®Ò ¸n m«n häc1
LỜI MỞ ĐẦU
Theo sử sách đã ghi, tháng 12 năm 1939 dưới triều đình Minh Mạng,
Tổng đốc Hải An (tên gọi của Quảng Ninh lúc đó ) Tôn Thất Bật đã dâng sớ
xin triều đình được thuê dân công để khai thác than ở núi Yên Lãng ( xã Yên
Thọ - Đông Triều ngày nay). Ngày 12/3/1883 thực dân Pháp đánh chiếm Hòn
Gai - Cẩm Phả nhanh chóng chiếm đoạt tài nguyên than và sau đó tiến hành
khai thác công nghiệp. Với gần 120 năm lịch sử khai thác và 67 năm truyền
thống vẻ vang, từ cuộc tổng bãi công ngày 12/11/1936 của hơn 3 vạn công
nhân mỏ than Cẩm Phả, Hòn Gai, Uông Bí, Đông Triều đã giành thắng lợi rực
rỡ , đánh dấu một mốc son chói lọi trong trang sử hào hùng đấu tranh vì sự
nghiệp giải phóng giai cấp , giải phóng dân tộc . Trong suốt thời kì kháng
chiến chống Pháp , dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh , những người
thợ mỏ đã đoàn kết đấu tranh chống lại chế độ hà khác của bọn chủ mỏ , tích
cực tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp , góp phần to lớn trong sự
nghiệp giải phóng dân tộc . Khi vùng mỏ Quảng Ninh được giải phóng
25/4/1955 thợ mỏ đã thi đua ngày đêm khôi phục hầm mỏ ,xưởng máy để sản
xuất nhiều than phục vụ kiến quốc. Khi đế quôc Mỹ mở rộng chiến tranh ra
miền bắc (5/8/1964) dưới sự lãnh đạo của đảng , thực hiện lời kêu gọi thiêng
liêng của Bác Hồ , thợ mỏ đã nhanh chóng chuyển sang sản xuất thời chiến :
Vừa sản xuất đủ than cho nhu cầu phục vụ sản xuất , chiến đấu ; vừa trực tiếp
chiến đấu bảo vệ vùng mỏ.Sau ngày Miền Nam được giải phóng , đặc biệt là
khi bước vào thời kỳ đổi mới , nhất là sự ra đời Tổng công ty than Việt Nam
(10/10/1994) ngành than đã được sự quan tâm rất lớn của đảng và nhà nước ta
. Khi còn sống Bác Hồ đã nhiều lần về thăm và làm việc với ngành than .
Trong những năm gần đây đã có rất nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp của đảng
và nhà nước ta về thăm và làm việc với ngành than .Ngày 19/1/2003 phó thủ
tướng Vũ Khoan đã đến chúc mừng công nhân cán bộ ngành than hoàn thành
®Ò ¸n m«n häc3
PHẦN 1 : NỘI DUNG VÀ ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG CỦA
TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỚI PHÁT NGÀNH
THAN.
1.QUAN NIỆM VỀ TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ.
Tiến bộ khoa học công nghệ là sự phát triển liên tục các thành phần vật
chất của lực lượng sản xuất gắn lion với việc tích luỹ kiến thức , hoàn thiện hệ
thống quản ly sản xuất , nâng cao tiềm lực sản xuất và được thể hiện trong
mức tăng hiệu quả kinh tế.
Để thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ phải chú trọng nhân lực khoa học
công nghệ bằng các biện pháp như:
+ Tạo môi trường thuận lợi cho phát triển khoa học công nghệ thông qua xây
dựng nền văn hoá công nghệ và đánh giá đúng giá trị lao động khoa học công
nghệ
+ Có chương trình đào tạo nhân lực khoa học đồng bộ , dài hạn và nhất
quán.
+ Bố trí và sử dụng đúng lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ hiện có.
Ngoài ra đảm bảo tài chính cho sự phát triển khoa học công nghệ cũng mang
ý nghĩa quyết định. Để thúc đẩy và tạo điều kiện thực hành tiến bộ khoa học
công nghệ có hiệu quả , phải tạo lập được nguồn vốn thích đáng, phân bổ
nguồn vốn có trọng điểm và sử dụng đúng mục đích.
Tiến bộ khoa học công nghệ là một việc làm thường xuyên , liên tục trong
mọi tổ chức . Nó có tác dụng nâng cao hiệu quả công nghệ.
1.2 : NÓI CHUNG TÁC ĐỘNG CỦA TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
TỚI PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP
1.2.1 : TÁC ĐỘNG TỚI HÌNH THÀNH NGÀNH CÔNG NGHIỆP.
Ngành Dệt – May đầu tư thêm 121.222 cọc sợi, tăng sản lượng sợi lên 10
000 – 12 000 tân/ năm . Năng lực dệt được đầu tư 1 087 máy khổ rộng , hiện
đại của Nhật và các nước Châu Âu, sản lượng có thể đạt thêm 50 triệu m/năm.
Việc đổi mới công nghệ đã làm tăng năng suất , mở rộng mặt hàng , nâng cao
chất lượng sản phẩm , tăng khả năng cành tranh của hàng hoá công nghiệp
trên thị trường trong và ngoài nước. Các mặt hàng của dệt may Việt Nam đã
®Ò ¸n m«n häc5
và đang có mặt ở rất nhiều thị trường trên thế giới như Châu Á, Châu Phi,
EU, Nhật , Mỹ
1.2.3 : TÁC ĐỘNG TỚI PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG.
Thị trường là một trong những nhân tố quyết định tới sản lượng sản xuất
hàng năm của doanh nghiệp. Đầu tiên doanh nghiệp muốn sản xuất thì phải
nắm bắt được nhu cầu , phải có được thị trường .
Khoa học công nghệ cũng có ảnh hưởng lớn đến việc tạo ra thị trường và
phát triển thị trường của doanh nghiệp .
+. Với những tiến bộ khoa học công nghệ thuộc vào dạng phát minh , sáng
chế thì nó có thể mở ra một thị trường hoàn toàn mới đối với doanh nghiệp
cũng như đối với nền kinh tế . Một số ví dụ như khi con người chế tạo ra các
thiết bị truyền thông thì nó mở ra một thị trường mới sản xuất và cung cấp các
thiết bị truyền thông trên toàn thế giới . Hoặc khi chế tạo thành công chiếc
máy bay đầu tiên đã mở ra một thị trường mới về máy bay và các thiết bị
hàng không khám phá vũ trụ.
+.Với những tiến bộ khoa học công nghệ được cải tiến , cải thiện từ cái
cũ ( hay đối với các doanh nghiệp thì đó là do việc nâng cao năng lực công
nghệ của mình ) thì nó có tác dụng bảo vệ thị trường và phát triển thị trường
cho doanh nghiệp . Ví dụ việc nâng cao năng lực công nghệ trong các ngành
công nghiệp nhẹ như may mặc , da giầy đã tạo điều kiện cho các doanh
sản. Với những tiến bộ khoa học , công nghệ tạo ra những máy móc thiết bị
có công suất lớn trong việc khai thác. Bên cạnh đó thì cũng chính những máy
móc này sẽ góp phần tàn phá môi trường tự nhiên một cách nhanh chóng hơn.
Một ví dụ điển hình là khi con người bước vào cuộc cách mạng thông tin
công nghệ lần thứ ba thứ tư , nhờ sự trợ giúp của của các thiết bị cơ khí máy
móc – cơ khí hoá , tự động hoá , điện ,điện tử , điện khí hoá và với các loại
hình thông tin đa dạng , phong phú , con người đã có đủ mọi diều kiện và
phương tiện đẻ nhân lên nhiều lần sức mạnh của mình trong việc khai thác
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Chỉ hơn 300 năm dưới thời
văn minh công nghiệp đã gây ra sự suy thoái cả về chất lẫn lượng của môi
trường tự nhiên , gấp rất nhiều lần so với sự tàn phá của con người trong hàng
ngàn năm trước đó.
®Ò ¸n m«n häc7
Tuy nhiên bên cạnh những tác hại đó thì ngày nay những tiến bộ khoa học
công nghệ được áp dụng cũng có một phần , một khía cạnh nào đó góp phần
vào việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thông qua việc nâng cao tỷ lệ thu hồi
sản phẩm . Khai thác và sử dụng triệt để hơn các nguồn tài nguyên tránh sự
lãng phí trong công cuộc khai thác và sử dụng tài nguyên.
1.3 : NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ TĂNG CƯỜNG TÁC
ĐỘNG CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG PHÁT TRIỂN
NGÀNH THAN.
1.3.1 : CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU TRIỂN KHAI.
Công tác nghiên cứu triển khai là mắt xích quan trọng trong toàn bộ chu
kỳ tiến bộ khoa học công nghệ . Nghiên cứu triển khai nhằm làm vất chất hoá
các kết quả nghiên cứu, chuyển các kết quả nghiên cứu vào sản xuất . Sản
phẩm của hoạt động nghiên cứu triển khai là hình tạo mẫu về kỹ thuật mới ,
sản phẩm mới , bao gồm : thiết kế ( sản phẩm và quy trình ) , thử nghiềm mô
nhờ ngành than đã vận dụng tốt nghị quyết của đại hội đảng toàn quốc về
việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất . Tuy nhiên để
làm chủ được những tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại trên chúng ta cần có
một đội ngũ tri thức có tay nghề và trình độ , ngành than cũng đã hết sức quan
tâm đến vấn đề này. Ví dụ :
Về đào tạo , ngành than được sự trợ giúp của nhà nước đã có hai trường
đại học đầu ngành là “ Đại Học Mỏ Địa Chất – Hà Nội “ và “ Đại Học Mỏ
Địa Chất – Quảng Ninh “ đào tạo những kỹ sư Mỏ có trình độ đại học . Ngoài
ra ngành còn có trường “Cao Đẳng Kỹ Thuật Mỏ “ và trường “Đào Tạo Nghề
Mỏ Hồng Cẩm “ đào tạo những kỹ sư có trình độ cao đẳng và những công
nhân kỹ thuật có trình độ . Ngoài ra cũng có sự liên kết giữa các Mỏ với các
trường do đó đã phần nào cân đối được số lượng công nhân cần tuyển của các
®Ò ¸n m«n häc9
công ty Than hàng năm và trong tương lai với số lượng đào tạo của các
trường trong năm . Công ty than Khe Chàm là một trong số đó . Tám tháng
đầu năm 2003 công ty đã tuyển thêm 116 công nhân kỹ thuật , 29 kỹ sư , cao
đẳng . Ngoài ra công ty còn liên kết với các trường trong việc nâng cao tay
nghề cho một số công nhân của công ty : gửi đào tạo 100 học sinh, thi nâng
bậc cho 171 công nhân kỹ thuật, tạo điều kiện cho 47 người trong công ty
đang theo học đại học. Công ty Than Hà Tu trong những năm từ 1997 đến
năm 2003 đã đưa hơn 2 000 công nhân đi học để nâng cao trình độ cập nhật .
Nhưng có một thực tế mà Ngành than cũng như hầu hết các ngành khác
trong nền kinh tế nước ta mắc phải đó là : Chất lượng của các kỹ sư , các công
nhân kỹ thuật Mỏ được đào tạo ra có trình độ còn yếu . Hiện nay chúng ta
mới chỉ đáp ứng được phần nào về số lượng cán bộ trẻ song về chất lượng thì
chưa được đảm bảo nắm.
1.3.4 : HUY ĐỘNG VÀ SỬ DỤNG HIỆU QUẢ CÁC NGUỒN VỐN.
bảo vệ môi trường.
®Ò ¸n m«n häc11
PHẦN 2 : THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ VÀO PHÁT TRIỂN NGÀNH THAN Ở QUẢNG
NINH
2.1 : MỘT SỐ KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN NGÀNH THAN QUẢNG
NINH TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
a. Năng suất , chất lượng và an toàn lao động đối với ngành than.
Do nhận thức được tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật với ngành than
nên ngành than là một trong những ngành sớm áp dụng ngay những tiến bộ
khoa học công nghệ vào ngành , do đó đã đạt được những kết quả rực rỡ
+. Năng suất : Năm 2003 đánh dấu một mốc son phát triển của ngành than ,
với sản lượng khai thác 20,0 triệu tấn than nguyên khai, trong đó có 17,7 triệu
tấn than sạch đã hoàn thành và vượt mức kế hoạch của năm 2005. ( Tại đại
hội đảng toàn quốc lần thứ năm đảng đề ra cho ngành than là đến năm 2005
phải khai thác được 16 triệu tấn than). Lần đầu tiên toàn ngành vượt mức kế
hoạch đào lò đá ; đạt được các mức đào giếng nghiêng ở các mỏ Vàng Danh ,
Thống Nhất , Khe Chàm , Thành Công ; đưa máy đào lò liên hợp vào sử dụng
thành công tại mỏ Mông Dương . Nhiều công ty đạt và vượt mức công suất
thiết kế mỏ : Đông Bắc 2,20 triệu tấn , Cọc Sáu 2,35 triệu tấn, Đèo Nai 1,90
triệu tấn , Núi Béo 1,25 triệu tấn , Mạo Khê 1,40 triệu tấn , Vàng Danh 1,03
triệu tấn , Mông Dương 0,75 triệu tấn
+ . Chất lượng : Nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ vào ngành
than mà chất lượng than cũng được tăng lên . Các loại tạp chất trong than
được loại dần ra : dăm gỗ , hàm lượng MgO , Fe
2
ty than Dương Huy cán bộ công nhân viên đi làm có xe đưa đón . Nhà tắm và
giặt , sấy quần áo, ủng, mũ được xây dựng liên hoàn. Các khu nhà ăn ở, nhà
tập thể được quy hoạch xây dựng và cải tạo, đảm bảo điều kiện cảnh quan, vệ
sinh môi trường. Bên cạnh đó đời sống của cán bộ công nhân viên gắn bó với
ngành than trong những năm gần đây không ngừng được tăng lên, thể hiện
qua doanh thu của người lao động. Tại công ty than Hà Tu : lương công nhân
bình quân tăng dần từ 500_600 ngàn đồng /tháng năm 1999 lên dần tới 1 triệu
và đến năm 2003 lương đạt bình quân 1,7 triệu đồng. Tại công ty than Dương
Huy : Năm 1999 đạt 650 ngàn đồng /người /tháng, đến năm 2003 đạt mức 1,6
triệu đồng / người / tháng. Tại công ty than Khe Chàm năm 2002 thu nhập
®Ò ¸n m«n häc13
bình quân theo đầu người là 1,958 triệu đồng/người/tháng. Cao Sơn thu nhập
bình quân đầu người chưa kể ăn công nghiệp 9.000 đ một bữa là trên 1,7 triệu
đồng /người /tháng Mạo Khê là 1,7 triệu đồng /người /tháng Nhìn chung
hiện tại các công ty than ở Quảng Ninh, công nhân đều có mức thu nhập bình
quân hàng tháng đạt mức từ 1,7 tới trên 2 triệu đồng một tháng. Và theo mục
tiêu mà ngành than đạt ra trong năm 2004 ngành than đặt mục tiêu công nhân
ngành than sẽ có mức thu nhập bình quân đạt mức từ 2.003.000 tới 2.091.000
đồng /người/tháng .
c. Đóng góp về kinh tế _xã hội đối với tỉnh Quảng Ninh .
Sự phát triển vượt bậc của ngành than trong những năm gần đây đã góp
phần quan trọng vào sự phát triển của tỉnh Quảng Ninh. Về kinh tế hàng năm
ngành than đóng góp vào ngân sách của tỉnh Quảng Ninh tới hàng trăm tỷ
đồng. Mặt khác với số lượng tập trung khoảng 80 000 công nhân viên chức
ngành than tập trung ở Quảng Ninh ngành than đã giải quyết cho tỉnh một số
lượng lớn người lao động có thu nhập cao so với mức thu nhập trung bình
trong cả nước . Ngoài ra theo quy luật kinh tế thông thường sự phát triển của
năng khoan các lỗ khoan theo nhiều hướng khác nhau Nhờ trang bị thiết bị
công nghệ mới mà các mỏ đã tăng được công suất khai thác , bóc đá và cải
thiện được nhiều chỉ tiêu kinh tế _kỹ thuật. Máy xúc thuỷ lực sử dụng trong
công tác đào sâu đã tăng tốc độ xuông sâu của mỏ lên 15 m/năm , trong khi
nếu dùng máy tay gầu kéo cáp chỉ đạt trung bình 7,5 m ( Công ty than Cao
Sơn). Dùng máy thuỷ lực gàu ngược để xúc bốc lựa chọn than và quặng đã
giảm đáng kể tỷ lệ tổn thất và nâng cao chất lượng sản phẩm . Như ở công ty
than Hà Tu khi áp dụng thiết bị này tỷ lệ tổn thất than còn 8,16%( năm 2002)
Công ty than Cao Sơn 8,3%, nâng cao chất lượng than (ví dụ như ở công ty
than Cao Sơn trước năm 1998 tỷ lệ than cám 3 chỉ đạt 13,2% nhưng từ năm
1998 đến năm 2002 tỷ lệ than cám 3 đạt trung bình 17,3% , tăng 31% về khối
lượng , ngoài ra còn khai thác than cám 2 có độ tro A
k
< 8% Trong lĩnh vực
khai thác hầm lò: đã tiến hành nghiên cứu và đưa vào áp dụng các sơ đồ công
nghệ khác nhau phù hợp với từng điều kiền địa chất mỏ cụ thể của từng khu
vực như : công nghệ khai thác lò chợ ngắn hạ trần ; công nghệ khai thác chia
®Ò ¸n m«n häc15
lớp , sử dụng lớp ngăn bằng lưới thép để khai thác các vỉa dày dốc thoải, dốc
xiên , áp dụng công nghệ chống vì thuỷ lực đơn, dàn thuỷ lực di động, máy
khấu than trong lò chợ . Việc áp dụng các công nghệ nói trên đã cho kết quả
bước đầu như sau : tổn thất than giảm từ 10-15%( ví dụ ở công ty than Vàng
Danh năm 1997 tổn thất than là 55,87% đến năm 2002 giảm xuống còn
44,34% ) sản lượng lò chợ tăng 2-2,5 lần , năng suất lao động tăng 2 lần ,
lượng gỗ tiêu hao giảm 2-3lần.Ở đây xin nêu ra một ví dụ đại diện cho ngành
than về việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong ngành, đó là ở
công ty than Khe Chàm . Từ khi mới thành lập năm 1986 , công suất lò chợ
so với khai thác bằng công nghệ truyền thống khoan nổ mìn.
Tuy đạt được những thành quả to lớn như vậy nhưng việc áp dụng những
tiến bộ khoa học công nghệ vào trong ngành than cũng còn có nhiều khó khăn
hạn chế.
+. Các công nghệ mới áp dụng đòi hỏi tính đồng bộ từ công nghệ chính đến
công nghệ liên quan vì vậy đòi hỏi phải có kinh phí đầu tư lớn .
+. Về nhân lực cần phải đào tạo cán bộ , công nhân đảm bảo trình độ và có tác
phong văn hoá công nghiệp cao.
+. Do trong mỗi mỏ than có những đặc điểm địa chất khác nhau, cần nghiên
cứu kỹ lưỡng để lựa chọn công nghệ hợp lý.
+. Do sự yếu kém về năng lực công nghệ của các công ty than trong tổng
công ty.
Ví dụ : Trong giai đoạn đầu của quá trình thử nghiệm máy khấu than tại công
ty than Khe Chàm do chưa hiểu được ưu nhược điểm của máy lên năng suất
chỉ đạt trung bình là 5,2 tấn /công . Nhưng đến khi chuyển sang khai thác tại
vỉa 14.2-1 có điều kiện địa chất ổn định máy đã phát huy hiệu quả cao . Năng
suất đạt 8,1 tấn /công.
2.2.2 : TÁC ĐỘNG CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỚI PHÁT
TRIỂN THỊ TRƯỜNG.
Những thành tựu trong việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ
trong khoảng một thập kỷ trở lại đây đã mở ra những thị trường hết sức mới
mẻ cho ngành than Việt Nam. Than Việt Nam bây giờ không những chỉ được
®Ò ¸n m«n häc17
sản xuất ra phục vụ trong nước mà còn được xuất khẩu ra các nước khác trên
thế giới . Than Việt Nam đã có mặt tại Châu Âu, Châu Mỹ , Nhật Bản và cả
nước xuất khẩu than nhiều nhất trên thế giới là Trung Quốc. Đồng thời với
việc làm tăng chất lượng sản phẩm là tăng nhiệt năng của than, các tạp chất
nguy hiểm và độc hại nhất trong các ngành kinh tế của cả nước ngày nay.
Việc phải làm và tiếp xúc trực tiếp với than một chất bẩn, và những độc hại ro
bụi than gây ra (tỷ lệ bụi cao gấp 400 lần cho phép) đã làm cho công nhân
ngành than có tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp rất cao. Không những vậy mà sản
xuất than còn ảnh hưởng đến môi trường xung quanh . Nước từ các hầm lò
khai thác dưới mực nước biển được bơm ra ngoài, nước thải từ quá trình sàng
tuyển than của công ty Tuyển Than Cửa Ông , Tuyển Than Hòn Gai không
được qua xử lý hoặc được xử lý rất đơn giản được xả ra các sông , kênh , rạch
và đặc biệt là được đổ xuống hoặc được chẩy về Vịnh Hạ Long ( Di sản văn
hoá thế giới ) đã làm ô nhiễm rất nặng môi nguồn nước . Hoặc qua quá trình
chuyên trở than của các công ty trên các con đường có người dân sinh sống là
rất bụi và ô nhiễm môi trường tiếng ồn
2.2.4 : TÁC ĐỘNG CỦA TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TỚI
NGUỒN TÀI NGUYÊN.
Than được xếp vào loại tài nguyên không thể phục hồi được . Quá trình
hình thành than phải trải qua hàng triệu năm lịch sử với những biến động to
lớn về tự nhiên . Chính vì vậy mà đảng và nhà nước ta luôn quan tâm tới sự
phát triển của ngành than phải làm sao khai thác tiết kiệm, tránh lãng phí.
Nguyên Tổng Bí Thư Đỗ Mười trong khi thăm và làm việc với cán bộ ngành
than đã dạy : Than của chúng ta tuy nhiều nhưng khai thác cũng có ngày hết.
Vì vậy một mặt chúng ta phải đẩy mạnh khai thác , thúc đẩy sản xuất song
mặt khác cũng phải tiến hành tiết kiệm.
Việc áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong những năm gần
đây đã được tổng công ty than cũng đã quan tâm và chú trọng đến vấn đề này
và chỉ đạo xuống các đơn vị thành viên . Các công ty đã quan tâm tới việc áp
dụng những tiến bộ khoa học công nghệ mà sử dụng tiết kiệm tài nguyên
®Ò ¸n m«n häc19
+. Môi trường sản xuất cũng như môi trường xung quanh vẫn còn bị ô nhiễm
nặng lề .Ngành than vẫn còn được xét vào mục những ngành công nghiệp
nguy hiểm và độc hại nhất ở nước ta .
+. Tiếp đến là do tác động kéo theo của ngành than mà một số ngành khác
như :
. Ngành nông lâm bị ảnh hưởng bởi phải khai thác gỗ phục vụ cho
việc chống lò dẫn đến sự huỷ hoại môi trường tự nhiên và tài nguyên rừng
. Ngành thuỷ sản bị ảnh hưởng lớn bởi nguồn nước do các công ty
than, công ty chế biến thải ra .
. Ngành du lịch đặc biệt là ngành du lịch ở các khu vực lân cận như
Vịnh Hạ Long bị ô nhiễm bởi bụi và ô nhiễm nguồn nước
+. Do những yếu kém về công nghệ mà hiện nay than Việt Nam không thể
thâm nhập vào những ngành công nghiệp quan trọng như công nghiệp luyện
thép , luyện kim , lò cốc cao
2.3.2 NGUYÊN NHÂN
Ngành than còn gặp những khó khăn như trên là do một số nguyên nhân
sau đây:
a. Công tác nghiên cứu triển khai đã được ngành quan tâm song do năng
lực công nghệ ở tất cả các ngành kinh tế nước ta còn kém lên ta chưa
thể tự nghiên cứu chế tạo ra những máy móc thiết bị tiên tiến nhất có
năng suất cao phục vụ trong ngành than.
b. Năng lực công nghệ ở các công ty than của Quảng Ninh nói riêng cũng
như của cả nước nói chung còn thấp kém , chính vì vậy mà việc áp
dụng những tiến bộ khoa học công nghệ trong ngành than còn gặp
nhiều khó khăn, chưa tận dụng được hết năng lực công nghệ của các
công nghệ được đưa vào sử dụng trong công ty.
®Ò ¸n m«n häc21
do khí , bụi than gây ra .
. Các công nghệ gây ít ô nhiễm môi trường như : một số loại máy xới ,
máy xúc có răng gàu tích cực và máy liên hiệp phay cắt đá là những công
nghệ tiên tiến nhất trên thế giới dùng thay cho công nghệ khai phá bằng khoan
nổ mìn vừa có đặc tính về năng suất , chất lượng dẫn đến giảm giá thành , vừa
ít gây ô nhiễm môi trường
®Ò ¸n m«n häc23
3.2 : NÂNG CAO NĂNG LỰC CÔNG NGHỆ
Nâng cao năng lực công nghệ mỏ là việc làm cần thiết đối với ngành mỏ.
Có nâng cao được năng lực công nghệ mới có thể nắm bắt và hiểu rõ về công
nghệ từ đó mới có thể phát huy tối đa khả năng của công nghệ .Mặt khác có
nâng cao được năng lực công nghệ trong ngành than thì mới áp dụng được
những tiến bộ mới nhất về khoa học công nghệ trên toàn thế giới vào ngành
than vì vậy đề nghị ngành than nói chung cũng như những công ty than ở
Quảng Ninh nói riêng phải có kế hoạch nâng cao năng lực công nghệ của
mình, ở đây em xin đưa ra một số kiến nghị sau:
. Ngành than phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa công tác nghiên cứu
triển khai của tổng công ty cũng như của các đơn vị thành viên với bộ phận
sản xuất để áp dụng ngay những kiến thức , khám phá công nghệ vào thực
tiễn sản xuất.
. Cần phải tạo lập mối quan hệ thường xuyên với các trường , với các cơ
sở đào tạo dạy nghề mỏ . Tiến hành các hoạt động đối thoại trực tiếp giữa
công ty với các trường về những công nghệ , thiết bị mới đã được đưa vào sản
xuất cũng như những thiết bị công nghệ mới có trên thị trường .
3.3 : PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
Khoa học công nghệ đang có những bước phát triển mạnh mẽ , các công
trình viết chắc chắn sẽ có những sai xót mong cô xem xét góp ý kiến để em
rút kinh nghiệm và sửa chữa trong bản chính được tốt hơn .