Trường.............................
Khoa………………….
ĐỀ ÁN “
Kiểm soát chi phí
trong doanh nghiệp”
Nội dung của đề án được thể hiện qua ba phần:
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ
CHƯƠNG II
: NỘI DUNG KIỂM SOÁT CHI PHÍ
CHƯƠNG III
: CÁC GIẢI PHÁP CHUNG CỦA KIỂM SOÁT CHI PHÍ
Do nhận thức và thời gian nghiên cứu khảo sát thực tế có hạn, đối
tượng nghiên cứu lại rất rộng và phức tạp, do vậy bài viết của em không thể
tránh khỏi những sai sót và hạn chế nhất định. Em rất mong nhận được ý kiến
đóng góp của các thầy cô để bài viết của em được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn.
Em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Đỗ Thị Hải Hà
đã hướng dẫn em
hoàn thành đề án này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm2003 CHƯƠNG I
LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI PHÍ
I. KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CHI PHÍ
1.
Khái niệm:
Trước hết chúng ta thấy rằng chi phí là một phạm trù kinh tế hết sức
trìu tượng và phức tạp. Một doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất, kinh
doanh hàng hoá phải hao phí một số lao động nhất định, bao gồm lao động vật
hoá biểu hiện dưới hình thái giá trị gọi là tư bản bất biến và lao động sống
biểu hiện dưới hình thái giá trị là tư bản khả biến. Đó là hai loại chi phí
được
gọi chung là hao phí lao động thực tế của xã hội để tạo ra giá trị của hàng hoá.
chỉ
xem những tiêu chí phân loại mà ở đó nhà quản lý dễ nhận biết và kiểm
soát.
2.1. Theo đối tượng chi phí.
Xét theo đối tượng chi phí đó là chúng ta quan tâm đến các khoản chi
đó là chi phí cho cái gì, và như vậy ta có thể chia thành ba loại cơ bản: chi phí
lao động, chi phí nguyên vật liệu, chi phí chung.
2.1.1. Chi phí lao động
Đó là tổng các khoản tiền liên quan đến công nhân viên. Chẳng hạn
như các khoản tiền thưởng, phụ cấp, phúc lợi xã hội...Nhưng lao động thì lại
có lao động vât hoá, lao độ
ng sống, có thể biến đổi hoặc không biến đổi theo
khối lượng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra, vì vậy cũng có thể phân loại chi
phí.
Chi phí lao động trực tiếp.
Chi phí lao động trực tiếp bao gồm tiền lương và các khoản tính theo
lương phải trả cho công nhân viên trực tiếp sản xuất sản phẩm. Nó có thể
phân bổ cho toàn bộ một đơn vị sản phẩm cụ thể. Có th
ể nêu một vài ví dụ về
lao động trực tiếp như: Sơn một sản phẩm đồ gỗ, sửa chữa một chi tiết máy,
giao dịch với khách hàng...
Và chi phí cho các lao động thực hiện các công việc đó được coi là chi
phí lao động trực tiếp.
Chi phí lao động gián tiếp.
Bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương, các khoản trích
khác có liên quan đến nhân viên mà không thể phân bổ cho một đơn vị sản
phẩm cụ thể. Sau đây là một số ví dụ về lao động gián tiếp: chi phí bảo dưỡng
máy móc, chi phí điều hành hoạt động của bộ phận tiếp thị, chi phí vệ sinh nơi
làm việc... chúng ta thấy rằng không thể phân bổ các khoản chi phí lao động
Thứ 7 Vận hành máy 8
Chủ nhật
Ta thấy rằng 32 giờ đã được sử dụng để vận hành máy móc sản xuất.
Đây là những giờ lao động trực tiếp vì chúng có thể được phân bổ trực tiếp
cho sản phẩm sản xuất ra. Ngoài 8 giờ được sử dụng để làm vệ sinh, 8 giờ
được sử dụng để bảo dưỡng. Đây là những giờ lao động gián tiếp do chúng
không thể phân bổ trực tiếp cho từng
đơn vị sản phẩm.
Muốn cho công việc quản lý theo đúng kế hoạch, điều rất quan trọng là
xây dựng được bảng theo dõi thời gian thực hiện công việc hoặc các công cụ
theo dõi khác nhằm kiểm soát khối lượng công việc của nhân viên phải được
hoàn thành một cách tỷ mỷ và chính xác nhằm phân biệt thời gian lao động
gián tiếp và thời gian lao động trực tiếp.
2.1.2. Chi phí nguyên vật liệu.
Nguyên vật liệu là một đầu vào quan trọng đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. ậ các doanh nghiệp khác nhau, lĩnh vực
hoạt động khác nhau thì mức độ quan trọng, quyết định dến giá thành cũng
khác nhau. Trong các ngành công nghiệp nặng như: sản xuất vật liệu xây
dựng, cơ khí, sắt thép... thì chi phí nguyên vật liệu chiếm phần lớn tổng giá
thành của thành phẩm. Ngược lại,
ở các ngành công nghiệp nhẹ như: da giầy,
chế biến thực phẩm, các ngành dịch vụ khách sạn, nhà hàng, giải trí, chi phí
nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng nhỏ, khoảng 10% giá thành. Chính vì sự phức
tạp đó chúng ta cần phải phân loại chi phí nguyên vật liệu để có một “công
nghệ”xác định chi phí cho các doanh nghiệp khác nhau.
Chúng ta đã biết rằng chi phí lao động có thể được phân chia thành chi
phí lao động trực tiếp và chi phí lao động gián tiếp. Cũng tương tự
như vậy
ữ. Khi đó có thể ước tính chi phí tồn
trữ tối đa vào bất kỳ thời điểm nào. Mức tồn trữ tối đa của một sản phẩm hay
nguyên vật liệu nào đó mà bạn muốn tích trữ trong kho.
2.1.3. Chi phí chung.
Có các khoản chi phí phát sinh nhưng không dễ dàng phân bổ cho một
đơn vị sản phẩm, một quá trình sản xuất cụ thể. Những chi phí như vậy được
gọi là chi phí chung.
Các chi phí nguyên vậ
t liệu gián tiếp thường là các chi phí chung, ví dụ
như: chi phí cho quần áo bảo hộ lao động và trang thiết bị vệ sinh, chi phí
điện nước, chi phí thuê mặt bằng sản xuất, tiền lương trả cho nhân viên không
trực tiếp tham gia vào quy trình sản xuất hoặc không trực tiếp cung cấp dịch
vụ như: nhân viên bảo vệ, thợ bảo dưỡng, thư ký và nhân viên lễ tân.
2.2. Phân loại theo mức độ biến động chi phí.
Ta thấy rằng nh
ững chi phí mà tổng của chúng thay đổi cùng với mức
sản lượng thì được gọi là chi phí biến đổi. Còn những chi phí mà tổng của
chúng không thay đổi cùng với mức sản lượng thì được gọi là chi phí cố định.
2.2.1. Chi phí cố định.
Từ sự phân tích trên ta thấy chi phí cố định không bị ảnh hưởng bởi
lượng hàng sản xuất ra. Ví dụ như chi phí thuê cửa hàng của doanh nghiệp
sản xuất bánh ngọt, nó cũng có thể thay đổi nhưng là do thoả thuận với bên
cho thuê và chịu ảnh hưởng của giá thuê mặt bằng chứ không phải bởi lượng
bánh ngọt sản xuất ra.
2.2.2. Chi phí biến đổi.
Cũng xét trong doanh nghiệp sản xuất bánh ngọt ở ví dụ trên, thì
những bao bì, vỏ bọc bánh ngọt biến đổi theo lượng bánh ngọt và đó là chi
phí biến đổi.
Theo nguyên tắc chung, các chi phí biến đổi s
1. khái niệm:
Chi phí là một nội dung quan trọng trong hoạt động tài chính của mỗi
doanh nghiệp. Kiểm soát chi phí là một chức năng quản lý có ý thức và rất
quan trọng trong quá trình quản lý của doanh nghiệp. Đó là sự tác động của
chủ thể quản lý nhằm nhận biết, hiểu biết các nội dung chi phí nhằm sử dụng
hiệu quả nhất các khoản chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra. Để làm tốt chức
năng này nhà qu
ản lý cần trả lời các câu hỏi: Doanh nghiệp có những khoản
mục chi phí nào?; tiêu chuẩn, định mức chi phí là bao nhiêu?; chi phí nào
chưa hợp lý? Nguyên nhân vì sao?, biện pháp giải quyết? .
Để tiến hành kiểm soát chi phí các nhà quản lý doanh nghiệp cần phải
đưa ra các tiêu chuẩn, nội dung và mục tiêu kiểm soát chi phí, dựa trên các
nguyên tắc thống nhất. Từ đó xây dựng hệ thống kiểm soát chi phí trong
doanh nghiệp với những hình thức kiểm soát thích hợp, cùng chi phí kiểm
soát, phương tiện công c
ụ được sử dụng cho hoạt động kiểm soát này và cuối
cùng đi tới các giải pháp điều chỉnh. Những bước công việc đó có thể được cụ
thể qua sơ đồ sau:
1
1
kiểm soát chi phí - TS.Nguyễn Đại Thắng - NXB Trẻ - 2003
Sơ đồ quá trình kiểm soát chi phí
soát chi phí
Nội dung kiểm
soát chi phí
Hình thức kiểm
soát chi phí
Chi phí cho hoạt
động kiểm soát
Hệ thống kiểm
soát chi phí
Điều chỉnh cụ
thể
Mục tiêu kiểm
soát chi phí
Quá trình kiểm
soát chi phí
3. Vai trò của kiểm soát chi phí trong doanh nghiệp
Suy cho cùng doanh nghiệp nào cũng hướng tới mục tiêu lợi nhuận.
Mà chúng ta biết rằng lợi nhuận được xác định bởi công thức đơn giản sau:
Lợi nhuận= Doanh thu- chi phí
Như vậy để thu được nhiều lợi nhuận chúng ta chỉ có hai cách:
Một là tăng doanh thu, điều này đồng nghĩa với việc tăng giá bán khi
mà số lượng hàng hoá sản xuất ra không đổi. Nhưng thườ
ng thì chúng ta nhận
được kết quả lại khi mà trên thị trường đầy những đối thủ cạnh tranh, hàng
hoá thay thế và hàng hoá bổ sung. Như vậy giải pháp này rất thiếu tính khả
thi.
Cách thứ hai là giảm chi phí bằng hoạt động kiểm soát của doanh
nghiệp. Đó là những khoản chi mà doanh nghiệp có thể chủ động giảm, sử
dụng có hiệu quả. Và khi mà doanh nghiệp tính giá bán hàng bằng cách cộng
giải pháp, công cụ mà doanh nghiệp đưa ra. Trên cơ sở những thông tin có
được, những giải pháp để sử dụng chi phí một cách có hiệu quả sẽ được đưa
ra và kết quả đạt được đến đâu phụ thuộc vào tính
đúng đắn của những biện
pháp đó.