TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.042
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG
I. Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán.
1. Khái niệm và quá trình hình thành, phát triển thị trường chứng khoán.
a. Khái niệm.
Khái niệm về thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú cho đến
nay chưa có một định nghĩa chung cho “thị trường chứng khoán (TTCK)”.
Theo nghiên cứu của các nhà chuyên môn thì thị trường chứng khoán có
tiếng Latinh là Btursa, có nghĩa là “cái ví đựng tiền! Còn gọi là “Sở giao dịch
chứng khoán”. Đó là một thị trường có tổ chức và hoạt động có điều khiển (The
Stock Exchange- dịch ra tiếng Việt là thị trường chứng khoán, theo chữ Hán là
chứng khoán giao dịch sở, Sở là nơi chốn, còn giao dịch là hoạt động mua bán trao
đổi).
Theo “Longman Dictionary of Business English-1985” thì TTCK được
định nghĩa như sau: “An organized market Where Securities are Bought Sold
undiel fixed rule”. Dịch ra tiếng Việt đó là một thị trường có tổ chức là nơi chứng
khoán được mua bán tuân theo những qui tắc đã ấn định. Định nghĩa này đã đưa ra
một định nghĩa nêu lên được các loại chứng khoán (Securities) đó là cổ phiếu
(Share) và trái phiếu (Bond). Chứng khoán thực ra là từ ghép của hai từ đồng
nghĩa. Chứng và khoán đều có nghĩa là bằng cứ (Evidence). Trong tiếng Anh
người ta dùng từ Secueitier có nghĩa Writen Evidence of Ownership. Từ những
phân tích trên có thể hiểu một cách căn bản “chứng khoán” là bằng chứng giấy
trắng mực đen về quyền sở hữu.
Cùng với sự phát triển đổi mới của thị trường vốn, thị trường tiền tệ, sự đa
dạng hoá trong đời sống kinh tế. Thuật ngữ thị trường chứng khoán đã thoát ly
định nghĩa ban đầu và có thêm những nội dung mới.
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
cao. ứng với mỗi hình thái xã hội khác nhau thì có một lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất khác nhau tương ứng với chúng xã hội muốn tồn tại thì phải lao động
sản xuất ra hàng hoá, của cải vật chất phục vụ nhu cầu con người.
Trong đó thị trường chứng khoán là hình thức phát triển cao của nền sản
xuất hàng hoá. Thị trường chứng khoán nguyên thuỷ đã tồn tại hàng trăm năm nay.
Vào khoảng giữa thế kỷ XI ở tại những thành phố trung tâm buôn bán ở phương
Tây, các thương gia thường tụ tập tại các quán Cafe để thương lượng việc mua
bán, trao đổi các loại hàng hoá (nông sản, khoáng sản, ngoại tệ và giá khoán động
). Điểm đặc biệt là tại các cuộc thương lượng này, các thương gia chỉ dùng lời
nói để trao đổi với nhau, không có hàng hoá, ngoại tệ, giá khoán động sản, hay bất
cứ một loại giấy tờ nào. Những cuộc thương lượng này nhằm thống nhất với nhau,
hợp đồng mua bán, trao đổi. Không biết do sự phát triển của các thương gia hay
hiệu quả của kiểu “thương lượng” này mà số lượng người tham gia ngày càng
đông lên. Đến cuối thời Trung cổ, phiên chợ riêng này trở thành một thị trường và
khoảng cách các phiên chợ ngày càng rút ngắn. Những qui ước trao đổi dần dần
được tu bổ thành các qui tắc có giá trị bắt buộc đối với người tham gia. Từ đó thị
trường chứng khoán bắt đầu được hình thành.
Đến 1986 ở một số nước, các giá trị động sản đã lần lượt được yết giá trên
hệ thống vi tính các (yết giá liên tục) như vậy việc yết giá cổ phiếu, trái phiếu,
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
hạ tầng quan trọng nhất một công cụ đem lại nhiều lợi ích. Vai trò của TTCK thì
rất là nhiều nhưng nhìn chung lại thì nó có các vai trò chủ yếu sau:
a) Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân.
Như ta đã thấy trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung không có khái
niệm về giao lưu vốn và cũng không có nhu cầu về tiền và vốn để đầu tư cho sản
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.045
xuất. Nền kinh tế hoạt động như một cỗ máy chứng nhắc dưới sự chỉ đạo tập trung
của Nhà nước. Cơ chế phân phối bình quân theo giá cả bao cấp đã làm tê liệt chức
năng của đồng tiền phá vỡ quan hệ cung cầu và qui luật giá trị. Nền kinh tế phát
triển què quặt.
Khi chuyển sang chơ chế thị trường doanh nghiệp chủ động trong sản xuất
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.046
này mong muốn đầu tư tiền nhàn rỗi vào giá trị động sản. Doanh nghiệp phát hành
cổ phiếu hoặc trái phiếu để người dân ghi mua, phát hành cổ phiếu doanh nghiệp
tăng vốn tự có bằng cách góp vốn, cổ phiếu. Khi phát trái phiếu doanh nghiệp đã
tăng nguồn vốn vay dân.
Ngược lại khi doanh nghiệp chưa có cơ hội sản xuất kinh doanh, doanh
nghiệp có thể dự trữ chứng khoán như một tài sản kinh doanh.
Mặt khác TTCK còn giúp doanh nghiệp xâm nhập lẫn nhau thông qua việc
mua bán cổ phiếu việc sát nhập mở rộng hợp đồng kinh doanh của doanh nghiệp
đều được thực hiện thông qua TTCK.
Mặc dù các chứng khoán được mua bán trên thị trường như mua bán tài sản
doanh nghiệp, nhưng vốn khả dụng của nền kinh tế luôn được phát triển và duy trì.
Thậm chí khi một doanh nghiệp bị phá sản nó cũng không mất đi nó sẽ bám vào
tay một cổ đông khác và cổ đông này sẽ duy trì và phát triển các HDDN.
c. Công cụ đánh giá doanh nghiệp, dự đoán tương lai.
Thị trường chứng khoán biến động rất phức tạp và nhanh chóng. Để lựa
chọn phương án đầu tư thích hợp người ta phải có phương pháp xác định cho từng
tình hình cụ thể với tham vọng theo dõi sự biến động chung của giá cả của chứng
khoán người ta đã cố gắng tìm các biện pháp xác định khác nhau. Đó là lí do ra đời
chỉ số thị trường (market index) các chỉ số cung cấp thông tin về thị trường nói
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
vọng trong tương lai.
Nhìn chung thị trường chứng khoán còn vốn vào các chức năng khác như
chức năng TTCK khuyến khích dân chúng tiết kiệm và sử dụng nguồn vốn tiết
kiệm vào công cuộc đầu tư. TTCK là công cụ làm giảm áp lực lạm phát, TTCK
đảm bảo tính thanh khoản cho số tiền tiết kiệm đầu tư dài hạn TTCK tạo thói quen
đầu tư nhưng ba chức năng trên là ba chức năng quan trọng đặc biệt, dù để ý ở
tầm vi mô hay vĩ mô.
3. Nguyên tắc hoạt động và điều kiện cho sự hình thành TTCK
a. Nguyên tắc hoạt động.
Sự hoạt động của TTCK là rất phức tạp, nhưng nhìn chung nó hoạt động
tuân theo các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc trung gian thị trường chứng khoán hoạt động không phải trực
tiếp do những người muốn mua hay bán chứng khoán thực hiện mà do người môi
giới trung gian thực hiện. Đây là nguyên tắc trung gian cơ bản cho tổ chức và hoạt
động của thị trường chứng khoán.
Nguyên tắc trung gian nhằm bảo đảm các loại chứng khoán được giao dịch
là chứng khoán thực và thị trường chứng khoán hoạt động lành mạnh, đều đặn, hợp
pháp và ngày càng phát triển, bảo vệ lợi ích của người đầu tư. Trong đó có môi
giới trung gian và thương gia chứng khoán.
* Nguyên tắc đấu giá: mọi việc mua bán chứng khoán đều phải tuân thủ
theo nguyên tắc đấu giá. Vì vậy không phải bạn muốn mua là mua được ngay mà
nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Hiện nay có ba hình thức đấu giá cơ bản.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
phát hành trái phiếu công ty cũng như trái phiếu chính phủ.
Để tạo môi trường cho cổ phần hoá chúng ta phải: xây dựng cơ sở dữ liệu
để phân loại các doanh nghiệp Nhà nước, trên cơ sở đó quản lý và áp dụng hình
thức cổ phần hoá cho từng loại hình. Xử lý vấn đề nợ tồn đọng, trên cơ sở nâng cao
tài sản có của doanh nghiệp tạo điều kiện cho quá trình cổ phần.
Xây dựng hệ thống kế toán và đánh giá giá trị doanh nghiệp.
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.049
* Điều kiện pháp lý: thị trường chứng khoán liên quan đến vấn đề sở hữu,
quan hệ vay mượn và quan hệ kinh tế giữa chủ thể và toàn bộ đời sống kinh tế xã
hội. Bởi vậy có rất nhiều văn bản pháp lý liên quan đến hoạt động của TTCK. Do
nhu cầu về vốn cao nên trong giai đoạn đầu TTCK hoạt động sẽ không có tổ chức
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.0410
rộng của thị trường và khả năng có thể nâng cấp trên cơ sở có sẵn. Bên cạnh xây
dựng cơ sở hạ tầng cho TTCK cần phát triển các tổ chức hoạt động trên thị trường.
+ Các công ty bảo hành phát hành CK.
+ Các công ty môi giới CK.
+ Các công ty giao dịch CK cho chính mình.
+ Các quĩ đầu tư.
+ tổ chức tư vấn.
+ Nhân viên giao dịch C/I.
Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kế toán quốc tế áp dụng thống nhất trong
toàn ngành. Đồng thời phát triển các công ty kiểm toán trong và ngoài nước đáp
ứng yêu cầu thẩm định cả hai phía các tổ chức CK các tổ chức KDCK.
* Điều kiện về con người.
Nhân tố con người đóng vị trí hết sức quan trọng đối với sự thành công của
TTCK. Vì đây là một ngành mới, rủi ro cao nên phải có đội ngũ cán bộ nhanh
nhậy, tinh thông nghiệp vụ và có tư cách. Vì vậy cần đào tạo cán bộ cho TTCK,
cần thực hiện trước khi thành lập TTCK khoảng ba năm các đối tượng cán bộ cần
đào tạo.
+ Cán bộ quản lý giám sát thị trường, công tác tại Ủy ban chứng khoán.
+ Cán bộ quản lý, điều hành tại sở giao dịch CK và tại các hệ thống phụ
trợ.
+ Nhân viên KDCK tại các công ty KDCK.
4. Ưu và nhược điểm của TTCK.
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
thực và lành mạnh. Vì chính phủ không phải thông qua ngân hàng để phát hành
thêm tiền vào lưu thông. Tạo ra sức ép lạm phát thông qua TTCK việc phát hành
trái phiếu hết sức thuận lợi.
+ TTCK là công cụ kiểm soát thu hút vốn đầu tư nước ngoài. TTCK là
công cụ cho phép kiểm soát vốn ĐTNN tốt nhất vì nó hoạt động công khai.
+ TTCK lưu động hoá mọi nguồn vốn trong nước. Một khi việc đầu tư vào
doanh nghiệp là có lợi cho tầng lớp dân từ thì qua TTCK các khoản tiết kiệm sẵn
sàng từ bỏ bất động hoá, chấp nhận vào quá trình đầu tư.
+ Thị trường CK là điều kiện cho quá trình cổ phần hoá: cổ phần hoá là quá
trình chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước sang công ty cổ phần. Đòi hỏi phải có
TTCK, TTCK là cơ sở, là tiền đề vật chất cho quá trình cổ phần hoá đi đúng trật tự
pháp luật, phù hợp với tâm lý người đầu tư.
+ TTCK kích thích doanh nghiệp hoạt động đàng hoàng hơn: Nhờ TTCK
các doanh nghiệp mới có thể đem bán phát hành cổ phiếu; trái phiếu của họ mà ban
quản lý TTCK chỉ chấp nhận cổ phiếu, trái phiếu hợp lệ: như kinh doanh hợp pháp,
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Tiểu luận: Lý thyết tài chính
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.0413
Trong mấy chục năm qua khi nền kinh tế của nước ta đang ở trong cơ chế
tập trung quan liêu bao cấp nền kinh tế phát triển rất chậm, có thời gian rơi vào
khủng hoảng nghiêm trọng, cùng với nạn lạm phát phi mã, cơ cấu kinh tế mất cân
đối lớn và đặc biệt là những khó khăn to lớn trong đời sống của nhân dân.
Từ những yếu kém của cơ chế cũ đến năm 1986 Đảng và Nhà nước đã
chuyển sang cơ chế mới : cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Sau hơn
15 năm tồn tại và phát triển theo cơ chế này nền kinh tế đã có những biến đổi đáng
mừng và đem lại một số thành quả quan trọng bước đầu.
Theo cơ chế mới, các hình thức được đa dạng hoá, nền kinh tế trở thành nền
kinh tế hỗn hợp có nhiều thành phần: kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể, kinh tế cá
thể Cùng với nó trong nông nghiệp cũng có nhiều thay đổi, ruộng đất giờ đây đã
trao cho các hộ gia đình sử dụng dài hạn. Nhờ đó mà lương thực thực phẩm không
những đủ tiêu dùng trong nước mà còn có để xuất khẩu. Cụ thể là từ năm 1989
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
14
Thực ra, chứng khoán đã xuất hiện từ lâu ở Việt Nam, đó là những công trái
dài hạn, những trái phiếu được phát hành và thường áp đặt cho công chúng mua
khi Nhà nước cần vốn để làm một việc lớn nào đó. Với lãi suất thấp giá trị đồng
tiền không được bảo đảm và biện pháp hành chính thiếu hấp dẫn nên kết quả của
chứng khoán không cao. Khi nền kinh tế có nhiều thành phần, khu vực kinh tế tư
nhân được mở rộng, luật công ty ra đời. Theo đó các công ty cổ phần được phát
hành cổ phiếu, trái phiếuvà chúng trở thành những mặt hàng của thị trường chứng
khoán. Nếu một TTCK được thành lập việc mua bán các mặt hàng trên sẽ dễ dàng
hơn và do đó việc thu hút vốn sẽ thuận tiện hơn.
Qua mấy năm đổi mới, nước ta đã đẩy lùi được lạm phát mà vẫn đạt được
mức tăng trưởng tương đối cao. GDP tăng bình quân trong 5 năm 1991- 1995 là
8,2%, đặc biệt năm 1995 đạt 9,5%. Lạm phát giảm từ 67,1 năm 1991 xuống 14,4%
năm 1994 và là 12,7% năm 1995. Với một đất nước kém phát triển như nước ta,
việc phát triển kinh tế trong hoàn cảnh lạm phát cao và đang trong thời kì quá độ
như lúc này là rất khó khăn. Sự tăng trưởng phát triển đồng nghĩa với quá trình
CNH- HĐH đất nước.
2) Môi trường tăng trưởng kinh tế và nhu cầu đòi hỏi thành lập TTCK
a- Mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển kinh tế
Ngày nay phát triển kinh tế đã trở thành một thách thức thường xuyên đối
với một quốc gia, một dân tộc. Phát triển nhanh hay chậm trong điều kiện bùng nổ
dân số không chỉ đem lại sự giàu có thịnh vượng hay nghèo nàn lạc hậu mà còn
củng cố, nâng cao hoặc làm xói mòn, hạ thấp vị trí và vai trò của một nước trong
cộng đồng quốc tế. Quy luật của phát triển là: các nguồn tiết kiệm, tích luỹ trong
xã hội phải được huy động, tập trung hầu hết vào lĩnh vực đầu tư nhanh, nhiều, đều
đặn thì nền kinh tế đất nước sẽ phát triển với tốc độ cao. Bắt đầu từ tiết kiệm
chuyển sang đầu tư tạo nên sự phát triển rồi trở lại tiết kiệm được nhiều hơn,
chuyển sang đầu tư lớn hơn tạo nên tốc độ phát triển cao hơn
Click to buy NOW!
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
Yd là thu nhập thoả dụng
C là qui mô tiêu dùng
Trên thế giới hầu hết các nước đều xem tiết kiệm là nguồn đầu tư chính và
tiết kiệm là một quốc sách. Với việc làm này Nhật Bản đã đạt được thành công to
lớn. Mỗi năm nhân dân Nhật Bản tiết kiệm 20% thu nhập của mình dùng để đầu tư
và gần 50 sau đại chiến thế giới thứ hai Nhật đã trở thành nước công nghiệp hiện
đại nhất nhì thế giới. Nguồn tiết kiệm của cả nước gọi là tổng tiết kiệm và nó bao
gồm:
- Nguồn tiết kiệm trong dân cư
- Nguồn tiết kiệm trong các doanh nghiệp
- Nguồn tiết kiệm của Chính Phủ
Nhưng trong ba nguồn này thì nguồn tiết kiệm trong dân cư là lớn nhất. Nó
là nguồn vốn cơ bản để phát triển đầu tư tạo lợi nhuận. Có đủ vốn đầu tư và sử
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.04
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.0417
thành một thị trường chứng khoán ở Việt Nam là có thể khả thi trong một tương lai
gần .
Nền kinh tế thị trường đang thay đổi dần thói quen và nếp nghĩ của dân chúng
trong việc sử dụng vốn tích luỹ của mình.
Là nước có nền kinh tế phát triển sau nên có thuận lợi là tiếp thu được khoa học
tiên tiến của thế giới, có thời cơ và điều kiện để rút ra kinh nghiệm bổ sung những
khiếm khuyết của mô hình thị trường chứng khoán các nước.
Những điều kiện thuận lợi trên đây là những tiền đề để có thể chuẩn bị ra đời
một thị trường chứng khoán ở nước ta. Chính vì vậy, từ năm 1990 trong pháp lệnh
ngân hàng (điều 32 và điều 49) Chính phủ đã cho phép ngân hàng phối hợp với Bộ
Tài chính tổ chức và thực hiện một số nghiệp vụ về thị trường chứng khoán. Tháng
8/92 Chính phủ ra văn bản số 4396-KTĐN chỉ rõ “Để chuẩn bị việc cho ra đời thị
trường chứng khoán ở Việt Nam mà hiện nay đã xuất hiện một số tiền đề, các nội
dung cần thiết từ vấn đề pháp quy, tổ chức bộ máy điều hành, địa điểm triển khai
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
18
sửa đổi, bổ sung. Nghiêm trọng hơn nữa là việc chấp hành những luật đã có không
nghiêm minh, nên đã kéo theo nhiều hậu quả tiêu cực làm giảm sút lòng tin.
Đây là một khó khăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng dẫn đến sự thành công hay
thất bại của thị trường chứng khoán.
4. Tình hình hoạt động TTCK ở Việt Nam hiện nay.
TTCK đã ra đời từ lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam đây vẫn còn là một khái
niệm khá mới mẻ. Tuy nhiên để Việt nam có thể hoà vào cùng với sự phát triển của
thế giới và tạo đà thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển chúng ta phải cố gắng
để xây dựng nên một TTCK. Đây là một công việc rất khó khăn đòi hỏi sự cố
gắng, quyết tâm của nhiều ban ngành cũng như của các cấp lãnh đạo. Sau ba tháng
ráo ríêt chuẩn bị, một sự kiện đáng ghi nhớ và có ý nghĩa trong đời sống kinh tế
chính trị của nước ta đó là việc khai trương TTCK đầu tiên của nước ta ngày 20/ 7/
2000.
a) Về các doanh nghiệp tham gia vào TTCK
Tại thời điểm thành lập, nước ta có 600 công ty cổ phần, trong đó có 60
công ty đủ điều kiện niêm yết trên TTCK nhưng chỉ có 5 công ty tham gia niêm
yết. Hiện nay đã có sự biến đổi nhưng chưa đáng kể đã có tới 660 công ty cổ phần
trong đó có 80 công ty có đủ tiêu chuẩn tham gia niêm yết nhưng số lượng các
công ty tham gia niêm yết vẫn chỉ dừng lại ở con số 5 gồm : Hpaco, REE, SAM,
Lafooco và TMS. Với cầu cổ phiếu từ lúc đầu và sau khi thành lập tăng nhanh
nhưng số công ty tham gia niêm yết ít nên hàng hoá trên TTCK thiếu rất nhiều,
cung không đáp ứng đủ cầu. Để giúp cho TTCK hoạt động sôi động và có hiệu
quả, Nhà nước đã có những chính sách ưu đãi về thuế, phí nhằm kích thích sự
tham gia niêm yết của các công ty cổ phần. Tuy nhiên, cho đến nay những chính
sách ấy vẫn chưa có hiệu quả, thể hiện ở chỗ số lượng các công ty tham gia niêm
yết vẫn chưa tăng thêm. Vậy vì sao các công ty chưa tham gia niêm yết?
Click to buy NOW!
P
D
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
kiến thức về TTCK, chỉ có 5 trong số 38 công ty đã từng hoạt động trong lĩnh vực
tài chính, 10 công ty có đội ngũ cán bộ am hiểu về tài chính, tiền tệ, ngân hàng và
7 doanh nghiệp có đội ngũ nhân viên được đào tạo về lĩnh vực tài chính, tiền tệ,
ngân hàng. Còn về dự kiến mô hình công ty chứng khoán và các hoạt động kinh
doanh chứng khoán thì cả 38 doanh nghiệp đều băn khoăn không biết thành lập
theo mô hình nào cho phù hợp. Sau khi được các điều tra viên giải thích thì hầu hết
đều muốn thành lập theo mô hình công ty cổ phần vì khả năng huy động vốn của
loại hình công ty này cao, phù hợp với tính năng động của cơ chế thị trường. Tỷ lệ
cụ thể là:
+ Công ty cổ phần: 28 DN
+ Công ty TNHH: 8 DN
+ Công ty liên doanh: 2 DN
+ Công ty trực thuộc : không có
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.04
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.0421
c. Khối lượng từng chủng loại hàng hoá được giao dịch
Tính đến đầu tháng 11/ 2000, TTCK Việt Nam đạt được tổng số giá trị giao
dịch vào khoảng hơn 40 tỷ VND, một con số rất khiêm tốn chỉ bằng 1/10 của một
ngày giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán Takarta. Điều này có thể lý giải được
là do hàng hoá giao dịch trên TTCK Việt Nam đã ít về chủng loại lại còn ít về số
lượng mỗi loại. Tình trạng này đã gây nên mất cân đối cung cầu một cách nghiêm
trọng. Diễn biến của thị trường cho thấy khối lượng chứng khoán được giao dịch
có tăng nhưng một số loại chứng khoán thì giao dịch nhỏ giọt, thậm chí chỉ được
giao dịch sau một phiên rồi mất bóng suốt 19 phiên sau đó mới trở lại nhưng với
khối lượng giao dịch rất nhỏ (như TM15). Có một số nguyên nhân khác nhau về số
lượng trái phiếu chính phủ được giao dịch với số lượng thấp là: Tâm lý người đầu
tư cho rằng cổ phiếu thì được hưởng lợi tức cao hơn so với khoản lợi tức mà trái
phiếu mang lại; thiếu thông tin về cách xác định giá trái phiếu; mức phí giao dịch
trái phiếu được đánh giá là khá cao và lãi suất trái phiếu chưa hấp dẫn .
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
22
64000đ/CP cho TMS và 32600đ/CP cho LAF. Hiện nay rất khó đoán trước giá của
chúng sẽ tăng tới mức nào.
Nhìn chung, TTCK hiện nay đã có nhiều biến động, giá cả của một số loại cổ phiếu
tăng nhanh nhưng cũng có loại chững lại và khoảng cách chênh lệch giá cổ phiếu
của các loại cũng rất lớn. Chỉ số Việt Nam- index vẫn tiếp tục tăng tới mức cao
nhất từ trước đến nay vào cuối tháng 3 và dự đoán sẽ còn tăng nữa.
PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHO SỰ PHÁT TRIỂN TTCK
Ở VIỆT NAM
TTCK Việt Nam đang được phát triển trong điều kiện còn chưa đầy đủ nền
tảng cơ sở hạ tầng, thiếu kiến thức kinh nghiệm và chưa đạt được độ tin cậy cao từ
phía nhà đầu tư. Để phát triển TTCK ta cần thực hiện một số biện pháp sau:
1. Đẩy mạnh sự phát triển của thị trường cổ phiếu và trái phiếu doanh nghiệp
Trái phiếu và cổ phiếu công ty là những loại chứng khoán khá phổ biến trên
thị trường đồng thời chúng cũng được xác định là nguồn hàng chính cho thị
trường. Nhưng thực tế hiện nay tiến trình cổ phần hoá còn chậm, chất lượng kém
nên phần lớn các doanh nghiệp chưa đủ điều kiện để phát hành ra công chúng đồng
thời sự yếu kém của hệ thống pháp luật cũng chưa tạo được điều kiện thuận lợi cho
doanh nghiệp phát hành chứng khoán. Do đó ta cần có một số biện pháp cụ thể
nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá, nâng cao chất lượng của các công ty cổ phần
hoá:
- Đơn giản hoá các điều kiện phát hành, niêm yết chứng khoán cho phù hợp với
điều kiện Việt Nam
Click to buy NOW!
P
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
không nên trực tiếp phát hành riêng lẻ như hiện nay, qua đó dễ dàng đưa các trái
phiếu vào niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán.
- Cần đẩy mạnh việc phát hành trái phiếu ra công chúng với nhiều loại thời hạn
khác nhau: 1, 3, 5, 10, 15, 20 năm trong đó có điều khoản khuyến khích đối với các
trái phiếu có thời gian đáo hạn tương đối dài (10- 20 năm)
- Mệnh giá nên phát hành đồng nhất và không nên đưa ra mệnh giá quá lớn. Cần
mạnh dạn phát hành trái phiếu công trình xây dựng cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực
thuộc kỹ thuật công nghệ cao ra thị trường vốn quốc tế.
- Cần có chính sách lãi suất hợp lý, cũng cần có chính sách miễn giảm thuế đối với
trái phiếu chính phủ cũng như trái phiếu doanh nghiệp theo từng thời điểm. Cũng
cần có chính sách miễn giảm thuế đối với trái phiếu Chính phủ đối với các nhà đầu
tư có tổ chức (hiện tại thuế thu nhập từ trái phiếu đối với các cá nhân đã được
miễn).
3) Đẩy mạnh công tác đổi mới doanh nghiệp Nhà nước và thành lập mới các
công ty cổ phần
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
thấy mình thật sự là chủ nhân, cảm thấy được bình đẳng do đó họ cố gắng dốc hết
sức lực và tiền của để phát triển đơn vị, xí nghiệp của mình. Tóm lại nhu cầu vốn
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.0425
để xây dựng và phát triển đất nước đã đặt ra yêu cầu khách quan phải xây dựng và
phát triển TTCK.
Quá trình hình thành TTCK ở nước ta đã phát sinh nhiều yếu tố tác động nên
quá trình ấy có thể nhanh hơn hay chậm hơn và từng bước có thể được điều chỉnh
khác đi, song những điều kiện cơ bản và tiên quyết cho việc hình thành TTCK và
thị trường vốn dứt khoát phải có chương trình triển khai được xây dựng trên cơ sở
kế hoạch có tính đến điều kiện khu vực và quốc tế, đồng thời phải kiên quyết và
dứt điểm trong triển khai thực hiện.
e
V
i
e
w
e
r
w
w
w
.
d
o
c
u
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
c
o
m
TiÓu luËn: Lý thyÕt tµi chÝnh
Sinh viªn: N«ng V¨n Lùc Líp K41 – 01.0426
PTS. Trần Quốc Tuấn
PTS. Ngô Minh Châu
(NXB Thống kê)
5. Thời báo kinh tế Việt Nam
6. Công báo
7. Tạp chí thương mại
8. Tạp chí ngân hàng
9. Đầu tư chứng khoán
10. Thị trường tài chính tiền tệ
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………….1
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG……………………………………………………………2
I. Những vấn đề cơ bản về thị trường chứng khoán………………………… 2
1. Khái niệm và quá trình hình thành, phát triển thị trường chứng khoán …2
2. Vai trò TTCK trong nền kinh tế thị trường………………………………… 4
-
t
r
a
c
k
.
c
o
m
Click to buy NOW!
P
D
F
-
X
C
h
a
n
g
e
V
i
e
w
e
r
w