá quản lý rừng như là phương tiện cải thiện điều kiện sống của cộng
đồng, cũng có thể được xem như hoạt động quản lý rừng do nhân dân thực hi
ện như là một
phần trong sinh kế của họ.
2.2.2.2. LNXH được coi như một lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng
LNXH được coi như là một lĩnh vực quản lý tài nguyên có nghĩa là LNXH là một
lĩnh vực chuyên môn tách biệt nhằm mục đích giải quyết các vấn đề mà lâm nghiệp truyền
thống không thể tháo gỡ được. Đó là, thứ nhất, nạn phá rừng ngày càng gia tăng ở tất các
nước
đặc biệt là các nước đang phát triển; thứ hai, tài nguyên rừng bị suy thoái có ảnh
hưởng tiêu cực đến môi trường sinh thái trên toàn cầu (hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm nước và
không khí, ); thứ ba, đời sống của người dân sống ở miền núi và trung du không những
không được cải thiện mà ngày càng giảm sút; thứ tư, sự phân hoá giữa người giàu và
người nghèo ngày càng cao, tỷ lệ người nghèo sống ở vùng núi và trung du ngày càng
nhiều; thứ năm, không huy động đượ
c mọi lực lượng tham gia vào việc quản lý bảo vệ và
phát triển rừng, đặt biệt là lực lượng lao động nông thôn miền núi.
Khi LNXH được coi như là một lĩnh vực quản lý tài nguyên có nghĩa là nó có mục
tiêu riêng, đối tượng tác động riêng, phương thức quản lý riêng và nó tồn tại một cách độc
lập tương đối trong không gian và thời gian. Theo quan điểm này thì LNXH tồn tại song
song với Lâm nghiệp thương mại, Lâm nghiệp bảo tồ
n, thậm chí song song với Lâm
nghiệp và Nông nghiệp.
Đối với rừng đặc dụng, hoạt động chủ yếu là huy động người dân tham gia bảo vệ
rừng bằng cách nâng cao nhận thức, chú trọng nhiều hơn các hoạt động giáo dục và tuyên
truyền.
Đối với từng sản xuất, các hoạt động liên quan đến việc bảo vệ, khoanh nuôi, tái
sinh và làm giàu rừng được quan tâm nhiều hơn, các hoạt động này thường chú ý
đến việc
chuyển giao kỹ thuật, phát triển công nghệ có sự tham gia, người dân được hưởng một số
quyền lợi trực tiếp từ rừng.
LNXH được coi như là một trong những phương thức quản lý tài nguyên có nghĩa là
LNXH là một phương thức quản lý tài nguyên rừng mới và dần dần thay thế cho phương
thức quản lý cũđó là LNTT. LNXH là một phương thức quản lý tài nguyên rừng với hình
thứ
c tiếp cận mới trong đó sự tham gia của người dân là yếu tố cơ bản nhất đó là tiếp cận
lấy người dân làm trung tâm.
LNTT trước đây theo đuổi mục đích kinh tế vì vậy sản phẩm chính của lâm nghiệp là
gỗ, các sản phẩm khác ít được quan tâm hoặc không được quan tâm. Việc quản lý tài
nguyên rừng chỉ do một lực lượng duy nhất quản lý đó là lâm nghiệp nhà nước, kỹ thu
ật
áp dụng chủ yếu là các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, các qui chế trồng, chăm sóc và khai
thác rừng làm sao thu được các sản phẩm gỗ nhiều nhất.
Khác với LNTT, mục tiêu LNXH là đáp ứng nhu cầu của người dân và cộng đồng,
do vậy sản phẩm của LNXH không phải chỉ là gỗ đơn thuần mà LNXH còn trực tiếp sản
xuất ra các sản phẩm khác dựa trên tiềm năng, năng lực và nhu cầu của ng
ười dân địa
phương. Các sản phẩm đó bao gồm chất đất, lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, nước,
cảnh quan du lịch. Vì LNXH đa dạng hoá sản phẩm nên kỹ thuật áp dụng chủ yếu là nông
lâm kết hợp với nhiều ngành tham gia. Ngoài ra, LNXH còn quản lý nguồn tài nguyên
rừng dựa trên từng vùng sinh thái, nhân văn, duy trì, bảo tồn và phát triển các tập tục
truyền thống và bản sắc của các dân tộc, nên khi áp d
mô lớn, do các nhà lâm nghiệp chuyên nghiệp điều hành với cách quản lý tập trung và theo
quy định của luật pháp, hoạt động trên diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng rộng lớn.
Trong LNTT việc qui định những chỉ tiêu khai thác gỗ hàng hoá từ rừng mà không
quan tâm đến quyền lợi của các cộng đồng nông thôn sống trong rừng và gần rùng. LNTT
tiến hành qu
ản lý rừng.bằng các chiến lược, chương trình của nhà nước vạch ra mà không
có phần đóng góp của dân. LNTT sử dụng dân như là người làm công ăn lương.
LNXH lại quan tâm đến mối quan hệ giữa con người, rừng và cây gỗ. Do vậy những
hoạt động của nó đều có liên quan với những mục tiêu xã hội, quản lý rừng sao cho có lợi
trực tiếp cho các cộng đồng nông thôn.
Nhiều nhà khoa học trong đó có Wiersum ( 1 994) đã đưa ra những đặc trưng phân
biệt LNXH và LNTT. Người ta không thể không nhấn mạnh đến một đặc trưng cơ bản
nhất là sự tham gia của người dân trong các hoạt động LNXH. Thật không thể tưởng tượng
được, thực hiện LNXH mà lại thiếu sự tham gia của người dân địa phương trong những
quyết định đầy đủ về quản lý tài nguyên rừng và cây gỗ.
Trong LNXH, s
ự chuyển quyền quản lý rừng và cây gỗ cho cộng đồng nông thôn địa
phương là một biểu hiện của phân quyền, huy động mọi nguồn lực của xã hội tham gia vào
việc quản lý sử dụng tài nguyên rừng trên cơ sở luật pháp và chính sách đồng thời thông
qua đó nhàm cải thiện các nhu cầu sống của người dân, đặc biệt là người nghèo ở nông
thôn. Đây cũng là một cách thức làm giảm những tác độ
ng tiêu cực của con người đến tài
nguyên rừng.
Những đặc trưng chủ yếu phân biệt giữa LNXH và LNTr ở các nước nhiệt đới được
Wiersum (1994) đưa ra dựa trên vai trò của người quản lý, những đặc trưng kỹ thuật và tổ
chức được trình bày trong Bảng 2.2.
Bảng 2.2. Những đặc trưng chủ yếu của LNXH và LNTT ở các nước nhiệt đới
Điều 9. Người sử dụng đất
Người sử dụng đất quy định trong Luật này bao gồm:
-Các tổ chức trong nước bao gồm cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chứ
c chính
trị : xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội
-nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ
trang nhân dân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ được Nhà nước giao đất
cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nh
ận chuyển quyền sử
dụng đất;
Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc công
nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất;
Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn,
làng, ấp, bản, buôn, phẩm, sóc và các điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán
hoặc có chung dòng họ đượ
c Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;
-Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo
riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà
nước công nhận quyền sử dụng đất hoặc giao đất;
-Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ
quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính
phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc
tổ chức liên Chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên Chính phủ được Nhà nước Việt
Nam cho thuê đất;
-Người Việt Nam định cưở nước ngoài về đầu tư, hoạt
động văn hoá, hoạt động khoa
học thường xuyên hoặc về sống ổn định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất,
cho thuê đất, được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
-Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo phép luật về đầu tư
được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất. Điều 10. Những bảo đảm cho người sử
Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công nghiệp;
đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho hoạt động khoáng
sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
+ Đất sử dụng vào mụ
c đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng
các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công
cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng các công trình
công cộng khác theo quy định của Chính phủ;
Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng;
Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;
Đất làm nghĩa trang, ngh
ĩa địa;
Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
Đất phi nóng nghiệp khác theo quy định của Chính phủ;
-Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng.
2.3.1.2. Luật bảo vệ và phát triển rừng
Luật Bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông qua năm 1991 và sửa đổi năm
2004. Một số nội dung bên quan đến các hoạ
t động LNXH như sau:
Điều 4. Phân loại rừng
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân thành ba loại sau đây: -Rừng
phòng hộ được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn,
chống sa mạc hoá, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường,
bao gồm:
Rừng phòng hộ đầu nguồn;
Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;
Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển;
sản xuất là rừng trồng, nhận quyền sử dụng rừng, nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất
là rừng trồng.
Đơn vị vũ
trang nhân dân được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng.
-Tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm
nghiệp được Nhà nước giao rừng, giao đất để phát triển rừng.
Người việt nam định cưở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước giao rừng,
giao đất, cho thuê đất để phát triển rừng.
Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư tại Việt Nam được Nhà nước cho thuê rừng, cho
thuê đất để phát triển rừng.
Điều 37. Trách nhiệm của chủ rừng
-Chủ rừng có trách nhiệm bảo vệ rừng của mình; xây dựng và thực hiện phươ
ng án,
biện pháp bảo vệ hệ sinh thái rừng; phòng chống chặt phá rừng; phòng chống săn, bắt, bày
động vật rừng trái phép; phòng cháy, chữa cháy rừng; phòng trừ sinh vật gây hại rừng theo
quy định của Luật này, pháp luật về đất đai, pháp luật về phòng cháy chữa cháy, pháp luật
về bảo vệ và kiểm dịch thực vật, pháp luật về thú y và các quy định khác của pháp luật có
liên quan.
Chủ rừng không thực hiện các quy đị
nh trên mà để mất rừng được Nhà nước giao,
cho thuê thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Điều 59. Quyền chung
của chủ rừng
Được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng rừng, quyền sở
hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Được sử dụng rừng ổn định, lâu dài phù hợp với thời hạn giao rừng, cho thuê rừng
và thời hạn giao đất, cho thuê đất.
Được sản xuất lâm nghiệp - nông nghiệp - ngư nghiệp kết hợp theo quy chế quản lý
rừng, trừ rừng đặc dụng.
Được hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên diện tích được giao, được thuê,
bán thành quả lao động, kết quả đầu tư cho người khác.
-Chỉ thị số 38/2005/CT - TTg, ngày 05 tháng 12 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ
về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng (rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất).
Quyết định số 40/2005/Q
Đ - BNN, ngày 07 tháng 07 năm 2005 của Bộ NN &
PTNT về việc ban hành Quy chế về khai thác gỗ và lâm sản.
Quyết định số 62/2005/QĐ - BNN, ngày 12 tháng 10 năm 2005 của Bộ NN &
IyrNT về việc ban hành Bản quy định tạm thời về tiêu chí phân loại rừng đặc dụng.
-Nghị định 169/1999/NĐ - CP, ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Thủ tướng Chính
phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổ
n
định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
-Quyết định số 186/2006/QĐ - TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng.
-Thông tư số 56/1999/Tr/BNN - KL, ngày 30 tháng 03 năm 1999 của Bộ NN &
PTNT về hướng dẫn xây dựng quy ước bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư
thôn, làng, buôn, bản, ấp.
Chỉ thị số 12/2003/CT - TTg, ngày 16 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ
về vi
ệc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng.
-Quyết định số 258/2006/QĐ - TTg ngày 09 tháng 11 năm 2006 về việc phê duyệt
chương trình điều tra, đánh giá và theo dõi diễn biến tài nguyên rừng giai đoạn 2006 -
2010 (chu kỳ IV).
-Nghị định số 1 39/2004[NĐ - CP ngày 25 tháng 06 năm 2004 của Chính phủ về xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng bảo vệ rừng và quản lý lâm sả
n.
Quyết định số l06/2006/QĐ - BNN ngày 27 tháng 11 năm 2006 về việc ban hành
bản hướng dẫn quản lý rừng cộng đồng dân cư nông thôn.
Quyết định số 304/2005/QĐ - TTg, ngày 23 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng
Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng
Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn
-Nghị quyết s
ố 73/2006/QHl 1 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội khoá 1 1 ,
kỳ họp thứ 10 về việc điều chỉnh chỉ tiêu, nhiệm vụ của Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng
trong giai đoạn 2006 - 20 1 0
Thông tư số l02/2006/TT - BNN ngày 13 tháng 11 năm 2006 của Bộ NN & PTNT
hướng dẫn một sốđiều của Nghị định số 135/2005/NĐ - CP ngày 08 tháng 11 năm 2005
của Chính phủ về giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng s
ản xuất và đất có mặt nước nuôi
trồng thuỷ sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh
Thông tư số 25/2006/TT - BTC ngày 30 tháng 03 năm 2006 hướng dẫn thực hiện
việc hỗ trợ doanh nghiệp nông lâm nghiệp Nhà nước, Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban
quản lý rừng phòng hộ sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số cư trú hợp pháp tại các
tỉnh Tây Nguyên
-Nghị định số 56/2005!N
Đ - CP ngày 26 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ về
khuyến nông, khuyến ngư