nhập khẩu
(1000T)
cùng kỳ
Cá tươi và cá đông
- Cá ngừ tươi và đông 76,3 - 16,2
- Cá rô phi 38,8 + 21,2
- Cá biển tươi và đông 250,0 - 6,7
- Cá đông block 39,2 - 36,7
- Cá philê :
+ Cá catfish 6,05 + 142
+ Tổng cộng cá philê 267,2 + 9,5
Tổng cộng cá tươi và đông 616,9 - 1,5
Giáp xác, nhuyễn thể
- Tôm đông 262,4 + 8
- Cua đông 53,9 + 42
- Thịt cua 9,3 + 43
- Tôm hùm 33,1 - 5,5
- Mực ống 21,0 - 3,2
- Điệp 14,4 - 15,3
Tổng cộng giáp xác, nhuyễn thể
451 + 8,4
Hộp thuỷ sản
- Hộp cá ngừ 106,5 - 10,5
Tổng cộng hộp cá 143,7 - 9
Tổng cộng hộp thuỷ sản 187 - 5,6
Tổng cộng hàng thuỷ s
ản thực
Tháng
Khối lượng tôm đông xuất khẩu
(tấn)
1 1.118
2 703
3 1.032
4 1.113
5 1.775
6 2.966
7 3.733
8 4.607
9 3.724
Tổng
cộng
20.771
Tôm đông Việt Nam chiếm 8% thị phần nhập khẩu tôm của
Mỹ và đứng hàng thứ 4 trong số các nước xuất khẩu tôm sang Mỹ.
Điều đáng tiếc là giá trung bình tôm đông nhập khẩu 9 tháng qua
của Mỹ giảm sút chỉ còn 9,14 USD/kg, giảm 14,7% so với cùng kỳ
năm 2001 Kết quả là khối lượng nhập khẩu tôm đông của Mỹ tăng
8%, nhưng giá trị chỉ có 2,4 tỷ USD so với 2,6 tỷ USD cùng kỳ
năm 2000.
Tính đến tháng 10 năm 2000 , tôm đông chiếm tỷ trọng áp
đảo trong các mặt hàng xuất khẩu của ta với 13.243 tấn, giá trị 201
triệu USD, chiếm 81% giá trị xuất khẩu thuỷ sản nói chung . Rất ít
quốc gia xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ lại có tỷ lệ mặt hàng tôm
đông lớn như của Việt Nam. Tôm đông Việt Nam chiếm 4,7%
khối lượng nhập khẩu tôm vào Mỹ và đứng hàng thứ 8 trong số
các quốc gia xuất khẩu mặt hàng này. Khác hẳn với thị trường
Nhật Bản , tại Mỹ tôm đông Việt Nam có giá rất cao, trung bình
giá trị 722 nghìn USD ) trong 2 tháng đầu năm 2002 .
Hộp thuỷ sản là sản phẩm được người Mỹ rất ưa chuộng với
đủ các loại mặt hàng như hộp cá, hộp tôm, hộp cua, hộp mực và
hộp nhuyễn thể 2 vỏ . Mức nhập khẩu 10 tháng đầu năm 2000 lên
tới 220 nghìn tấn (riêng hộp cá ngừ là 130 nghìn tấn) . Rất tiếc
trong thị trường nhập khẩu hộp thủy sản rất sôi động này, sản
phẩm của Việt Nam còn gần như vắng bóng .
Trong năm 2002 do sự việc hiệp hội thuỷ sản Hoa Kỳ kiên
các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam bán phá giá tại thị
trướng Hoa Kỳ cho nên việc xuất khẩu thuỷ sản của các doanh
nghiệp Việt Nam sang Mỹ gặp những khó khăn trong việc xuất
khẩu thuỷ sản sang Mỹ nhưng nhìn chung xuất khẩu thuỷ sản vẫn
có triển vọng phát triển mạnh tại thị trường Mỹ.
3. Thành tựu
Năm 2001, Việt Nam đã xuất khẩu sang Mỹ 70.931 tấn thuỷ
sản các loại, trị giá 489 triệu USD. So với tổng kim ngạch gần 1,8
tỷUSD với số lượng 538.833 tấn thuỷ sản đã XK trong năm qua thì
lượng XK vào thị trường Mỹ là rất đáng kể .
Bộ thuỷ sản đánh giá , Mỹ đang là thị trường thuỷ sản dẫn
đầu của ngành thuỷ sản xuất khẩu Việt Nam. Thị trường Nhật tuy
vẫn tăng về giá trị , nhưng tỷ trọng đã giảmdần . Mỹ đã trở thành
thị trường quan trọng chiếm vị trí dẫn đầu , với thị phần tăng
nhanh từ 6% năm 1998 lên 27,81% năm 2001. Thị trường Mỹ cần
được quan tâm, tiếp tục mở rộng do nhu cầu nhập khẩu hàng năm
lớn tới khoảng 10 tỷ USD. Yêu cầu về chất lượng và an toàn cao
nhưng không khắt khe như thị trường EU. Giá bán thuỷ sản sang
Mỹ lại cao hơn các thị trường khác. Mặt hàng xuất khẩu vào thị
trường Mỹ ngày càng mở rộng với các mặt hàng tươi sống như cá
ngừ , cá thu, cua.
Sự tăng trưởng của xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ gắn liền với
GNP là 7080 tỷ USD , bình quân thu nhập đầu người là 26.000
USD . Hàng năm Mỹ nhập khẩu khoảng 1,4 triệu tấn thuỷ sản các
loại với kim nghạch 6,5 tỷ USD . Các doanh nghiệp thuỷ sản Việt
Nam đã có chỗ đứng trên thị trường này tuy còn rất khiêm tốn .
Mỹ thật sự coi Việt Nam là nguồn chính thức cung cấp thuỷ sản ,
đặc biệt là tôm . Trong thời gian qua tôm nhập khẩu vào Mỹ tăng
lên rất nhanh , nhất là mặt hàng tôm nõn , tôm nõn rút gân , PTO ,
ngoài ra còn có một số loại cá nhiệt đới cũng bán chạy ở Mỹ như
cá hông phi lê, cá rô phi đỏ và đen phi lê .
4. Thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân.
4.1. Thuận lợi.
Thịrường thuỷ sản Mỹ là một thị trường rất có tiềm năng,giới
tiêu dùng Mỹ đã quen dùng các loại thuỷ sản của Việt Nam nhất là
cá tra cá basa. Đây là một lợi thế lớn đối với Việt Nam cần tiếp tục
đẩy mạnh xuất khẩu sang Mỹ.
Thị trường Mỹ là một thị trường phát triển nhanh
chóng,rộng lớn.
Thị trường Mỹ đang có xu hướng gia tăng tiêu thụ thuỷ
sản trong khi đó thì cung nước này lại đang giảm dần. Đây là cơ
hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng thị phần tại Mỹ.
Chúng ta học hỏi được những kinh nghiệm của các doanh nghiệp
nước bạn
4.2. Khó khăn.
Tại Mỹ , vào tháng 1 năm 2001 , giá tôm có xu hướng giảm
bởi mối lo ngại kinh tế Mỹ suy thoái.7
Việc được hưởng quy chế MFN ( quy chế tối huệ quốc )
chưa phải là điểm quyết định để tăng sức cạnh tranh của hàng thuỷ
sản Việt Nam , vì Mỹ đã áp dụng quy chế MFN với 136 nước
thành viênWTO, ngoài ra còn có ưu đãi đặc biệt đối với các nước
chậm phát triển và đang phát triển , nhưng Việt Nam chưa được
chẽ của Cục quản lý dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ ( FDA )
theo các tiêu chuẩn HACCP ( quản lý theo hệ thống để đảm bảo an
toàn và vệ sinh thực phẩm ). Vấn đề vệ sinh thực phẩm , ô nhiễm
môi trường , bảo vệ sinh thái là những lý do mà Mỹ thường đưa
ra để hạn chế nhập khẩu thuỷ sản . Mặc dù cơ quan FDA của Mỹ
công nhận hệ thống HACCP của Việt Nam nhưng chất lượng sản
phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam còn hạn chế do trình độ
công nghệ trong chế biến và bảo quản còn thấp , chủ yếu là công
nghệ đông lạnh .
Một khó khăn trong lĩnh vực tiếp thị là mặc dù đã có trên 50
doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu thuỷ sản sang Mỹ nhưng
hầu như chưa có doanh nghiệp nào mở được văn phòng đại diện tại
nước Mỹ . Do vậy các doanh nghiệp Việt Nam ít có cơ hội giao
thương với các nhà phân phối Mỹ , nhất là để tìm hiểu các luật
chơi của thị trường Mỹ . Hệ thống luật của Mỹ khá phức tạp, chặt
chẽ và mới lạ đối với các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam . Vì
vậy nếu không nghiên cứu rõ thì doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu
những thua thiệt nặng nề trong kinh doanh . Có thể đơn cử một
một số luật sau :
Luật chống độc quyền đưa ra các chế tài hình sự khá nặng
đối với các hành vi độc quyền hoặc cạnh tranh không lành mạnh