- 1 -
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 150 của WTO, do đó các hoạt động
kinh doanh quốc tế sẽ ngày càng phát triển, các hoạt động kinh doanh ngày
càng hội nhập sâu hơn và rộng hơn. Các giao dịch buôn bán thương mại diễn ra
với số lượng ngày càng nhiều. Nhu cầu thanh toán quốc tế ngày càng cao. Khi
mua bán một lô hàng có giá trị lớn, người bán nên yêu cầu người mua, trong
hợp đồng mua bán, thanh toán tiền hàng bằng phương thức nào: thư tín dụng
không hủy ngang hay bằng phương thức nhờ thu, hay bằng phương thức chuyển
tiền để có lợi cho mình.
Tuy nhiên, rủi ro trong thanh toán không chỉ do từ bản chất của các
phương thức thanh toán, mà còn gây ra bởi nhiều lý do. Đó có thể là do các nhà
xuất, nhập khẩu thiếu kinh nghiệm trong việc sử dụng các phương thức thanh
toán quốc tế, do cách làm việc của các ngân hàng, hoặc vô vàn những lý do
khách quan khác.
Cho đến nay, dù rất cố gắng thì các cơ quan chức năng và ICC
1
vẫn chưa
thực sự tìm ra được một phương thức thanh toán nào mà không hề có một rủi ro
nào cho cả hai bên mua và bán. Phương thức tín dụng chứng từ (thanh toán
bằng L/C) được xem là phương thức có nhiều ưu việt hơn cả bởi nó giảm thiểu
được nhiều rủi ro nhất cho cả hai bên xuất – nhập khẩu. Nhưng L/C vẫn chưa
phải là chìa khóa vạn năng trong thanh toán, nó chỉ đảm bảo quyền lợi cho cả
người bán và người mua hơn các phương thức khác mà thôi.
Trong quá trình thực tập, nhận thấy sự cấp thiết phải phát triển hoạt động
thanh toán quốc tế tại công ty TNHH Nam of London –Tiền Giang, đồng thời để
có thêm kiến thức về thanh toán quốc tế, em đã quyết định chọn đề tài “Một số
giải pháp nhằm hoàn thiện phương thức thanh toán quốc tế tại công ty TNHH
Nam of London” làm đồ án tốt nghiệp cho mình.
1
1. KHÁI NIỆM THANH TOÁN QUỐC TẾ
Thanh toán quốc tế là việc thực hiện những nghĩa vụ tiền tệ dựa trên các cơ sở
quan hệ quốc tế trong đó quan hệ kinh tế là cơ bản.
(http://thanhai.wordpress.com)
Điều kiện áp dụng:
Phải mở tài khoản qua lại lẫn nhau hoặc là có mối quan hệ phụ thuộc nhau
(chi nhánh của Ngân hàng mình ở nước ngoài).
Thanh toán quốc tế khác với thanh toán nội địa không chỉ đòi hỏi các chủ
thể tuân theo những quy định pháp lý quốc gia mà còn phải tuân theo cả những
quy định pháp lý, các hiệp định, hiệp ước quốc tế cũng như thông lệ và tập quán
ở các nước.
2. VAI TRÒ CỦA CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ
2.1. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế
Thanh toán quốc tế là cơ sở tính toán cán cân thanh toán quốc tế, kiểm soát
hồng ngoại tệ thông qua hệ thống ngân hàng để thực hiện các chính sách về tỷ
giá hối đoái, tiền tệ, tăng quỹ dự trữ của quốc gia.
Thanh toán quốc tế cũng như thương mại quốc tế là cầu nối của hệ thống kinh
tế thế giới góp phần mở rộng quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với các nước.
2.2. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với các ngân hàng thương mại
Rút ngắn thời gian chu chuyển vốn.
Giảm bớt những rủi ro liên quan tới sự biến động của tiền tệ, tới khả năng
thanh toán của con nợ.
Tạo điều kiện cho phát triển và mở rộng hoạt động ngoại thương.
Là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa những
tổ chức, cá nhân, giữa các quốc gia khác nhau.
Là một mắt xích không thể thiếu trong dây chuyền hoạt động kinh tế.
- 5 -
2.3. Vai trò của thanh toán quốc tế đối với các doanh nghiệp XNK
2
Thanh toán quốc tế là khâu cuối cùng của hoạt động kinh doanh xuất nhập
Hối phiếu trả ngay
Hối phiếu trả chậm
Căn cứ vào chứng từ thanh toán
Hối phiếu trơn
Hối phiếu kèm chứng từ (chứng từ D/P hoặc chứng từ D/A)
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng
Hối phiếu đích danh
Hối phiếu trả cho người cầm hối phiếu
Hối phiếu theo lệnh
3.2. Séc (Cheuque/check)
3.2.1. Khái niệm
Séc là một tờ mệnh lệnh vô điều kiện của người chủ tài khoản tiền gửi, ra lệnh
cho ngân hàng trích từ tài khoản của mình một số tiền nhất định để trả nợ cho
người cầm séc, người có tên trên séc hoặc trả theo lệnh của người ấy.
(Công ước Geneve, sách NVNT)
3.2.2. Những điều kiện thành lập séc
Người phát hành séc phải có tiền gởi trong tài khoản mở tại ngân hàng. Số
tiền trên tờ séc không được vượt quá số dư có trên tài khoản tại ngân hàng. Nếu
không có tiền, người phát hành séc phải vay của ngân hàng.
Séc có giá trị thanh toán như tiền tệ, cho nên séc được làm bằng các văn bản
và có đầy đủ những sự ghi chú bắt buộc theo luật định. Thông thường, séc được
in mẫu sẵn, người phát hành séc chỉ phải điền vào những dòng trống những yêu
cầu của mình bằng bút mực không phai, tốt nhất là bằng đánh chữ.
Người hưởng lợi séc có thể là một người và cũng có thể là nhiều người.
- 7 -
3.1.3. Phân loại séc
Căn cứ vào tính chất chuyển nhượng
Séc vô danh
Séc đích danh
Séc theo lệnh
( trang 38 sách NVNT)
Đây là phương thức thanh toán đơn giản nhất. Phương thức chuyển tiền là
thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người nhận tiền. Ngân hàng khi
thực hiện việc chuyển tiền và trả tiền chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo
ủy nhiệm để được hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì cả đối với người
mua và cả người bán.
Việc chuyển tiền xem như hoàn thành khi thanh toán hết số tiền cho
người thụ hưởng; trước thời điểm này, số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền
sở hữu của người chuyển tiền và người này có thể hủy bỏ lệnh chuyển tiền, mà
người thụ hưởng không thể khiếu nại với ngân hàng. Vậy việc trả tiền phụ thuộc
vào thiện chí của người mua, quyền lợi của người xuất khẩu không đảm bảo.
Trong quan hệ mua bán, thanh toán quốc tế, phương thức chuyển tiền chỉ
được chọn làm phương tiện thanh toán đối với các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu, cung ứng dịch vụ có liên quan mật thiết, tin cậy lẫn nhau hay trong các
khoản tương đối nhỏ như thanh toán các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu:
chi phí vận chuyển, bảo hiểm, mậu dịch, chuyển vốn, chuyển lợi nhuận đầu tư về
nước… vì khâu thanh toán này dễ làm nảy sinh việc chiếm dụng vốn của người
bán, nếu bên mua cố tình dây dưa, kéo dài việc ra lệnh thanh toán.
- 9 -
Có hai hình thức chuyển tiền:
Chuyển tiền bằng thư (M/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền viết
thư (lệnh trả hoặc giấy báo ghi có) ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả
tiền cho người nhận.
Chuyển tiền bằng điện báo (T/T): Ngân hàng thực hiện việc chuyển tiền
điện ra lệnh cho ngân hàng đại lý ở nước ngoài trả tiền cho người nhận.
Ngân hàng chuyển tiền thông thường qua ngân hàng đại lý của mình ở nước
ngoài hưởng lợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền.
4.1.2. Quy trình thanh toán
Hình 1.1. Quy trình thanh toán chuyển tiền trả sau
4
tiền bằng điện báo là phương thức thanh toán nhanh nhất.
Nhược điểm:
Việc giao hàng của bên xuất khẩu và trả tiền của bên nhập khẩu hoàn toàn phụ
thuộc vào khả năng và thiện chí của mỗi bên. Vì vậy, quyền lợi người nhập khẩu
và người xuất khẩu khó đảm bảo. Nếu sử dụng hình thức chuyển tiền trả sau thì
vì một lý do gì đó người nhập khẩu lập lệnh chuyển tiền gởi cho ngân hàng thì
Ngân hàng chuyển tiền
Ngân hàng đại lý
Người chuyển tiền
Người thụ hưởng
1
5
3
4
2
- 11 -
người xuất khẩu sẽ chậm nhận được tiền thanh toán mặc dù hàng hóa đã chuyển
đi. Trong trường hợp này người xuất khẩu bị thiệt hại. Còn nếu dùng phương
thức thanh toán chuyển tiền trước thì người xuất khẩu đã nhận được tiền trước
khi giao hàng nên không sợ bị thiệt hại do chậm trả hay bị người nhập khẩu
chiếm dụng hàng hóa nhưng lại gây bất lợi cho người nhập khẩu ở chỗ người
nhập khẩu đã chuyển tiền đi thanh toán cho người xuất khẩu rồi nhưng chưa
nhận được hàng. Vì vậy, một lý do nào đó khiến người xuất khẩu nhận chậm trễ
giao hàng, người nhập khẩu sẽ bị thiệt hại.
4.2. Phương thức nhờ thu (Collection of payment)
4.2.1. Khái niệm
Nhờ thu là phương thức thanh toán trong đó người xuất khẩu sau khi hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ tiến hành ủy thác cho ngân hàng
phục vụ mình thu hộ tiền từ nhà nhập khẩu dựa trên cơ sở hối phiếu hoặc chứng
từ do người xuất khẩu lập ra.
Có 3 loại nhờ thu kèm chứng từ:
Nhờ thu kèm chứng từ DP (Documents against payment): ngân hàng thu hộ
chỉ được phép giao chứng từ cho người nhập khẩu đã thanh toán giá trị Hối
phiếu và phí thanh toán (nếu có).
Nhờ thu kèm chứng từ DA (Documents against acceptance): ngân hàng thu hộ
chỉ được phép giao chứng từ cho người nhập khẩu đã ký chấp nhận thanh toán
giá trị hối phiếu và phí thanh toán (nếu có).
Nhờ thu kèm chứng từ DOT (Documents against other terms and conditions):
ngân hàng thu hộ chỉ được phép giao chứng từ cho người nhập khẩu đã được
thực hiện các điều kiện và điều khoản mà người xuất khẩu đặt ra.
- 13 -
4.2.3. Quy trình thanh toán
Hình 1.3. Quy trình thanh toán nhờ thu trơn
Bước 1: Người xuất khẩu giao hàng và bộ chứng từ hàng hóa cho người nhập
khẩu.
Bước 2: Người xuất khẩu lập chỉ thị nhờ thu và hối phiếu nộp vào ngân hàng đề
ủy thác cho ngân hàng thu hộ tiền ở người nhập khẩu.
Bước 3: Ngân hàng nhận ủy thác chuyển chỉ thị nhờ thu và hối phiếu ngân hàng
đại lý để thông báo cho người nhập khẩu biết.
Bước 4: Ngân hàng đại lý chuyển hối phiếu cho người nhập khẩu để yêu cầu
chấp nhận thanh toán. Nếu hợp đồng thỏa thuận điều kiện thanh toán D/A người
nhập khẩu chỉ cần chấp nhận thanh toán, nếu là D/P người nhập khẩu phải thanh
toán ngay cho người xuất khẩu.
Bước 5: Người xuất khẩu thông báo đồng ý trả tiền hay từ chối thanh toán.
Bước 6: Ngân hàng đại lý trích tiền từ tài khoản của người nhập khẩu chuyển
sang ngân hàng ủy thác thu để ghi có cho người xuất khẩu trong trường hợp
người nhập khẩu đồng ý trả tiền hoặc thông báo cho ngân hàng ủy thác thu biết
trong trường hợp người nhập khẩu từ chối trả tiền.
Bước 7: Ngân hàng ủy thác thu ghi có và báo có cho người xuất khẩu hoặc thông
báo cho người nhập khẩu biết về việc người nhập khẩu từ chối trả tiền.
người nhập khẩu.
Ngân hàng nhận ủy
thác
Ngân hàng đại lý
Nhà xuất khẩu
Nhà nhập khẩu
1
2
8
7
3
5
6
4
- 15 -
4.2.4. Rủi ro trong phương thức nhờ thu đối với các nhà kinh doanh xuất nhập
khẩu
Rủi ro đối với nhà xuất khẩu:
* Nhờ thu trơn:
Sau khi người nhập khẩu nhận hàng, người xuất khẩu mất khả năng kiểm soát
hàng hóa.
Người nhập khẩu không thể thanh toán, từ chối thanh toán hoặc thanh toán trễ
hạn.
Quy định quản lý ngoại hối ở quốc gia nhập khẩu ngăn cản việc chuyển ngoại
tệ ra nước ngoài.
* Nhờ thu chứng từ D/P:
Người nhập khẩu không thể trả tiền mặt để nhận hàng. Người xuất khẩu phải
tìm một nhà nhập khẩu thích hợp khác, bán với giá chiết khấu, hoặc thu xếp chở
hàng về làm phát sinh những chi phí và hao hụt không cần thiết, đặc biệt trong
một thị trường đang giảm giá.
* Nhờ thu chứng từ D/P
Người nhập khẩu trả tiền trước khi nhận hàng. Người nhập khẩu có thể gặp hàng
hóa bị khiếm khuyết hay không đúng về chất lượng/số lượng.
* Nhờ thu chứng từ D/A
Người nhập khẩu phải chấp nhận thanh toán hối phiếu trước khi nhận được hàng.
Rủi ro có thể phát sinh nếu hàng hóa bị khiếm khuyết, kém chất lượng hoặc
không đúng số lượng đã đặt. Trong lúc đó, người nhập khẩu đã nhận trách nhiệm
trên hối phiếu thì người nhập khẩu phải đáp ứng những ràng buộc trên hối phiếu
bất chấp những hàng hóa được giao không đúng với hàng hóa mà người xuất
khẩu đã hứa trong hợp đồng.
- 17 -
4.3. Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credits)
4.3.1. Khái niệm
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận mà
trong đó, một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách
hàng (người xin mở thư tín dụng) cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho một
người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối
phiếu do người thứ ba ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người thứ ba này
xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp những quy định
đề ra trong thư tín dụng.
(trang 49, sách NVNT)
4.3.2. Quy trình thanh toán
Hình 1.5 : Quy trình thanh toán L/C
Giải thích:
Bước 1: Hai bên xuất khẩu và nhập khẩu ký hợp đồng thương mại.
Bước 2: Người nhập khẩu làm thủ tục theo yêu cầu ngân hàng mở L/C mở L/C
cho người xuất khẩu thụ hưởng.
Ngân hàng mở LC
NH thông báo LC
Người nhập khẩu
Bước 11: Người nhập khẩu xem xét chấp nhận trả tiền và ngân hàng mở L/C trao
bộ chứng từ để người nhập khẩu có thể nhận hàng.
4.3.3. Phân loại thư tín dụng
Căn cứ vào tính chất
Thư tín dụng có thể hủy ngang: là một cam kết không ràng buộc trách nhiệm,
nó đem lại cho nhà nhập khẩu sự linh hoạt tối đa. Có nghĩa là ngân hàng phát
hành có thể bổ sung, tu chỉnh hoặc hủy bỏ bất cứ lúc nào mà không cần phải
thông báo trước cho người thụ hưởng. Trừ phi nhà xuất khẩu đã xuất trình chứng
từ cho ngân hàng phát hành và việc thanh toán hoặc chấp nhận và thanh toán hối
phiếu do người thụ hưởng ký phát đã được thực hiện.
- 19 -
Thư tín dụng không thể hủy ngang: nó ràng buộc trách nhiệm pháp lý của
ngân hàng phát hành đối với cam kết thanh toán có điều kiện do chính nó đưa ra
cho người thụ hưởng. Thư tín dụng không thể hủy ngang không thể được tu
chỉnh hoặc hủy bỏ nếu không có sự ưng thuận của người thụ hưởng, ngân hàng
phát hành và ngân hàng xác nhận (nếu có).
Căn cứ vào thời hạn thanh toán
Thư tín dụng chứng từ trả ngay: loại thư tín dụng này cho phép thanh toán
ngay khi xuất trình hối phiếu và/hoặc chứng từ tại ngân hàng được chỉ định
thanh toán. Ngân hàng này sẽ thực hiện thanh toán với điều kiện các chứng từ
xuất trình phù hợp với những điều khoản, điều kiện quy định trong thư tín dụng.
Ngân hàng thanh toán sẽ được bồi hoàn bởi ngân hàng phát hành bằng cách ghi
nợ tài khoản của nó mở tại ngân hàng thanh toán, nếu không có quan hệ tài
khoản với nhau thì sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng đại lý đóng vai trò là
ngân hàng bồi hoàn.Đối với thư tín dụng chứng từ không có xác nhận, ngân hàng
thông báo/thanh toán chỉ thanh toán cho người thụ hưởng khi nào có vốn quỹ.
Còn tín dụng thư có xác nhận sẽ phải thanh toán ngay, không trì hoãn cho người
thụ hưởng mà không có quyền truy đòi bồi hoàn khi ngân hàng phát hành từ chối
thanh toán.
Thư tín dụng chứng từ chấp nhận: Loại tín dụng chứng từ này có chỉ định
định không có quyền đòi lại tiền từ người này, kể cả trong trường hợp ngân hàng
phát hành không hoàn tiền cho ngân hàng được chỉ định.
Thư tín dụng không hủy ngang có giá trị trực tiếp: là loại thư tín dụng không
hủy ngang, trong đó duy nhất chỉ có ngân hàng phát có nghĩa vụ thanh toán giá
trị hối phiếu hoặc chứng từ của người thụ hưởng. Ngân hàng phát hành cũng
không thực hiện bất cứ một cam kết hay nghĩa vụ nào của mình đối với bất cứ ai
ngoài người thụ hưởng. Loại thư tín dụng này thường hết hạn hiệu lực tại ngân
hàng phát hành.
- 21 -
Thư tín dụng không hủy ngang cho phép chiết khấu: là loại thư tín dụng không
hủy ngang cho phép chiết khấu ở ngân hàng được chỉ định. Ngân hàng phát hành
cam kết thanh toán giá trị hối phiếu hoặc chứng từ cho bất kỳ ai đã chiết khấu
chúng, miễn rằng điều khoản, điều kiện của tín dụng chứng từ được đáp ứng phù
hợp. Loại thư tín này thường hết hạn hiệu lực tại ngân hàng chiết khấu. Có 2 loại
tín dụng không hủy ngang cho phép chiết khấu.
+ Thư tín dụng không hủy ngang cho phép chiết khấu hạn chế.
+ Thư tín dụng không hủy ngang cho phép chiết khấu tự do.
Các loại L/C đặc biệt
Thư tín dụng tuần hoàn: là loại L/C không hủy ngang, trong đó quy định
rằng khi L/C được sử dụng hết kim ngạch hoặc sau khi hết hiệu lực của L/C thì
nó lại tự động có giá trị như cũ, và cứ như vậy, L/C tuần hoàn cho đến khi nào
hoàn tất giá trị của hợp đồng. L/C tuần hoàn được áp dụng trong trường hợp hai
bên xuất khẩu và nhập khẩu có quan hệ thường xuyên và đối tượng thanh toán
không thay đổi. Khi áp dụng L/C tuần hoàn, tổ chức nhập khẩu có 2 lợi điểm:
+ Không bị ứ đọng vốn.
+ Giảm được phí tổn do việc mở L/C.
L/C tuần hoàn chia làm 2 loại:
L/C tuần hoàn có tích lũy: là loại L/C cho phép chuyển kim ngạch đợt
giao hàng trước vào đợt giao hàng sau, nếu đợt giao hàng trước chưa hết và cứ
như vậy cho đến đợt giao hàng cuối cùng.
L/C đối ứng: là loại L/C được quy định là chỉ có giá trị hiệu lực khi L/C khác
đối ứng với nó được mở ra. Có nghĩa là khi người xuất khẩu nhận được L/C do
người nhập khẩu mở cho mình thì mình phải mở lại một L/C tương ứng thì nó
mới có giá trị.
- 23 -
Thư tín dụng điện tử (eLC): Khi eLC được dẫn chiếu trong LC thì LC này
gọi là eLC. eLC cho phép người thụ hưởng chọn việc xuất trình chứng từ bằng
văn bản hoặc chứng từ điện tử.
Lợi ích của khách hàng khi sử dụng eLC:
+ Sử dụng eLC sẽ làm giảm bớt sự tham gia và làm thay đổi vai trò của
nhiều ngân hàng theo chiều hướng thuận lợi hơn.
+ Giảm được bất hợp lệ, tranh chấp, chậm trễ thanh toán.
+ Tiết kiệm được thời gian và chi phí giao dịch.
+ Giảm được rủi ro, gian lận trong giao dịch.
Lợi ích của ngân hàng khi sử dụng eLC
+ Giảm được chi phí giấy tờ, chi phí nhân sự.
+ Rủi ro gian lận sẽ được hạn chế.
+ Nâng cao khả năng cạnh tranhh cho ngân hàng.
4.3.4. Ưu nhược điểm
Ưu điểm:
- Đối với người xuất khẩu:
Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ cho phép người xuất khẩu nhận
được lời cam kết chắc chắn thanh toán của ngân hàng (nếu L/C là loại không hủy
ngang), không lệ thuộc vào các thiện chí của người mua.
Người mua không được quyền từ chối thanh toán vì bất cứ lý do gì nếu bộ
chứng từ xuất trình hoàn toàn phù hợp với quy định L/C.
Bộ chứng từ được ngân hàng khống chế nên không sợ mất quyền sở hữu hàng
hóa khi chưa nhận được tiền.
Có thể sử dụng L/C như một phương thức tài trợ cho xuất khẩu, người bán
nhận được tiền thanh toán trước khi hàng hóa đến cảng đến.
Nếu các chứng từ trong bộ chứng từ không phù hợp lẫn nhau theo yêu cầu
của L/C, việc thanh toán tiền có thể bị hoãn lại, thậm chí có thể bị từ chối thanh
toán.
Nếu người xuất khẩu không tuân theo bất cứ điều khoản nào của L/C, L/C
có thể bị mất giá trị thương mại.
- Đối với người nhập khẩu:
Người mua chắc chắn sẽ nhận được bộ chứng từ mà anh ta cần, chứ
không chắc chắn là sẽ nhận được hàng hoá do có thể người bán gian lận lập bộ
chứng từ khống để thanh toán.
Chi phí cho phương thức thanh toán này cao hơn các phương thức thanh
toán khác vì nhà nhập khẩu phải ký quỹ một số tiền khá lớn để được mở L/C, và
nếu người bán không giao hàng, người mua phải gánh chịu phí tổn mở L/C và
một số chi phí khác.
- Đối với ngân hàng:
Khi ngân hàng phát hành thư tín dụng, có nghĩa là ngân hàng cam kết
thanh toán cho nhà xuất khẩu, nếu nhà xuất khẩu thực hiện đúng các điều khoản
của L/C ngay trên cả khi nhà nhập khẩu không có khả năng thanh toán cho ngân
hàng.
Phương thức tín dụng chứng từ đòi hỏi ngân hàng phải có kiến thức
chuyên môn và kinh nghiệm trong việc điều hành L/C.
4.4. Một số phương thức thanh toán khác
4.4.1. Phương thức ghi sổ (Open account)
Phương thức ghi sổ là phương thức thanh toán mà trong đó tổ chức xuất khẩu
(người bán) sẽ mở một tài khoản đơn biên ghi nợ cho khách hàng (nhà nhập
khẩu) sau mỗi lần giao hàng. Sau một tháng, một quý, nửa năm hoặc một năm
nhà xuất khẩu sẽ viết một hóa đơn thương mại để đòi tiền.