LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta luôn cần Kiểm Soát chi tiêu để có
tiền dành dụm, sử dụng cho các lĩnh vực khác. Các tổ chức kinh doanh, các
doanh nghiệp, một quốc gia dù theo con đường phát triển nào thì việc kiểm
soát chi phí như là một hoạt động tất yếu khách quan. Tất cả đều phải hướng
tới mục tiêu cuối cùng là thu lợi để tái đầu tư cho tương lai, cạnh tranh, tồn tại
và phát triển.
Trong cuốn “Bàn về Kiểm Kê, Kiểm Soát” Lênin đã viết “Khó khăn
chủ yếu ở trong lĩnh vực kinh tế là thực hiện ở khắp mọi nơi và hết sức
nghiêm ngặt sự kiểm kê, kiểm soát việc sản xuất và phân phối sản phẩm cũng
như tăng năng suất lao động ”
(1)
. Với vai trò quan trọng đó “Kiểm soát chi
phí” trở thành một khâu quan trọng, cần thiết trong hệ thống kiểm soát nội bộ
của mỗi quốc gia, doanh nghiệp và cả cá nhân.
Để “Kiểm soát chi phí”thì cần phải đến sự chủ động cả bản thân tổ
chức, doanh nghiệp và yếu tố khách quan đó là sự tác động của quản lý nhà
nước. Trong khuôn khổ của đề án môn học em xin nghiên cứu yếu tố chủ
quan đó là “ Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp “, một chức năng trong
quá trình quản lý, với mục tiêu là sử dụng hiệu quả nhất các khoản chi phí bỏ
ra.
Với tính chất nội dung đề tài em chỉ xin đưa ra những nội dung mang
tính lý luận, tính thực tế của vấn đề nghiên cứu trong nền kinh tế hỗn hợp mà
nước ta đang hướng tới hiện nay chỉ ở mức dộ mô phỏng.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của chức năng kiểm soát chi phí trong
doanh nghiệp, cộng với nhận thức tình hình thực tế các doanh nghiệp nước ta
hiện nay em đã chọn đề tài: “Kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp”.
Luận văn tốt nghiệp " Tổng quan về kiểm
soát chi phí trong doanh nghiệp"
lao động sống, hao phí lao động vật hoá và chi phí cần thiết khác mà doanh
nghiệp đã bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ
nhất định”.
Qua khái niệm này chúng ta thấy rằng chi phí khác với chi tiêu. Chi
tiêu đó là hoạt động hàng ngày với những thời điểm cụ thể, trong khi chi phí
chúng ta xét trong một thời kỳ, gắn với mục tiêu nhất định. Như vậy chi phí
gồm rất nhiều hoạt động chi tiêu khác nhau, chi mua nguyên vật liệu, thuê lao
động
2. Phân loại chi phí.
Thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy tổng chi phí của một
doanh nghiệp bao gồm nhiều khoản chi phí như: chi phí mua nguyên vật liệu,
chi tiền lương, tiền thưởng, chi tiền điện, nước và các nhiên liệu khác, chi phí
mua các dịch vụ; từ dịch vụ vận chuyển đến vệ sinh, chi phí bán hàng, chi phí
bao bì quảng cáo, chi phí quản lý như khấu hao các thiết bị văn phòng hay
chi phí cho nhân viên văn phòng
Các khoản chi phí hết sức đa dạng, phức tạp. Muốn sử dụng chúng có
hiệu quả chúng ta cần kiểm soát, muốn kiểm soát chúng ta cần nhận biết và
hiểu nội dung các chi phí, vì vậy cần phân loại chi phí.
Có nhiều tiêu chí phân loại khác nhau và một khoản mục chi phí có thể
được liệt kê vào nhiều loại chi phí khác nhau, nhưng để dễ kiểm soát chúng ta
chỉ xem những tiêu chí phân loại mà ở đó nhà quản lý dễ nhận biết và kiểm
soát.
2.1. Theo đối tượng chi phí.
Xét theo đối tượng chi phí đó là chúng ta quan tâm đến các khoản chi
đó là chi phí cho cái gì, và như vậy ta có thể chia thành ba loại cơ bản: chi phí
lao động, chi phí nguyên vật liệu, chi phí chung.
2.1.1. Chi phí lao động
Đó là tổng các khoản tiền liên quan đến công nhân viên. Chẳng hạn
như các khoản tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi xã hội Nhưng lao động thì lại
xưởng A
Công việc đã
hoàn thành
Nguyên vật
liệu đã dùng
Thời gian
bắt đầu
Thời gian
kết thúc
Tổng số
thời gian
Thứ 2 Vận hành máy
8
Thứ 3 Vệ sinh 8
Thứ 4 Vận hành máy
8
Thứ 5 Vận hành máy
8
Thứ 6 Bảo dưỡng 8
Thứ 7 Vận hành máy
8
Chủ nhật
Ta thấy rằng 32 giờ đã được sử dụng để vận hành máy móc sản xuất.
Đây là những giờ lao động trực tiếp vì chúng có thể được phân bổ trực tiếp
cho sản phẩm sản xuất ra. Ngoài 8 giờ được sử dụng để làm vệ sinh, 8 giờ
được sử dụng để bảo dưỡng. Đây là những giờ lao động gián tiếp do chúng
vật liệu trực tiếp.
Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp.
Cũng từ ví dụ trên ta thấy: chi phí sơn dùng sơn lại cửa trong nhà máy
là chi phí nguyên vật liệu gián tiếp vì lượng sơn này không được sử dụng trực
tiếp vào việc sản xuất cửa gỗ.
Như vậy ta có thể đi đến kết luận: chi phí nguyên vật liệu gián tiếp là
chi phí của các nguyên vật liệu mà không thể phân bổ trực tiếp và toàn bộ vào
một đơn vị sản phẩm được sản xuất ra. Tuy nhiên một nguyên vật liệu được
sử dụng cho nhiều công việc khác nhau, thì chúng không thể phân bổ tất cả
chi phí cho nguyên vật liệu này thành chi phí trực tiếp hay chi phí gián tiếp.
Chi phí tồn trữ nguyên vật liệu.
Không phải nguyên vật liệu nào mua về cũng đưa vào sản xuất ngay
mà phần lớn là nhập kho dự trữ. Vì thế chúng ta cũng phải tính đến chi phí
tồn trữ nguyên vật liệu, ví dụ: chi phí bảo quản, chi phí thuê mặt bằng, tiền lãi
đi vay để mua nguyên vật liệu
Muốn kiểm soát được chi phí dự trữ, nhà quản lý có thể đặt ra mức tồn
kho tối đa cho tất cả các mặt hàng dự trữ. Khi đó có thể ước tính chi phí tồn
trữ tối đa vào bất kỳ thời điểm nào. Mức tồn trữ tối đa của một sản phẩm hay
nguyên vật liệu nào đó mà bạn muốn tích trữ trong kho.
2.1.3. Chi phí chung.
Có các khoản chi phí phát sinh nhưng không dễ dàng phân bổ cho một
đơn vị sản phẩm, một quá trình sản xuất cụ thể. Những chi phí như vậy được
gọi là chi phí chung.
Các chi phí nguyên vật liệu gián tiếp thường là các chi phí chung, ví dụ
như: chi phí cho quần áo bảo hộ lao động và trang thiết bị vệ sinh, chi phí
điện nước, chi phí thuê mặt bằng sản xuất, tiền lương trả cho nhân viên không
trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất hoặc không trực tiếp cung cấp dịch
vụ như: nhân viên bảo vệ, thợ bảo dưỡng, thư ký và nhân viên lễ tân.
2.2. Phân loại theo mức độ biến động chi phí.
khoản chi dự kiến là bao nhiêu mà còn xác định nên chi tiêu trong trường hợp
nào, điều kiện nào.
Định mức chi phí có hai nội dung chính sau:
Định mức giá: Được xác định bằng cách cộng tổng các khoản chi lại.
Định mức lượng: là định mức kỹ thuật liên quan tới số lượng thành
phần nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm, số lượng và loại lao động sản
xuất, làm việc trong doanh nghiệp.
Chi phí luông biến đổi phức tạp vì thế các định mức chi phí phải được
xem xét lại thường xuyên để đảm bảo tính hợp lý của chúng.
II. KIỂM SOÁT CHI PHÍ.
1. khái niệm:
Chi phí là một nội dung quan trọng trong hoạt động tài chính của mỗi
doanh nghiệp. Kiểm soát chi phí là một chức năng quản lý có ý thức và rất
quan trọng trong quá trình quản lý của doanh nghiệp. Đó là sự tác động của
chủ thể quản lý nhằm nhận biết, hiểu biết các nội dung chi phí nhằm sử dụng
hiệu quả nhất các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Để làm tốt chức
năng này nhà quản lý cần trả lời các câu hỏi: Doanh nghiệp có những khoản
mục chi phí nào?; tiêu chuẩn, định mức chi phí là bao nhiêu?; chi phí nào
chưa hợp lý? Nguyên nhân vì sao?, biện pháp giải quyết? .
Để tiến hành kiểm soát chi phí các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải
đưa ra các tiêu chuẩn, nội dung và mục tiêu kiểm soát chi phí, dựa trên các
nguyên tắc thống nhất. Từ đó xây dựng hệ thống kiểm soát chi phí trong
doanh nghiệp với những hình thức kiểm soát thích hợp, cùng chi phí kiểm
soát, phương tiện công cụ được sử dụng cho hoạt động kiểm soát này và cuối
cùng đi tới các giải pháp điều chỉnh. Những bước công việc đó có thể được cụ
thể qua sơ đồ sau:
1
hướng trong nền kinh tế thị trường. Đó phải là hoạt động liên tục với những
sự đổi mới không ngừng.
Ph
ươ
ng ti
ệ
n,
công cụ
Các tiêu chu
ẩ
n
định mức
Nguyên tắc
kiểm soát chi
phí
N
ộ
i dung ki
ể
m
soát chi phí
Hình thức kiể
m
soát chi phí
Chi phí cho hoạ
t
động kiểm soát
H
Lợi nhuận= Doanh thu- chi phí
Như vậy để thu được nhiều lợi nhuận chúng ta chỉ có hai cách:
Một là tăng doanh thu, điều này đồng nghĩa với việc tăng giá bán khi
mà số lượng hàng hoá sản xuất ra không đổi. Nhưng thường thì chúng ta nhận
được kết quả lại khi mà trên thị trường đầy những đối thủ cạnh tranh, hàng
hoá thay thế và hàng hoá bổ sung. Như vậy giải pháp này rất thiếu tính khả
thi.
Cách thứ hai là giảm chi phí bằng hoạt động kiểm soát của doanh
nghiệp. Đó là những khoản chi mà doanh nghiệp có thể chủ động giảm, sử
dụng có hiệu quả. Và khi mà doanh nghiệp tính giá bán hàng bằng cách cộng
giá thành với lợi nhuận mong muốn thì việc giảm chi phí sẽ làm giảm giá
thành, đó là lợi thế cạnh tranh rất lớn trong nền kinh tế thị trường gắn với xu
thế hội nhập hiện nay.
Rõ ràng là kiểm soát chi phí có vai trò rất quan trọng trong hoạt động
quản lý doanh nghiệp, một nội dung cần tập trung nghiên cứu, chủ động tiến
hành liên tục, triệt để.
4. Các nhân tố ảnh hưởng tới kiểm soát chi phí trong doanh
nghiệp.
Kiểm soát chi phí bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, cả bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp. Nhưng tập trung lại có những nhân tố cơ bản sau:
Thông tin thực tế các khoản chi phí trong doanh nghiệp. Đó là điều
kiện tiên quyết để các chủ thể quản lý thực hiện chức năng kiểm soát, chỉ khi
nhận biết và hiểu thực tế chi phí trong doanh nghiệp thì mới có thể xác định
được những khoản chi phí cần điều chỉnh cũng như những kinh nghiệm tốt từ
những khoản chi hiệu quả.
Nhân tố thứ hai đó là hệ thống tiêu chuẩn định mức mà doanh nghiệp
xây dựng. Đó là những mục tiêu đã được số hoá trên những kế hoạch, chương
trình mục tiêu của doanh nghiệp, trên cơ sở từ những kết quả phân tích kinh tế
vi mô và mục tiêu của doanh nghiệp.
Thông thường những chi phí mà được xác định qua các hợp đồng lao
động, thuê mặt bằng, khấu hao là cố định trong từng thời kỳ và doanh
nghiệp không thể thay đổi. Nhưng với mục tiêu là sử dụng hiệu quả các khoản
chi phí, doanh nghiệp cần đưa ra các giải pháp tối đa hoá hiệu quả, mà suy
cho cùng là làm tăng năng suất lao động. Ví dụ như cần thắt chặt kỷ luật hoặc
thưởng phạt hợp lý để người lao động làm việc xứng đáng với tiền công mà
doanh nghiệp trả cho họ. Hoặc cần phải cho máy móc chạy đúng công suất để
khấu hao được hiệu quả có như vậy những chi phí cố định đó sẽ phát huy
hiệu quả cho dù doanh nghiệp hoạt động ở bất kỳ lĩnh vực nào và hình thức
nào.
3. Lập báo cáo liên tục cho các khoản chi phí của doanh nghiệp.
Các nhà quản trị cần phải có thông tin kịp thời, chính xác và sát thực,
đó là điều kiện quan trọng cho họ có những quyết định đúng đắn. Thông tin là
đầu vào của quyết định vì thế để có thông tin họ cần được báo cáo đầy đủ, kịp
thời qua các
Báo cáo tài chính, mà trong đó báo cáo chi phí là bộ phận quan trọng là
một vế của bảng cân đối kế toán. Muốn có được các báo cáo chi phí liên tục
thì hệ thống kiểm soát trong doanh nghiệp phải liên thông và quan trọng phải
có sự tham gia đầy đủ của mọi người. Các phòng ban, các cá nhân đều có thể
tham gia, phản ánh khi có vấn đề về chi phí có như vậy vấn đề chi phí sẽ được
phát hiện kịp thời và chính xác từ đó đưa ra giải pháp thích hợp.
4. Nguyên tắc khách quan.
Đây là một nguyên tắc chung cho chức năng kiểm soát trong bất kỳ
loại hình tổ chức nào. Nhưng nó đặc biệt quan trọng với các doanh nghiệp và
với chức năng kiểm soát chi phí. Vì chi phí như đã phân tích ngay từ ban đầu
là phạm trù kinh tế phức tạp, liên quan đến nhiều người và bị chi phối bởi vấn
đề lợi ích. Vì vậy kiểm soát chi phí muốn hiệu quả. Rõ ràng kiểm soát chi phí
mà không khách quan sẽ dễ đưa ra quyết định tuỳ tiện theo chủ kiến của mình
và khi không đúng thực tế sẽ gây ra những thông tin phản hồi thất thiệt cho
Được xác định bằng cách công tổng các chi phí liên quan lại.Khi cần
xây dựng định mức giá về nguyên vật liệu chúng ta sẽ cộng các chi phí liên
quan đến mua nguyên vật liệu và xem xét mối quan hệ với nguồn vốn của
chúng ta, vốn sản phẩm. Trong một thị trường mà có nhiều nhà cung cấp
chúng ta sẽ xác định giá nguyên vật liệu nào hợp lý nhất.
Ví dụ như một quán cơm cung cấp các sản phẩm là các món ăn theo
suất từ 5000đồng- 12000 đồng. Thì trong đó giá gạo và gía thức ăn chỉ được
phép từ 4000 đồng- 10000 đồng và theo đó sẽ xác định giá gạo nào là hợp
lý Thông thường định mức giá phụ thuộc vào thị trường và ít ảnh hưởng của
nhà quản lý.
Cũng như vậy với tiền lương cũng có giá trị cụ thể vì thế cần có định
mức lương. Tiền lương và các khoản chi lương liên quan tới lao động được
cộng lại hình thành định mức lương. Cần phải xem xét công đoạn sản xuất cụ
thể, sản phẩm cụ thể thì cần loại lao động ứng với mức lương nào. Ví dụ một
cửa hàng Internet cần thuê một nhân viên trông phòng máy. Với mức độ công
việc không mấy khó khăn như vậy cửa hàng chỉ cần những người có trình độ
tin học ở mức độ trung bình với mức lương khoảng 700000 đồng/tháng đến
800000 đồng/tháng thay vì những kỹ sư công nghệ thông tin với mức lương
vài triệu đồng.
Đây là những định mức mang tính thực tế, vì chúng cho phép sai lệch
ở mức độ chấp nhận được khi thực hiện. Nếu như doanh nghiệp có đội ngũ
công nhân được quản lý tốt và sẵn sàng hợp tác thì doanh nghiệp sẽ dễ dàng
đạt được những định mức này.
1.2. Định mức lượng
Đó là việc xác định cụ thể những số lượng cụ thể về nguyên vật liệu,
thời gian hao phí lao động xã hội cần thiết mà doanh nghiệp sử dụng.
Để xác định định mức lượng thì doanh nghiệp cần đến các chuyên gia
hạch toán kinh tế và cả những kỹ sư.
Ví dụ khi doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ gia dụng. Cần xây dựng định
(3)
Sơ đồ 1: Mô hình biến động lợi nhuận 3
TS.Nguyễn Đại Thắng, Kiểm soát chi phí, NXB Trẻ, trang 34
Biến động lợi nhuận
Biến động doanh thu
Biến động chi phí
Bi
ế
n
động
l
ư
ợ
ng
Bi
ế
dụng sẽ tăng. Vì vậy cần xem xét kỹ những hậu quả kèm theo những giải
pháp.
Biến động chi phí
Biến động biế
n phí
sản xuất
Biến động chi phí
BHvà QL
Biến động định p
hí
sản xuất
Biến động CPNVL
Biến động các biế
n
phí sản xuất khác
Biến động
CPNCTT
Biến động
giá
Biến động
lương sử
dụng
Biến động
năng suất
Biến động
thời gian dỗi
“Theo nhận xét của Bộ tài chính, so với thị trường khu vực và thế giới,
mức giá đầu vào ở Việt Nam có sự chênh lệch rất lớn, cũng có nghĩa là chi
phí đầu vào của các doanh nghiệp Việt Nam rất cao”
(4)
. Tuy rằng kiểm soát
chi phí và giảm chi phí là không đồng nhất nhưng đều hướng tới giải quyết
vấn đề giảm chi phí sản xuất mà đây là vấn đề nan giải ở nước ta.
Thời hạn Việt Nam cam kết cắt giảm thuế quan theo CEPT/AFTA
đang tới gần. Do vậy, để tồn tại các doanh nghiệp buộc phải nâng cao tính
cạnh tranh, trong đó nhân tố quan trọng là giảm chi phí. Muốn giảm chi phí
lại phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Ngoài yếu tố chủ quan còn các nhân tố khách
quan như cơ chế, chính sách của nhà nước.
Về phần các doanh nghiệp họ đã tập trung vào vấn đề giảm chi phí, đặc
biệt ở các tổng công ty lớn.
Ở tổng công ty Hoá chất Việt Nam 9 tháng đầu năm 2002, tốc độ tăng
trưởng sản xuất công nghiệp đạt 16,6% tăng 2,6% với mục tiêu đề ra nhưng
lợi nhuận lại không tăng thậm chí tiền lương của một số doanh nghiệp lại
giảm, trung bình từ 2,1triệu/người/tháng xuống còn 1,8triệu/người/tháng. Qua
phân tích nguyên nhân vì giá nguyên liệu cao su và lưu huỳnh tăng gấp 2 lần
so với năm 2001 trong khi giá thành sản phẩm không đổi, tiền điện sản xuất
cũng tăng giá Và vấn đề kiểm soát chi phí doanh nghiệp đã cho sản xuất
ban đêm để hưởng giá điện ưu đãi, nghiên cứu nguyên liệu thay thế. Rõ ràng
chức năng kiểm soát chi phí đã được quan tâm và có hiệu quả khi đưa ra các
giải pháp giải quyết.
Với tổng công ty Thép Việt Nam họ cũng đã có rất nhiều biện pháp
giảm chi phí. 6 tháng đầu năm 2003 ngành thép đạt gần 1,5 triệu tấn, tăng
26% so với cùng kỳ năm 2002. Theo ông Nguyễn Hữu Thơ trả lời trên tạp
chí Công nghiệp Việt Nam số 20/2002 thì do công ty cân nhắc khi chọn mua
các nguyên liệu hợp lý, phấn đấu mức tiêu hao ít, quản lý vận hành lo an toàn
CHƯƠNG III
CÁC GIẢI PHÁP CHUNG CHO KIỂM SOÁT CHI PHÍ
I. DOANH NGHIỆP PHẢI NẮM BẮT THÔNG TIN VỀ CHI PHÍ KHI RA QUYẾT ĐỊNH.
Xét trong quá trình quản lý thì thông tin là đầu vào quan trọng của việc
ra quyết định, vì vậy một quyết định được coi là hợp lý khi mà doanh nghiệp
có thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác. Vì lẽ đó muốn kiểm soát được chi
phí, doanh nghiệp phải làm công việc đầu tiên là thu thập thông tin chi phí.
Công việc này cần được cụ thể hoá qua những công đoạn khác nhau.
1. Thông tin chi phí trực tiếp liên quan từng đơn vị sản phẩm.
Đây là công việc mà bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện. Khi
sản phẩm sản xuất ra cần phải tính toán được chi phí trực tiếp trên một đơn vị
sản phẩm là bao nhiêu để từ đó có cơ sở để ra quyết định về giá bán.
Thông thường công việc này được thực hiện trước khi kế hoạch sản
xuất được thực hiện vì đó là cơ sở tính lỗ lãi trong kế hoạch sản xuất. Nhưng
sau khi sản xuất cần phải thực hiện kỹ lưỡng và cẩn thận hơn trên cơ sở
những số liệu thực tế. Càng cụ thể bao nhiêu, càng kỹ lưỡng, càng chính xác,
doanh nghiệp càng biết nhiều về chi phí sẽ dễ trả lời những câu hỏi khó khăn
và kiểm soát chi phí.
Từ thông tin chi phí đến từng đơn vị sản phẩm doanh nghiệp sẽ có cơ
sở ra các quyết định khác nhau, đó có thể là quyết định về giá bán, quyết định
thay đổi dịch vụ, nhà cung cấp, quyết định ngừng sản xuất hoặc chuyển đổi
Nếu không thu thập thông tin về chi phí, các doanh nghiệp thậm chí không
biết mình đang làm ăn như thế nào, và nên ra quyết định ra sao. Vậy làm thế
nào để có thông tin về chi phí với từng đơn vị sản phẩm? Doanh nghiệp cần
phải xây dựng bảng kê chi phí và đơn vị tính phí.
Bảng kê chi phí thường dùng để diễn giải cụ thể các khoản chi phí để
dựa vào đó phân tích giá thành một sản phẩm hoặc dịch vụ. Trong lĩnh vực
6000 Qua ví dụ trên ta thấy các khoản chi liên quan đến việc sản xuất bộ bàn
ghế được xác định. Phần diễn giải chi phí sẽ được cụ thể hoá hơn nữa các
danh mục chi phí có nguồn gốc từ những khoản chi nào.
Tiếp theo doanh nghiệp cần xây dựng đơn vị tính phí. Đó là tính phí
trên đơn vị gì? Thường với các doanh nghiệp sản xuất thì đơn vị tính phí cụ
thể nhất là thành phẩm. Với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thì phức tạp
hơn. Tuỳ theo dịch vụ mình cung cấp. Một nhà hàng có thể lựa chọn đơn vị
tính phí là mỗi món ăn, một phòng khám bệnh có thể lựa chọn mỗi lượt khám
bệnh để tính phí Tóm lại xác định doanh nghiệp sẽ tính phí trên đơn vị nào
còn đơn vị của chi phí dĩ nhiên sẽ đo bằng tiền.
2. Xây dựng hệ thống mã chi phí để theo dõi từng khoản chi phí
trong doanh nghiệp .
Qua sự phân tích từ đầu đến nay chúng ta đã thấy được sự phức tạp, đa
dạng của các khoản chi phí. Nếu chỉ đơn thuần là ghi chép lại chúng ta sẽ có
một hệ thống ghi chép rối rắm và khó theo dõi. Chúng ta cần phải có công cụ
để ghi chép các khoản chi phí nhanh hơn mà vẫn chính xác, cần phương pháp
ghi tắt một cách khoa học vì thế cần xây dựng mã chi phí.
nhà quản lý mới nên thành lập trung tâm quản lý chi phí, và người chiẹu trách
nhiệm cuối cùng vẫn là những nhà quản lý, chủ doanh nghiệp. Ví dụ muốn
kiểm soát chi phí mua nguyên vật liệu thông qua bộ phận nhận hàng, thì bộ
phận này sẽ trở thành trung tâm quản lý chi phí. Tuỳ theo mục đích quản lý
chi phí mà doanh nghiệp có thể lựa chọn những bộ phận liên quan và quan
trọng nhất làm trung tâm quản lý chi phí. Do đó, trước khi thành lập trung tâm
quản lý chi phí, các nhà quản lý cần hiểu rõ vai trò từng bộ phận trong doanh
nghiệp.
4. Phân bổ chi phí cho từng công việc cụ thể.
Doanh nghiệp đã có những trung tâm quản lý chi phí được mã hoá, các
khoản chi được theo dõi. Nhưng với nguồn lực hữu hạn của mình doanh
nghiệp không thể để yên cho các khoản chi phí biến động, như thế chức năng
kiểm soát chi phí chẳng còn ý nghĩa.
Khi đã có thông tin đầy đủ về những khoản chi, có định mức chi phí
doanh nghiệp phải làm bước tiếp theo đó là phân bổ chi phí theo từng công
việc cụ thể. Đó đương nhiên sẽ là những cơ sở đánh giá tính hiệu quả của
công việc và cũng là tiêu chuẩn cho các đối tượng quản lý làm theo. Việc
phân bổ này phải được tính toán kỹ lưỡng chính xác và cân đối các mục tiêu.
Nó thể hiện sự chủ động, sáng tạo của doanh nghiệp khi thực hiện chức năng
kiểm soát chi phí.
II. XÂY DỰNG Ý THỨC TIẾT KIỆM CHI PHÍ CHO CÁC CÁ NHÂN.
Sau khi đã có những thông tin về chi phí và doanh nghiệp đã đề ra một
số giải pháp. Những biện pháp triển khai đó có triển khai được không? Và
triển khai có hiệu quả không thì lại phụ thuộc vào yếu tố khác. Điểm mấu
chốt cho sự thành công của doanh nghiệp trong kiểm soát chi phí là ý thức tiết
kiệm chi phí chứ không phải thông qua những thao tác kế toán. Quan tâm tới
chi phí không phải là thái độ mà nó phải là một hành vi, mà đầu tiên là xuất
phát từ những nhà quản lý, từ chủ doanh nghiệp.
Trên cương vị quản lý họ sẽ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề đòi hỏi