Giáo trình văn học phương tây I - Phần 4 - Pdf 19

VHPT1/P.H.N

129
Phần IV
VĂN HỌC PHƯƠNG TÂY THẾ KỈ 18
(Văn học Ánh sáng)

Trước thế kỉ 18 chưa từng có giai đoạn nào văn học hào hứng sôi động như thời kì
này. Đây là giai đoạn chuyển mình quan trọng của văn học Tây Âu và thế giới.
Hoàn thành cách mạng tư sản ở nước Pháp.

“Ánh sáng”: Có hai luồng ánh sáng
1. Ánh sáng khoa học kĩ thuật
2. Ánh sáng tư tưởng cách mạng tư sản
Khái quát thế kỉ XVIII
1. Voltaire và Diderot- hai triết gia, nhà văn Pháp

Điđơrô (1713- 1784)

Danis Diderot- nhà triết học, nhà văn, nhà bác học, người đã đặt nền móng cho phong
cách hiện thực, mở đầu nền văn học tiến bộ Pháp thế kỉ 18.
Cha của Điđơrô là một người thợ thủ công luôn luôn mong sao cho con mình trở thành một
linh mục để có cuộc sống sung túc và được trọng vọng. Điđơrô không đi theo con đường
mà người cha đã vạch ra, ông đi vào cuộc sống đói nghèo, thiếu thốn của người trí thức
Pari đi tìm tự do.
Trong các tác phẩm của ông như Tư tưởng triết học, các tiểu thuyết Nữ tu sĩ, Giắc tín đồ
định mệnh, Cháu ông Ramô, ông đả phá kịch liệt giáo hội Thiên chúa giáo và bọn quý tộc
phong kiến.

đã thấy lưu hành nhiều bản sao trước khi kết thúc thế kỷ XVIII. Mãi đến mấy mươi năm
sau, bản in đầu tiên mới xuất hiện vào năm 1805, nhưng không phải bằng tiếng Pháp mà
bằng tiếng Đức qua ngòi bút bậc thầy của một nhân vật không phải tầm thường: đại thi hào
Goethe! Bản nền mà Goethe sử dụng sau đó cũng mất, và chính bản tiếng Đức này lại
được hai cây bút đáng ngờ là De Saur và Saint-Geniès dịch lại sang tiếng Pháp, công bố
năm 1821, và cố tình làm cho người ta lầm tưởng đó là nguyên tác của Diderot. Nguyên
bản tiếng Pháp thực sự xuất hiện vào năm 1823 trong ấn bản Brière về các tác phẩm của
Diderot. Tuy bị cắt xén và thiếu chính xác, bản in này dù sao cũng dựa vào một bản thảo
tiếng Pháp, sử dụng một trong nhiều bản sao thuộc về con gái của Diderot hiện đang tàng
trữ tại Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de Paris). Các bản sao khác - đều
đáng ngờ - cũng lưu hành trong thế kỷ XIX và được các nhà ấn hành sử dụng ít nhiều thiếu
khảo chứng. Một ấn bản nghiêm chỉnh, công bố ở Paris năm 1884, sử dụng bản chép tay
(đáng tin cậy) từ thư viện của chính Diderot do Nữ hoàng Catherine II mua trọn gói và
chuyển về St Petersburg sau khi Diderot qua đời. Nhưng, câu chuyện chưa dừng lại ở đó:
một bản thảo khác xuất hiện năm 1890 trong một tập hợp những vở kịch rất khó phân loại
được bày bán ở quầy bán sách cũ trên bờ sông Seine ở Paris. Một viên thủ thư ở Comédie-
Française là Georges Monval may mắn mua được “của hiếm” này và công bố vào năm
1891. Bản thảo này trở thành bản nền cho tất cả mọi ấn bản hiện đại, và sau đó được Thư
viện Pierpont Morgan Library ở New York mua đứt và hiện đang được tàng trữ ở đó.

Vài nét phác họa về số phận long đong của một tác phẩm từ tay một cây đại bút lừng danh
là Diderot – đồng tác giả và hầu như là người phụ trách chính của bộ Đại Bách khoa thư
khổng lồ đánh dấu cả một thời đại: thời đại Khai sáng - tự nó đã nói lên nhiều điều về nội
tâm của chính tác giả. Rồi khi nhận được một bản sao, Goethe đã hào hứng dịch ngay sang
tiếng Đức; một bản dịch tuyệt vời đến nỗi gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp sáng tác đồ sộ
của bậc thi hào, và cơ hồ như là tác phẩm của chính bản thân Goethe! Và một trong những
người được đọc đầu tiên và tiếp thu nó một cách chủ động và sáng tạo chính là Hegel, vì
chỉ hai năm sau khi bản dịch ra đời (1805), trong tác phẩm lớn đầu tay (Hiện tượng học
Tinh thần, 1807), Hegel đã tìm cách “tát cạn” ý nghĩa của Cháu ông Rameau như một hình
thái ý thức tiêu biểu của thời Khai sáng, đêm trước của Đại Cách mạng Pháp (1789). Hình

Người dẫn chuyện làm hạn từ trung giới. Ba mà là một, một mà là ba, giống như bản tính
trôi chảy của cuộc sống! Nhưng, Rameau (Hắn) là… Rameau, chứ không (còn) phải là
chàng Werther ẻo lả của Goethe luôn khổ sở với chính mình, cũng không (còn) phải là ông
nghè Faust cao ngạo luôn bận tâm đến việc hiện thực hóa cá nhân mình giữa dòng đời ô
trọc. Rameau bảo: “Tôi chịu đựng dễ dàng hơn tình trạng tầm thường của tôi.” Với nhận
xét ấy, Rameau đã ở vào một tâm thế khác, thậm chí, một thời đại khác. Và có lẽ chính chỗ
khác ấy đã hấp dẫn và kích thích Goethe!

3. Hegel đã sớm nhận ra chỗ khác này và vì thế, ông yêu tác phẩm và tuyên bố rằng Hắn là
một bước tiến lớn trong các hình thái ý thức. Hình thái này không chỉ vượt bỏ cái hình thái
“tự ngã ngay thật” tĩnh tại, giản đơn, cứng nhắc, thiếu sáng tạo của Tôi mà còn bỏ xa các
hình thái “cá nhân thực tồn” trước đó, hiện thân nơi những Werther, Faust, Karl Moor,
Don Quichotte…Bước tiến lớn ở đây được Hegel hiểu theo nghĩa biện chứng, tức đầy
nghịch lý. Nó không phải là sự tiến bộ đơn giản, trái lại, chứa đựng cả hai mô men: một
mặt là sự trưởng thành của tâm thức, của sự mất ảo tưởng và mặt kia là sự tha hóa trầm
trọng. Và với Hegel, việc khắc phục sự tha hóa không phải là quay trở về lại với trạng thái
tự nhiên nguyên thủy mà là đẩy sự tha hóa đến cùng cực để có thể chuyển hóa nó.

Thật thế, môi trường xã hội và điều kiện lịch sử đã đổi khác. Bối cảnh của câu chuyện là
khu vực trung tâm của Paris, trái tim của nền văn minh khai sáng, thị trường kinh tế và
thương mại phồn hoa nhất của nước Pháp. Ta biết rằng ta đang chứng kiến một xã hội đô
thị vào loại tiên tiến nhất thời bấy giờ. Xã hội ấy là con đẻ của chủ nghĩa tự do kinh tế
“laisser-faire” sơ kỳ của Adam Smith và của lòng tin mãnh liệt vào sức mạnh của giáo dục,
khai sáng và khoa học của Diderot, Voltaire… Nhưng, đằng sau mọi sự phồn hoa, tinh tế
và bao dung là sự xu thời, ích kỷ, vô luân trong những cảnh báo của J. J. Rousseau.

Xã hội ấy vừa là miếng đất lý tưởng cho những Rameau và… Xuân Tóc Đỏ tung hoành,
vừa không có chỗ cho anh ta và đồng bọn! Rameau là một kẻ đầy tính cách – yêu vợ con,
VHPT1/P.H.N


xé, đổ vỡ, một ý thức đã từng trải, “đã nhìn thấu hết” (hindurchgesehen) hiện thực bên
ngoài đúng như chúng trong sự thực. Trong khi sự ngây thơ, tĩnh tại của phong cách trước
chỉ có thể phát ngôn theo kiểu đơn âm thì phong cách sau – đã trải nghiệm sự giằng xé của
thế giới văn hóa bị tha hóa – là đa âm, có thể dệt nên cả một diễn từ đầy màu sắc và cung
bậc. Nó nói lên được sự đảo điên tuyệt đối, phổ biến giữa thực tại và tư tưởng, giữa danh
và thực cũng như sự xa lạ, tha hóa giữa chúng với nhau. Vì thế, ngôn ngữ của sự giằng xé,
đổ vỡ là có tính phá hủy, phân hóa mọi sự, cho thấy mọi giá trị đều bị xáo trộn, biến đổi,
“cá mè một lứa”.

Ngôn ngữ trào phúng sắc bén (geistreich) ấy của phong cách sau (cũng như của bản thân
tác phẩm như một sản phẩm của thời đại) được Hegel gọi là sự “thức nhận” (Einsicht), vừa
là tiền đề vừa là kết quả của phong trào khai sáng. Nói cách khác, bây giờ, con người có
thể hiểu quyền lực nhà nước và quyền lực kinh tế (vốn xa lạ và đầy quyền uy trước đây)
như là những hiện tượng giống như những hiện tượng khác trong thế giới, tức chúng cũng
phải phục tùng các quy luật, cũng là những thực thể có mâu thuẫn nội tại (vừa tốt vừa xấu,
vừa cao cả vừa thấp hèn…), nghĩa là, chúng cũng hữu tận và sẽ phải tiêu vong. Vì thế, như
đã nói, theo Hegel, giải pháp bước đầu để đi tới sự khắc phục tha hóa không phải là đồng
nhất hóa trực tiếp với bản thể xã hội mà là tăng cường sự tha hóa bằng ý thức sắc sảo như
hình tượng của Rameau. Hegel có cái nhìn lạc quan: … “Chỉ với tư cách là Tự-ý thức phẫn
VHPT1/P.H.N

133nộ, nổi loạn, Tự ngã mới nhận biết về tình trạng tự giằng xé, đổ vỡ của chính mình; và
ngay trong sự thức nhận ấy, thực tế Tự ngã đã tự nâng mình lên khỏi tình trạng ấy” (Sđd,
§526). Vì theo Hegel, “có ý thức tự giác về tình trạng bị giằng xé, đổ vỡ của chính mình và
tự mình phát biểu công khai ra điều ấy chính là tiếng cười chế nhạo dành cho sự hiện hữu,
cho sự hỗn loạn của cái toàn bộ, cũng như cho chính mình”… (§525).


Rameau là hình mẫu kinh điển của các xu hướng hư vô chủ nghĩa; anh ta hầu như tiếp thu
hết mọi luận cứ phản căn (anti-foundational) chống lại các hình thức truyền thống của
quyền uy luân lý, Nhà thờ và Nhà nước, tự nhận mình là hoàn toàn phi-luân và hư vô chủ
nghĩa. Rameau toát lên tinh thần của thời đại (Zeitgeist) như là kẻ tiền phong cho tâm thức
hậu hiện đại đang lan tràn hiện nay, nếu ta hỏi về hậu hiện đại như Lyotard (Hoàn cảnh
hậu-hiện đại/La condition post-moderne) rằng: “Hậu hiện đại là gì?… Rõ ràng nó là một
bộ phận của hiện đại… Một tác phẩm chỉ có thể trở thành hiện đại nếu trước đó nó đã là
hậu-hiện đại. Hiểu như thế, chủ nghĩa hậu-hiện đại không phải là chủ nghĩa hiện đại ở
điểm kết thúc của nó mà là ở trạng thái khai sinh của nó, và trạng thái này là hằng cửu”.
Cách nói nghịch lý này có nghĩa: hậu-hiện đại là tâm thức, là thử nghiệm có tính tiền
VHPT1/P.H.N

134phong trong lúc mới ra đời khi nó vi phạm những quy ước, vi phạm sự đồng thuận và các
giá trị hiện hành. Trạng thái này là hằng cửu trong mọi lĩnh vực – văn hóa, chính trị, xã
hội , trước khi có nỗ lực thiết lập lại trật tự của hiện đại! Như thế, đạo đức học hậu-hiện
đại có người tiền phong là Diderot, ít ra trong nhận thức rằng ta không cần phải ra sức xóa
bỏ tính hàm hồ, nước đôi của cuộc sống mà phải biết học cách đối diện với nó, sống chung
với nó.

Tuy nhiên, ta không thể quá lạc quan. Thật có ý nghĩa khi ta nghĩ đến tâm thế và cách hành
xử của ông triết gia, nhân vật xưng Tôi trong tác phẩm: “Tôi ngẫm nghĩ, tất cả những điều
anh bạn vừa nói nghe hay ho hơn là xác đáng.” Sau khi âm thầm thừa nhận tính giả đạo
đức của chính hàng ngũ của mình, Tôi vẫn không thực sự đi vào đối thoại mà chỉ bình luận
kiểu dấm dẳn, nhát gừng. Tôi liên tục trách Hắn đã thiếu nhất quán. Hắn vừa ngán ngẩm xã
hội thối nát, muốn học theo Diogène sống trong thùng gỗ để theo đuổi chân lý, vừa thú
nhận rằng không thể từ bỏ được bao cám dỗ của cuộc sống “haute couture”. Tôi vội phê
phán Hắn là đớn hèn (và Hắn vui vẻ đồng ý!) Tôi thừa nhận những điểm do Hắn vạch trần,


135Về Pháp ông ở tại lâu đài Château de Cirey tại mạn biên giới giữa vùng Champagne và
Lorraine. Chính nơi đây ông bắt đầu quan hệ với Émile của Châtelet, vợ của người chủ lâu
đài. Voltaire cùng bà nữ hầu tước này đã sưu tập nhiều sách vở tài liệu và cùng nhau
nghiên cứu chúng lại cùng nhau làm thí nghiệm "khoa học tự nhiên" ngay tại lâu đài. Bên
cạnh say mê khoa học tự nhiên và là tín đồ của Newton ông cũng nghiên cứu sử học và
viết Essay upon the Civil Wars in France (Luận văn về Nội chiến ở Pháp) bằng tiếng Anh.
Với tiểu sử vua Karl XII của Thụy Điển ông bắt đầu quan điểm phản đối tôn giáo của
mình. Ông cùng bà nữ hầu tước còn cùng nhau nghiên cứu triết học, nhất là siêu hình học.
Ông cùng nghiên cứu Kinh thánh và cho rằng cần phân tách nhà thờ ra khỏi nhà nước.
Sau khi Nữ hầu tước mất, ông sang Phổ phục vụ Friedrich Đại Đế. Mặc dù cuộc sống
vương giả nhưng Voltaire vẫn giữ thói chỉ trích của mình và với tác phẩm Diatribe du
docteur Akakia (Chỉ trích Bác sĩ Akkakia; tên đầy đủ Histoire du Docteur Akakia et du
Natif de St Malo) mà ông phê phán vị chủ tịch Viện Hàn lâm Berlin đã khiến Friedrich nổi
giận. Ông quay về Pháp nhưng vua Louise XV của Pháp cấm ông trở về Paris nên ông
quay sang Genève. Tuy ban đầu được đón chào nhưng ông lại viết luận văn chỉ trích triết
học của Gottfried Leibniz qua tác phẩm Candide, ou l'Optimisme (Ngay thẳng, hay lạc
quan; 1759) và ông lại rời thành phố.
Vắn tắt về tác phẩm…
Voltaire để lại một di sản các tác phẩm đồ sộ bao gồm tiểu thuyết, kịch, thơ, luận văn và
các công trình nghiên cứu khoa học và sử học. Ông còn viết nhiều sách, rất nhiều tờ rơi và
trên 20000 thư từ trao đổi.

Quan điểm về tôn giáo
Qua các tác phẩm Voltaire thể hiện quan điểm rằng không cần đức tin để tin vào Chúa.
Ông tin vào Chúa nhưng là niềm tin lý tính. Ông cũng phản đối đạo Ki-tô quyết liệt nhưng
không nhất quán. Một mặt ông cho rằng Giê-su không tồn tại và các sách Phúc âm là nguỵ

ngục" và người sử dụng chúng là "những kẻ giết người ngu ngốc".

Voltaire còn được nhớ đến như một người tranh đấu cho quyền tự do cá nhân, tự do tôn
giáo trong đó có quyền được xét xử công bằng và vạch rõ sự giả dối và không công bằng
của chế độ ba đẳng cấp.

Voltaire sống hai mươi năm cuối đời ở Ferney và mất ở Paris. Nay Ferney được đặt theo
tên ông là Ferney-Voltaire. Lâu đài ông ở giờ là bảo tàng L'Auberge de l'Europe còn toàn
bộ thư viện của ông vẫn được giữ nguyên tại bảo tàng quốc gia Nga tại Sankt-Peterburg.


Daniel Defoe và tiểu thuyết du ký “Robinson Crusoe”

1. Robinson trước khi ra đảo - phác thảo nhân vật của thời đại
Khác với những chuyện phiêu lưu cùng thời, nhân vật Robinson không phải trải
qua nhiều biến cố khác nhau. Chỉ sau một vài sự kiện, tiểu thuyết dừng lại ở đảo hoang và
triển khai phần lớn tác phẩm cho đến kết thúc. Ngày Robinson đặt chân lên đảo có thể xem
là cột mốc ranh giới đánh dấu bước ngoặt trong cuộc đời và cả trong tính cách của anh.
Robinson đã được xây dựng thành một mẫu người tiêu biểu của thời đại. Ðây là
hình tượng tầng lớp trung lưu ở nước Anh thế kỉ 18 trong đó có bản thân nhà văn. Nếu có
bóng dáng nhà văn trong nhân vật Robinson thì chủ yếu là ở nhữngđường nét khái quát ấy.
Tài năng và công phu sáng tạo nghệ thuật của Defoe chính ở chỗ khác nhau giữa người
mẫu Selkirk và Robinson. Robinson không phải là Selkirk- một thuỷ thủ rủi ro lâm nạn-
mà là một sự hoá thân. Nhà văn đã biến anh thuỷ thủ kia thành một hình tượng nghệ thuật,
mang tầm vóc và ý nghĩa thời đại.
Tầng lớp trung lưu ở Anh thế kỉ 18 là một quần thể phức tạp. Những yếu tố tích
cực và tiêu cực, tiến bộ và hạn chế xen kẽ nhau. Một mặt, tầng lớp này có tâm tư, hoài bão
gắn liền với giai cấp tư sản thời ánh sáng với tất cả những ưu nhựơc điểm do lịch sử qui
định. Mặt khác, nó chưa mất liên hệ với quảng đại nhân dân, và về nhiều mặt nó vẫn cất
lên tiếng nói cho quyền lợi và nguyện vọng của những người lao động. Do đó, Robinson là

nên mỗi việc làm cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối thiểu cũng đòi hỏi ở Robinson những
nổ lực và ý chí phi thường quá sức tưởng tượng: vào rừng chặt cây về làm cọc rào quanh
nhà để chống thú dữ, mỗi cọc phải làm mất một ngày, hàng rào phải mất gần cả năm mmới
xong. Anh làm một tấm ván mặt bàn mất bốn mươi hai ngày; hai tháng để làm được mấy
cái vại (lu) để đựng lương thực; đóng chiếc thuyền đầu tiên để đựng lương thực; đóng
chiếc thuyền đầu tiên để vựơt biển mất năm tháng. Anh san phẳng mặt đất thoai thoải từ
chỗ đóng xuồng ra mặt nước, nhưng rồi không làm cách nào cho xuồng hạ thuỷ được. Chỉ
còn một cách đào một cái lạch. Anh tính toán rằng muốn đào được cái lạch đó phải mất
trên mười năm. Anh bỏ xuồng, đi tìm một địa điểm gần sát nước biển, đóng một cái xuồng
khác, đào một cái lạch khác, dài nửa dặm sâu bốn bộ, rộng sáu bộ sẽ hoàn thành trong hai
năm. Robinson đẽo một cái cuốc bằng gỗ, vỡ đất gieo hạt lúa mì (số lúa mì dành trên tàu
dành cho chim ăn còn sót lại). Do thiếu thốn kinh nghiệm trồng lúa lại thêm hạn hán và
chim chóc phá hoại, vụ đầu tiên mất mùa. Anh không sờn lòng, kiên trì làm vụ khác. Cứ
như thế từ chỗ may mắn còn sót lại mười ba hạt lúa sau bốn năm ròng rã, trồng và gặt hái
dành dụm từng hạt, anh đã gặt được một số lúa và được “vuốt ve cái bánh mì đầu tiên “do
tự tay mình làm ra”. “Tôi quyết chí không bao giờ chán nản bất cứ công việc gì “ Robinson
kể “Khi đã thấy rằng việc ấy có thể làm được thì tôi làm bằng xong mới thôi”. Ý nghĩ ấy
luôn luôn gắn chặt với Robinson.
Mỗi nỗ lực của Robinson không chỉ để đáp ứng nhu cầu tối thiểu, anh luôn luôn có
ý thức phấn đấu làm cho đời sống trên đảo ngày một tốt đẹp hơn: chỗ ở phải khang trang,
quần áo mũ phải đàng hoàng, đồ ăn uống tử tế. Khác xa với nguyên mẫu là thuỷ thủ
Selkirk sau bốn năm ở đảo hoang khi được cứu thoát đã gần trở thành “người rừng”,
Robinson diễn ra theo chiều hướng ngược lại.
Không thể cho rằng nhà văn đã xây dựng Robinson thành một nhân vật phát huy
mọi nghị lực và khả năng để làm giàu, đúng như yêu cầu của thế giới quan tư sản thời đại.
Robinson chính là sự khẳng định chân lí cao đẹp, niềm tin của nhà văn vào những phẩm
VHPT1/P.H.N

138


chân lạ trên bãi cát anh kinh hoàng như thấy “ma quỷ hiện hình”. Nhưng chẳng bao lâu
tình trang mê tín ấy tan đi, anh phân tích và khẳng dịnh có người lạ mới xâm nhập hòn
đảo, vội vàng củng cố chỗ ở, phòng ngự và chuẩn bị vũ khí. Tuy vậy đôi khi do cô đơn anh
vẫn sống với một tin tôn giáo mơ hồ, tin vào vai trò của một Ðấng tối cao nào đó đang tồn
tại.
Sự tồn tại một tính cách đối lập trong nhân vật Robinson chỉ rõ sự phân biệt giữa
hai giai đoạn. Trước khi ra đảo hoang, anh mang đậm tính cách tư sản (và sau khi rời đảo
trở về tổ quốc). Khi ở trên hòn đảo vắng vẻ chỉ có Robinson đối diện với thiên nhiên , nơi
đây vắng bóng quan hệ tư bản chủ nghĩa và cả đời sống xã hội anh trở thành Robinson
khác tuy vẫn còn chút Robinson cũ. Như vậy người đọc bắt gặp hai Robinson trong tác
phẩm. Robinson trên đảo mới thực sự chiếm đựoc cảm tình của bạn đọc. Khi nhân vật cởi
bỏ bộ quần áo kì dị và chiếc mũ da dê tự làm để khoác trở lại bộ đồ bình thường đúng mốt
thời trang của người tư sản ở phần cuối của tác phẩm thì cũng là lúc hứng thú của người
đọc tan biến. Trở lại với thời điểm giáp ranh giữa hai Robinson khi sắp lên định cư ở đảo
hoang. Anh do dự nhưng cuối cùng quyết định mang theo lên đảo một số tiền vàng nhiều
loại lục lọi được trong ngăn kéo viên thuyền trưởng trên chiếc tàu đắm. Anh đã giữ cẩn
thận những đồng tiền vàng “vô dụng” ấy suốt muời chín năm trời sức sống dai dẳng của
VHPT1/P.H.N

139Robinson nhà tư sản tạm ngủ yên, cho đến ngày trở lại với xã hội tư sản Anh nơi chúng
được trong vọng.

Sự đối lập giữa “hai Robinson” khiến người đọc liên tưởng đến quan điểm triết
học của J.J.Rousseau về con người tự nhiên và con người xã hội. Theo Rousseau, con
người tự nhiên tốt đẹp bao nhiêu thì xã hội làm cho nó hư hỏng bấy nhiêu. Lí thuyết của
ông bắt nguồn từ lòng căm ghét những quan hệ phong kiến và tư sản đang chi phối xã hội
Pháp thế kỉ 18. Còn Defoe với tiểu thuyết của mình thì vừa nghiêng hẳn sang phía

 Người đi săn và người đánh cá đơn độc và riêng lẻ mà Smith và Ricardo lấy làm điểm
xuất phát khi nghiên cứu chỉ là phần nào những điều tưởng tượng vô vị của thế kỉ 18.
Những chuyện như kiểu Robinson quyết chẳng phải như mấy nhà nghiên cú lịch sử văn
hoá nào đó vẫn tưởng, là một sự phản ứng giản đơn chống những lối kiểu thái quá và là
một lối quay về một trạng thái tự nhiên đã bị hiểu sai lệch.
Chính ra, các tiểu thuyết đó là một thứ tiên đoán các xã hội tư sản đã phôi thai từ
thế kỉ 16, và đến thế kỉ 18 thì đã phi nước đại tới giai đoạn chín muồi.
VHPT1/P.H.N

140Trong cái xã hội thịnh hành chế dộ cạnh tranh tự do thì cá nhân có vẻ như là đã
thoát khỏi các mối liên hệ tự nhiên v.v, là những cái, trong các thời đại lịch sử trước kia
vẫn làm cho cá nhân thành một bộ phận khăng khít của một tập đoàn nhân laọi nhất định,
rõ rệt. Ðối với các nhà tiên tri thế kỉ 18 Smith và Ricardo vẫn còn hoàn toàn đứng trên lập
trường của họ- thì cá nhân đó của thế kỉ 18 vốn là sản phẩm, một mặt thì của sự tan ra õcủa
các hình thái xã hội phong kiến, mặt khác thì của các lực lượng sản xuất vừa mới phát triển
lên từ thế kỉ 16, - hiện ra như một lí tưởng đã qua. Nhưng không phải như là một kết quả
lịch sử. Vì họ coi cá nhân đó như là một cái gì tự nhiên, phù hợp với họ về bản chất con
người, họ coi nó không phải là một sản phẩm lịch sử.
Tuy nhiên bằng hình tượng nghệ thuật, Defoe cũng đã phần nào chỉ ra được rằng
con người không thể tồn tại đơn độc ngoài tập thể xã hội. Bản thân Robinson trên đảo
hoang chắc sẽ không tồn tại được lâu bền nếu không có trong tay các vật dụng cần thiết
như: búa, rìu, đá mài, đinh, thanh sắt, súng dđ¹n, hạt lúa giống và nhiều thứ khác mà
Robinson thu vét từ chiếc tàu đắm vốn là kết quả công sức, trí tuệ của rất nhiều người.
Ngoài ra còn phải kể đếnn những thứ trừu tượng không kém quan trọng đó là vốn liếng
kinh nghiệm, kiến thức mà Robinson đã thừa hưởng của cả nhân loại đúc kết và truyền qua
nhiều thế hệ;Nhờ cái vốn đó mà Robinson biết dựng nhà, chống thú dữ, trồng trọt chăn
nuôi và làm nhiều việc khác.

141Tóm tắt vở kịch “Âm mưu và tình yêu”

Vở kịch có 5 hồi bằng văn xuôi.
1
Luizơ là con gái nhạc công Mile yêu thiếu tá Fecđinăng là con trai Tể tướng Fôn Vante.
Phu nhân Minfo là tình nhân của Công tước nay đã bị Công tước chán bỏ. Tể tướng bắt ép
thiếu tá phải kết duyên cùng phu nhân Minfo để lấy lòng Công tước. Fecđinăng gặp Minfo
nói cho phu nhân biết là chàng đã có người yêu là nang Luizơ, cô vô cùng xấu hổ. Tể
tướng làm nhục Luizơ, gọi nàng là con đĩ, mạt sát ông bà Minle. Tể tướng và thiếu tá đấu
khẩu dữ dội. Thiếu tá kiếm tuốt trần, đâm bị thương một số nhân viên pháp đình.

Đổng lí Vuôm hiến kế bắt giam ông bà Mile. Muốn cứu bố mẹ, Luizơ phải viết một bức
thư tình gửi cho Thị vệ trưởng Fôn Canbơ do chúng đọc. Chúng đưa bức thư tình ấy cho
Fecđinăng. Fecđinăng thách Thị vệ trưởng đấu súng làm cho hắn vô cùng sợ hãi. Đau
khổ…Fecđinăng pha thuốc độc bắt người yêu cùng mình uống. Uống xong thuốc độc,
Luizơ mới nói ra sự thật đau lòng! Cùng lúc ấy, Tể tướng phải nộp mình cho nhân viên
pháp đình.

2. Xung đột diễn ra dữ dội tại nhà nhạc công Mile (Hồi hai: Ngang trái)

Luizơ bị Tể tướng sỉ nhục đã ngất đi. Fecđinăng đỡ lấy người yêu rồi kêu lên hoảng hốt:
“Cứu nàng với, nàng sợ hãi ngất đi rồi!”. Trong lúc đó, nhạc công Mile nắm lấy gậy, căm
giận nhìn Tể tướng, bà Mile vô cùng sợ hãi, quỳ sụp xuống chân Tể tướng. Tể tướng ra
lệnh bắt giam Luizơ: “Bắt lấy nó, dù nó ngất hay tỉnh. Khi nào vòng sắt gông vào cổ nó
rồi, người ta sẽ dùng đá ném cho nó tỉnh lại”. Bà Mile cất tiếng kêu van, trái lại, ông nhạc
công Mile thì giận dữ khinh bỉ gọi Tể tướng và các nhân viên pháp đình là “lũ vô lại”.


khi Tể tướng vừa châm biếm vừa ra lện: “Lên giá nhục hình mà mang kiếm bên mình thì
chẳng hợp chút nào… Lôi nó lôi nó đi, đi, chúng mày rõ ý tao rồi đấy!”.

4. Có thể xem đây là “bước đột biến” của Hồi hai này!

Lưỡi kiếm lại xuất hiện, tiếng nói của Fecđinăng càng quyết liệt hơn. Giằng lấy Luizơ từ
tay nhân viên pháp đình, ôm lấy Luizơ, chĩa lưỡi kiếm vào nàng và nói: “Thà tôi đâm lưỡi
kiếm này qua xác vợ tôi còn hơn nhìn nàng bị cha sỉ nhục!” - Từ người yêu, Luizơ đã trở
thành vợ, Thiếu tá khẳng định quyết tâm bảo vệ người yêu của mình. Tể tướng vẫn thách
thức. Xung đột kịch càng trở nên quyết liệt: “Đâm đi, nếu mũi kiếm của mày còn đủ
nhọn!”. Đó là sự thách thức của cường quyền! Tể tướng muốn ép con trai mình kết duyên
cùng phu nhân Minfo. Trở lực lớn nhất là tình yêu của Luizơ. Phải bắt nàng để triệt phá, để
thực hiện “âm mưu” và để tấn công bề trên, đó là Công tước! Cái ác đi kèm cái hèn hạ, sự
đê tiện và sỉ nhục, đó là nhân cách của Tể tướng, và buồn thay, đó còn là một người cha -
một người cha đã bán mình cho quỷ dữ.

5. “Mở nút” - xung đột được đẩy lên đến đỉnh điểm rồi chùng lại, mâu thuẫn được giải
quyết. Cử chỉ Fecđinăng buông Luizơ, ngước mắt nhìn trời ghê gớm. Thiếu tá độc thoại.
Chàng cầu đến Chúa. Sức chịu đựng của một con người đã vượt quá giới hạn và chỉ một
cách “dùng đến thủ đoạn của loài ma quỷ!”. Sẵn sàng trả giá, và thách thức: “Được các
người cứ đưa nàng lên giá nhục hình đi!”. Như một cú đánh trời giáng khi Fecđinăng thét
vào tai Tể tướng: “Ta sẽ đi kể cho tất cả cung điện này nghe một câu chuyện nhan đề là:
Người ta đã leo lên ghế Tể tướng bằng cách nào!”. Như bị sét đánh, Tể tướng sụp đỏ. Như
loài ma quỷ sợ ánh sáng. Hắn đã kinh hoàng kêu lên: “Thế là thế nào, Fecđinăng! Hắn ra
lệnh: buông con bé ra!” rồi chạy theo Thiếu tá.

Kết luận
Nhạc công Mile xuất thân bình dân và Fecđinăng xuất thân quyền quý đã dũng cảm và
ngoan cường chống bạo quyền vì khát vọng tự do và hạnh phúc. Hồi hai đầy kịch tính. Có
lúc ta xúc động về lưỡi kiếm của Fecđinăng sẽ vang lên, hoặc là đâm chết người yêu và tự

là con của một người thợ đóng móng ngựa.
Thuở nhỏ, Goethe được hưởng một nền giáo dục nhiều mặt nhưng có tính kinh điển
"thông thái rởm" dưới sự chỉ đạo của bố. Goethe biết nhiều cổ ngữ, sinh ngữ, toán học, sử
và một số môn nghệ thuật như hội hoạ, âm nhạc.Song, có lẽ cái tủ sách phong phú của ông
nội kiếm cho là những yếu tố góp phần nhiều hơn vào sự hình thành tài năng của Goethe
sau này.
Tháng 10/1765, Goethe đi học khoa luật ở trường đại học Laixich, một thành phố
lớn. Ông chán nản đời sinh viên bị nhồi nhét mớ kiến thức lỗi thời với phương pháp giảng
dạy lạc hậu. Không thích nghề luật sư, G thường đọc sách văn chương và đi xem các viện
bảo tàng nghệ thuật. Biết đến tên tuổi của nhà văn Lessingvà xem diễn kịch của nhà văn
Ánh sáng tiền bối. Tháng 7 – 1768, Goethe ốm nặng, bỏ học về an dưỡng ở quê nhà. Sau
hai tháng, khoẻ lại, ông trở về Stratsburg tiếp tục học. Tốt nghiệp tiến sĩ luật khoa, đi làm
bồi thẩm ở Vetsleur, rồi về làm luật sư ở tại thành phố quê nhà. Những năm tháng ở
Stratsburg ghi cái mốc quantrọng trong cuộc đời ông vì đó là nơi đang diễn ra cuộc đấu
tranh gay gắt của khuynh hướng dân tộc chống lại ảnh hưởng Pháp trong lĩnh vực văn học
nghệ thuậtcũng là nơi trung tâm của phong trào Bão táp và Xung kích. Goethe đã gặp và
quen thân với nhà văn Ánh sáng Hecdez – bậc đàn anh, nhà lí luận của phong trào văn học
Ánh sáng. Tham gia phong trào Bão táp và Xung kích chẳng bao lâu Goethe trở thành một
trong những người dẫn đầu phong trào, viết hàng loạt các tác phẩm, chứa chan nhiệt tình
sôi nổi và tinh thần phản kháng. Tiếp xúc với tác phẩm của triết gia Spinoza, chủ nghĩa
phiếm thần luận màu sắc duy vật đã để lại cho Goethe nhiều ấn tượng sâu sắc. Về sau
chính Goethe đã thừa nhận Spinoza là nhà tư tưởng có ảnh hưởng quyết định đối với ông.
Ông tiếp tục phát triển học thuyết của Spinoza trong lĩnh vực sáng tác.Thời gian làm luật ở
Franfurk kéo dài mấy năm, Goethe tham gia cãi gần ba mươi vụ án nhưng vẫn dành phần
lớn thời gian cho sự nghiệp văn chương. Tháng 11/1775, nhận lời mời của công tước
August, Goethe đến triều đình Vaima và ở lại đó. Năm ấy nhà thơ mới hai mươi sáu tuổi.
Vaima là một công quốc nhỏ bé dân số hai mươi vạn dưới quyền caitrị của vị Công tước
VHPT1/P.H.N

144

cảm thấy sự khác nhau trong mối trường sống của hai ngưòi rồi sẽ tổn hại đến sự tự do
sáng tác của nhà thơ…Một chùm thơ kế tiếp về cô Liza khi ông đến sống ở Vaima, Gửi
Charlot PlionStein”(tên Lida) “Vĩnh viễn”…Ở đây tình yêu bộc lộ ra sâu lắng hơn, chất trí
tuệt rõ nét thay cho cảm xúc tuôn trào trước kia. Mối tình thứ ba này rồi cũng dang dở như
hai kẻ đến trứơc nó.
Thơ tình yêu của Goethe tuy đi sâu vào những nếm trải cá nhân, nhưng đó không
phải cá nhân riêng tư nhỏ bé. “cái tôi trong thơ Goethe đồng thời cũng là cái ta của thế hệ
thanh niên tư sản đầy nhiệt tình” Ý nghĩa xã hôi rộng lớn trong mảng thơ này chính là ở
“cái ta” của Goethe.
Thơ thời trẻ của Goethe còn nổi lên một chủ đề khác – thơ phản ánh tâm hồn bất
khuất, ý chí quật cườngcủa con người tham gia phong trào Bão táp và Xung kích. Bài thơ
“Promethé” là bài tụng ca tiêu biểu, hừng hực khí thế bão táp và Xung kích. Bài thơ gồm
sáu đoạn, là lời của Promethe kiêu hãnh, hiên ngang tuẫn tiết vì con người, vì triết học của
nhân loại, đó là lời đối thoại với Zeus – Thần tối cao, không hề run sợ trước uy lực bạo tàn
“… Hãy để đấy cho ta, trái dất của ta. Và túp lều của ta. Mà mi không dựng. Và bếp lửa
của ta. Mà mi ghen tị. Với lửa hồng của nó…” bài thơ này có tứ thơ độc đáo trái ngược với
thần thoại Hy Lạp. Không phải Promete đánh cắp lửa của thiên đình mà lại là Zeus thèm
VHPT1/P.H.N

145muốn ngọn lửa hồng của trần gian. Loài người được nâng lên ngang tầm thần thánh ở đoạn
kết thúc bài thơ :
“Ta ngồi đây cấu tạo con người
theo hình ảnh của ta
một loài người cũng như ta
biết khóc than đau khổ
biết vui mừng hưởng thụ
và biết không kính trọng mi như ta vậy “.


Goethe – nhà tiểu thuyết.
Tiểu thuyết“Nỗi đau của chàng Vecte”(Wecthers)
Tiểu thuyết viết dưới dạng những bức thư, thể loại quen thuộc của văn học phương
Tây thế kỉ 18. Những bức thư của nhân vật Vecte gửi cho người bạn thân Vinhem kể cho
bạn nghe cuộc sống của mình – đó là kết cấu hình thức của tiểu thuyết
(Sáng tác năm 1774)
Vecte là một thanh niên có học thức, tài hoa thuộc tầng lớp thị dân. Sau mối tình
VHPT1/P.H.N

146dang dở với leonor, lại chán nản và mòn mỏi tháng ngày trong công việc phục vụ giới quí
tộc, chàng rời thành phố về một thị trấn nhỏ miền quê yên tĩnh, sống giữa khung cảnh
thiên nhiên bao la với những người dân quê thật thà chất phácmong được khâuy khoả tâm
hồn. Đến khi tưởng chừng đã lấy lại được tâm hồn thư thái thì tình cờ đi tham dự một đêm
vũ hội ở địa phương, Vecte quen biết với Lother một thiếu nữ xinh đẹp con một vị pháp
quan. Nhan sắc và tính tình giản dị, chân thật, nhạy cảm của nàng lập tức chinh phục
Vecte. Đồng thời Vecte cũng đau khổ vì biết Lother đã đính hôn với Anbec. Còn cô thiếu
nữ quí tộc địa phưong kia mặc dù quả có cảm tình với Vecte vẫn quyết giữ vững lời hẹn
hôn nhân với Anbec. Tuyệt vọng, Vecte quay trở về thành phố.
Nghe theo lời mẹ, chàng làm thư kí cho một viên sứ thần, mong tìm sự lãng quên
trong công việc. Chưa bao giờ cái hố ngăn cách giữa chàng và xã hội quí tộc lại hiện ra rõ
rệt như trong thời gian ấy. Bọn chúng tỏ thái độ khinh miệt chàng khiến Vecte không sao
chịu nổi, lại bỏ việc và quay về miền quê tìm Lother lúc này đã là vợ của Anbec. Chàng
thừa nhận là không thể nào sống thiếu Lother được. Tình yêu giữa hai người lại bùng dậy
với những buổi trò chuyện, những cuộc dạo chơi, tuy cả hai đều cố nén tình cảm để khỏi
vượt quá giới hạn của tình bạn. Có một lần Vecte không tự chủ được mình đã ôm hôn
Lother say đắm. Sau đó chàng lại càng tuyệt vọngnhiều hơn, lấy cớ đi xa, chàng từ biệt

147Vở kich Faust
1. Faust và kết cấu độc đáo
Faust là kiệt tác lớn nhất của Goethe, vở kịch thơ độc đáo và đồ sộ gồm trên 1200 câu
thơ và chia là hai phần “Faust I” và “Faust II” có cấu tạo khác nhau chưa kể 32 câu thơ “đề
tặng” và hai màn phụ “giáo đầu ở nhà hát” và “giáo đầu trên thiên đường”. Nhà thơ bắt đầu
thai nghén “Faust I” từ 1769 khi còn đang học đại học luật. Khi đến Vaima, ông mang theo
bản thảo. Sau nhiều lần bổ sung, sưả chữa, Faust I ra đời năm 1808, Tiếp tục viết phần hai,
hoàn thành 7-1831 và được in sau khi ông ra đời.
“Đề tặng” mở đầu vở khịch với 32 câu thơ nói với các nhân vật. Ngoài ý nghĩa tặng
cho bạn bè thân quen lúc ấy đã mỗi người mỗi ngã, còn là lời giải thích lí do nhà thơ chọn
đề tài. Hình bóng Faust chập chờn ám ảnh thôi thúc ông. Truyền thuyết về bác sĩ Faust đã
đáp ứng những tâm tư tình cảm của Goethe.
Tiếp theo là màn “giáo đầu ở nhà hát” với ba nhân vật : giám đốc nhà hát, nhà thơ
và diễn viên. Mỗi người trình bày ý kiến củ mình. Giám đốc nhà hát yêu cầu nhà thơ viết
gấp cho những kịch bản đáp ứng “khẩu vị của đám khán giả cứ hàng ngày kéo đến rạp
đông như thác lũ, ông khuyên nhà thơ chẳng cần viết những gì cao siêu. Nhà thơ phản
dđèi quan điểm thực dụng của giám đốc. Anh muốn bảo toàn thiên chức cao cả của thi
nhân, thà lui về một góc trời viết thơ giành cho thế hệ mai sau chứ không thể viết những
tác phẩm nhất thời, hay trở thành bồi bút. Diễn viên vừa tỏ ra đồng tình lại vừa tỏ ra băn
khoăn rằng nếu chỉ nghĩ đến mai sau thì “ ai lo giải trí cho khán giả đương thời “.
Dù ý kiến của ba nhân vật vừa phủ định lại vừa bổ sung cho nhau, từ đó toát lên
quan điểm thẩm mĩ tiến bộ của nhà thơ. Phải hướng tới mục đích cao cả của nghệ thuật,
phải sáng tác để phục vụ công chúng đông đảo chứ kohông phải những kẻ giàu sang với
những đàn bà quí tộc chán chường Phải dùng ngòi bút để ca ngợi cái tốt, phê phán cái xấu,
động viên tình yêu và ý chí vươn lên của con người
Kế tiếp là “màn giáo đầu trên thiên đường”. Các thiên thần đang ca ngợi kì công
của Chuá thì xuất hiện con quỉ Mephisto đến để báo cáo tình hình con người ở chốn trần

mẹ không bao giờ thức dậy đượcvì liều thuốc quá nặng. Anh trai của Macgret cũng bị
Faust dùng kiếm của Mephisto đâm chết… Macgret sinh con, cô sợ bị xã hội chê cười xỉ
nhục liền đem con quẳng xuống cái ao trong rừng, do đó bị bắt giam chờ ngày hành hình.
Trong khi ấy Mephisto dẫn Faust lên núi dự đêm hội yêu ma để chàng quên lãng Macgret.
Nhưng Faust không thể quên được người yêu đang đau khổ nên đòi quỉ phải đưa chàng vào
nhà giam để cứu cô. Không ngờ Macgret cự và chọn cái chết.
Faust II chia làm 5 hồi, về hình thức là trở lại cấu trúc của bi kịch cổ điển chủ
nghĩa. Vừa ở trại giam đi ra, Faust đau đớn ngã ramê man giữa cánh đồng cỏ dại. Các nàng
tiên nữ bay liệng, múa hát ru cho Faust ngủ yên. Sau khi phục hồi sinh lực và sức lực,
Faust lại cùng Mephisto tiếp tục cuộc hành trình. Hai người xin vào triều đình gặp vua.
Vua tỏ ý muốn xem mặt nàng Helene (Helene – hoàng hậu Hi Lạp, bỏ vua chạy theo chàng
Paris về thành Troice), người mĩ nữ nổi tiếng xinh đẹp nhất thời cổ đại Hi Lạp. Nhờ phép
thuật của Quỉ, Faust đã gọi được nàng về cõi thế. Faust bỗng say đắm nàng, chạy lại ôm
chầm lấy Helene và ngất lịm đi khi nàng biến mất, để lại trong tay chàng chiếc áo mỏng
hơi sương. Quỉ đưa Faust trở lại phòng làm việc của tiến sĩ ngày xưa. Bao nhiêu năm đã
trôi qua, Vacne đã trở thành giáo sư, và chế tạo được hình nhân nhỏ (homonculus) sống
trong ống nghiệm. Một hình nhân tí hon đi cùng Faust và Quỉ xuống âm phủ, tìm kiếm thế
giới Hi Lạp cổ đại. Ở đây, Faust gặp lại nàng Helene mà tưởng như nàng vừa rời bỏ thành
Troie trở về cung điện của vua Menelax. Quỉ Mephisto đe doạ nàng khó tránh khỏi trừng
phạt, rồi khuyên nàng vào lánh nạn trong toà lâu đài của tiến sĩ Faust…Hai người đã ăn ở
với nhau, sinh được một con trai đặt tên là Euphorion. Chú bé thích bay nhảy nên cha cậu
đã gắn cho con đôi cánh sáp ong, cậu bé ngã xuống từ trên cao mà chết. Helene đau buồn
bay đi theo linh hồn con, để lại một chiếc áo dài biến thành đám mây đưa Faust trở về cõi
trần gian… Faust giúp nhà vua đánh giặc phép thuật quỉ ; được nhà vua cấp cho khu đất
hoang ngoài bãi biển. Từ đó Faust tổ chức nhân dân đào kênh dắp đập, biến chốn hoang vu
thành miền trù phú. Lúc này Faust đã được trăm tuổi. Quỉ hà hơi vào mắt khiến cho ông bị
mù .Nghe tiếng cuốc xẻng đào huyệt, Faust tưởng đó là tiếng nông dân làm ruộng; ông
cảm thấy toại nguyện và thốt lên lời “ta đã được thoả mãn”. Mephisto nghĩ đã hoàn thành
bản hợp đồng giao ước nên bước tới bắt linh hồn Faust; nhưng các thiên thần nhanh hơn đã
đón linh hồn ông đưa về cõi thiên đường.

cầu xin các vị thiên thần cứu giúp không được.
Viết bi kịch Faust, Goethe hướng về nguồn cam hứng dân tộc, đó là việc làm có ý
nghĩa lớn trong hoàn cảnh xã hội Đức lúc bấy giờ. So với trước, Faust của Goethe có
những biến đổi quan trọng và sâu sắc hơn nhiều. Trước hết, vở kịch này phản ánh những
vấn đề lớn của thời đại nhà thơ, trải qua những chặng đường lịch sử khác nhau vì vở kịch
này được viết trong thời gian kéo dài trên sáu mươ năm.
“Faust I” được sáng tác ở nửa sau thế kỉ 18, chủ yếu vào thời kì Goethe đang ở tưổi
thanh niên toát lên tâm trạng chán ghét, nổi loạn chống lại “sự cùng khổ Đức” của thế hệ
tham gia Bão táp và Xung kích. Màn một bắt đầu ở chốn nhân gian trong một đêm tối trời
trong căn phòng tăm tối. Nhà bác học Faust chán ngấy cuộc sống tù túng, chật hẹp trong xã
hội phong kiến đầy rẫy những cái xấu xa. Cuộc sống ấy được dàn cảnh rất cụ thể, từ căn
phòng làm việc theo kiểu Gotique, có vòm cao, kính màn như nhà thờ và nặng nề như nhà
ngục, lại có chai lọ ngổn ngang, khói mù, mốc ẩm. Trong văn học thế giới, nhiều tác giả đã
tả hình tượng nhà ngục để ngụ ý chế độ phong kiến. Ở đấy, hình tượng đó xuất hiện ngột
ngạt hơn, dai dẳng hơn có tính chất thi pháp (cảnh mở đầu, cảnh nhà ngục giữ Macgret;
mở đầu là đêm tối trước khi màn hạ lại là đêm tối).
Tâm hồn Faust rất nặng nề vì ông cảm thấy mình là nạn nhân của hệ thống giáo dục
phản động. Ông đã học qua cả bốn khoa của trường đại học thời đó, đỗ tiến sĩ, được phong
làm tôn sư mà theo ông “rốt cục thử nhìn lại xem, thầy với trò vẫn dốt!” với mớ kiến thức
nghèo nàn, vô nghĩa, giả trá, vô tích sự.
Những băn khoăn day dứt của Faust nhiều khi được tác giả đặt vào miệng Quỉ. Đó
là lúc Quỉ giả trang làm Faust để tiếp xúc với đám học trò trẻ tuổi đến xi thụ giáo, hắn đã
phê phán không thương xót các môn Triết, môn Luật, đặc biệt môn thần học và phần nào
cả môn Y học trong trường đại học đương thời.
Rộng hơn trường đại học, đó là chế độ phong kiến bất công, những kẻ bất tài thì
quyền cao chức trọng đè đầu cưỡi cổ người khác…Thêm vào đó là nhân tình thế thái đen
bạc, người đời ưa chế giễu khi thấy ai làm được việc tốt đẹp.
Faust trong phần đầu vở kịch là kiểu nhân vật khổng lồ thoe kiểu hậu sinh củ
Promethe (cổ Hi Lap). Tâm trạng phản kháng của Faust lên tới đỉnh cao khi ông bảo quỉ
Mephisto “thế giới này, anh cứ mặc sức mà tàn phá nát”. Rồi ông kí giao kèo với Quỉ,

tạm thời thanh toán những nỗi khó khăn. Những tờ giấy bạc gây nên cảnh phồn vinh giả
tạo và chỉ làm cho sự tan rã của chế độ phong kiến thêm trầm trọng và nhanh chóng.
Chúng tượng trưng cho những nhân tố tư bản chủ nghĩa đang xâm nhập, phá huỷ cơ sở của
chế độ phong kiến đồng thời hé mở cho thấy mặt trái của chủ nghĩa tư bản. Vàng bạc trở
thành tiêu chuẩn của nhan sắc, đạo đức, tài năng và cả vương quyền: “những thỏi vàng óng
a óng ánh, tôn dung nhau và tô điểm oai vua”. (…) Lời con quỉ huênh hoang về sự giàu có
của hắn là một điển hình.
Faust cũng ít nhiều phản ánh sinh động quá trình làm giàu chất dầy tội lỗi của chủ
nghĩa tư bản. Ngay cả nhân vật chính Faust căn bản là người tốt, mang trong mình khí thế
của giai cấp tư sản đứng lên chống phong kiến nhưng có quỉ đằng sau nên cũng bị kích
thích lộ ra mặt trái của ông. Quỉ đã giúp Faust cướp những thuyền buôn trên biển, giết hại
đôi vợ chồng già lương thiện cướp dất đai của họ. Lời nói của Quỉ “chiến tranh , buôn bán
và cướp biển- ba thứ này không thể tách rời nhau” ở hồi cuối của vở kịch đã tóm tắt quá
trình hình thành đẫm máu và nước mắt nhân dân của chủ nghĩa tư bản.

3. Faust và triết lí hành động
Nhà khoa học Faust và Quỉ Mephisto đi cùng nhau suốt chặng đường dài, cùng chung
một giao kèo nhưng khác nhau cái đich tới. Faust mong tìm ra lẽ sống ở đời, quỉ muốn
chiếm linh hồn Faust. Quỉ luôn luon tin tưởng ở thắng lợi vì hắn nhận định rằng con người
là tầm thường, dễ dàng thoả mãn với dục vọng thấp hèn.
Quỉ dẫn Faust tới quán rượu Auơbach nhằm quyến rũ Faust bằng con đường ăn chơi
nhậu nhẹt. Để dựng cảnh này, nhà thơ đã tái hiện những cảnh mắt thấy tai nghe trong cuộc
VHPT1/P.H.N

151sống ăn chơi sa đoạ của sinh viên Laixich. Thực tế là đã không có không ít thanh niên sinh
viên đã tiêu ma sự nghiệp trong những nơi như thế. Nhưng Quỉ đã đánh giá lầm Faust. Cái
bả tầm thường ấy không lung lạc được ông. Ông chỉ ngắm nhìn dửng dưng và bảo

Cái Đẹp và Nghệ Thuật. Tin rằng nghệ thuật là cao quí nhưng nhà thơ đã phải tự đặt ra câu
hỏi – hiến mình cho Nghệ Thuật có phải là lẽ sống cao nhất hay chưa ?! Bản thân nhà thơ
Goethe suốt đời tận tuỵ với sự nghiệp sáng tác, đã từng rời bỏ triều đình Vaima, sang Italia
nghiên cứu nghệ thuật cổ đại Hy – La. Nhà thơ đã xây dựng hình tượng chú bé Euphorion
– nhân vật mang dòng máu của cha (Faust) có ý chí và hoài bão lớn lao, muốn bay nhảy
chứ không chịu bò lết, muốn xông vào nơi mũi nhọn của cuộc chiến đấu. Qua hình tượng
này, Goethe ngụ ý ca ngợi và thương tiếc nhà thơ Byron – người đã sang tham gia chiến
đấu cùng với nghĩa quân Hy Lạp chống quân xâm lược Thổ và vừa ngã xuống năm 1824.
Trong vở kịch, cái chết của Euphorion chấm dứt cuộc tình Faust – Helene. Nhà thơ chưa
muốn để cho Faust gác lại ý chí ở mối tình. Nghệ thuật thuần tuý chưa phải là mục đích
cao nhất mà chỉ có thể coi nó như phương tiêu để đạt tới chân lí .
Bao nhiêu mưu ma chước quỉ của Mephisto đều không làm cho Faust sa ngã Faust.
Quỉ thất vọng, tưởng chừng không còn lạc thú nào ở trần gian có thể khiến Faust ham
VHPT1/P.H.N

152muốn thì ông nói với Quỉ “hành động là tất cả, danh vọng không nghĩa lí gì”. Faust đã tìm
thấy lạc thú và lẽ sống: sự nghiệp khai khẩn đất hoang, hành động thực tiễn vì lợi ích của
mọi người.
Thực ra không phải đến lúc này Faust mới nhận thức được điuề đó. Ngay từ đầu tác
phẩm, khán giả đã nhận thấy nhân vật này gần gũi và yêu mến nhân dân. Trong buổi đi
chơi ra cổng thành, ông cảm thấy sung sướng được tiếp xúc với nhân dân lao động, thoát
khỏi thấy độ cau có, khó chịu của trợ lí Vacne. Đến lúc quay về phòng, ngồi dịc Kinh
Thánh (tiếng Latinh) ra tiếng Đức, Faust loay hoay mãi với câu đầu tiên :” khởi thuỷ là
Lời” (In intio erat verbum). Ông không thể tán đồng quan điểm đề cao Lời nói (lời Thượng
đế phán truyền). Đắn đo cân nhắc mãi xem có nên dịch “khởi thuỷ là tư tưởng”, “khởi
thuỷ là sức mạnh” hay không, cuối cùng nhà khoa học hạ bút viết: “Khởi thuỷ là hành
động”. Ngay từ đầu ông đã thoáng thấy hình dáng chân lí. Quá trình làm bạn với Quỉ

chống phong kiến, vừa mở đường cho Faust tiếp tục cuộc hành trình để tìm lẽ sống mà
Faust vẫn là một con người thuỷ chung nhất mực, giàu lòng nhân đạo.
Tinh thần nhân đạo cao cả của Goethe chủ yếu toát lên từ chủ đề vở kịch, qua mối
quan hệ giữa Faust và Mephisto. Mephisto là con quỉ hư vô chủ nghĩa tuyệt đối. Hắn tự
VHPT1/P.H.N

153giới thiệu bản chất của hắn là loại “ yêu ma luôn luôn phủ nhận “, là “tội lỗi”, là “phá huỷ”,
tóm lại là cái Aùc. Do đó hắn có hai mặt. Một mặt hắn tung ra những ý kiến sâu sắc vạch
trần các ung nhọt của xã hội phong kiến và xã hội tư bản. Những lúc ấy, khán giả đồng tình
với hắn. Mặt khác, hắn lại không tin vào bất cứ cái gì tốt đẹp trên đời. Hắn phỉ báng con
người trước mặt Đức Chúa Trời.

Mephistophen và Faust là hai tính cách hoàn toàn đối lập nhau nhưng lại gặp nhau ở một
điểm là cùng phủ nhận cái trật tự xã hội trước mắt . Chính từ đấy xuất hiện tình huống kịch
: Faust kí giao kèo với Mephisto. Cả hai đều tin mình sẽ thắng. Quỉ tin chắc có thể dễ dàng
làm cho Faust hài lòng thoả mãn. Còn Faust tin ở ý chí vươn lên của ông sẽ không bao giờ
tàn lụi.
Bao nhiêu cám dỗ của quỉ đưa ra đều không lung lạc được Faust. Hắn không lôi kéo được
Faust vào những thú vui thấp hèn, không làm cho Faust “ ăn đất bùn mà lấy làm thú vị “.
Cuối vở kịch Faust đã thoả mãn, nhưng không phải những dục vọng tầm thường, cũng
không nhờ âm mưu, phép thuật của Quỉ. Việc tổ chức nhân dân đào mương đắp đập, khai
khẩn đất hoang là một hành động cao quí. Chính vì thế mà các thiên thần xuống đón linh
hồn Faust lên thiên đường còn quỉ Mephisto tưởng lầm hắn đã có quyền thực hiện điều ứơc
trong bản giao kèo.
Trong vở kịch này, các hình tượng Chúa, quỉ, thiên thần và những chi tiết thiên
đường, địa ngục, tiếng chuông nhà thờ, ngày lễ Phục Sinh…chỉ là những biểu tượng nghệ
thuật chứ không phải mang ý nghĩa tôn giáo. Goethe cũng như Faust vốn chẳng tin gì ma


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status