Luận văn tốt nghiệp : Quá trình hình thành và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ phần 2 - Pdf 19

nhân dân…Song, vẫn còn nhiều khó khăn về vốn, trình độ công nghệ- k
ỹ thuật, sự ô nhiễm môi
trường, năng lực, kinh nghiệm quản lý sản xuất và sự quan tâm của cơ quan Nhà nư
ớc với sự phát
triển của làng nghề còn chưa thích đáng. Những khó khăn này ảnh hưởng trực tiếp đến xu
ất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ, vì vậy để thúc đẩy xuất khẩu đòi h
ỏi Việt Nam phải có những biện pháp
,chính sách thiết thực được thực thi đồng bộ để giải quyết khó khăn trên một cách triệt để.
2.1.2 Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam .
* Xuất khẩu ra nước ngoài
2.1.2.1 Kim ngạch xuất khẩu
Sau khi thống nhất đất nước, nước ta đã khai thác thế mạnh của các ngành ngh
ề truyền thống
này để đẩy mạnh xuất khẩu. Trong thời kỳ 1976_1990, hàng th
ủ công mỹ nghệ xuất khẩu của ta
chủ yếu bao gồm: các loại thảm len,hàng mây tre, mành trúc, mành cọ, hàng thêu ren, khăn tr
ải
giường, trải bàn thêu, áo thêu…tuyệt đại bộ phận các hàng hoá này được xuất khẩu sang thị trư
ờng
các nước Liên Xô cũ và Đông Âu.
Vào thời kỳ cuối những năm 1980, ta đã bắt đầu xuất khẩu dầu thô, gạo với khối lư
ợng
tương đối lớn và hàng công nghiệp nhẹ xuất khẩu cũng tăng trư
ởng nhanh(may mặc, thực phẩm
chế biến, giày da…) nên tỷ trọng xuất khẩu hàng th
ủ công mỹ nghệ giảm đáng kể trong tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước. Bình quân trong thời kỳ 1986-1990 tỷ trọng cả hàng công nghi
ệp
nhẹ và hàng thủ công chỉ còn 27,9% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Từ năm 1991, khi thị trường Liên Xô cũ và Đông Âu, thị trường chủ yếu của hàng th

Chỉ tiêu Đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004
Tổng KNXK

Triệu
USD
11540 14450 15018 16700 18500
Tăng hàngnăm % 123.9 15.2 103.9 111.2 110.7
KNXKTCMN Triệu
USD
168 235 235.4 332 450
Tăng hàng năm % 151.4 139.8 100.2 141 135.5
Tỷ trọng
XKTCMN
% 1.5 1.6 1.68 1.99 2.4
Nguồn: báo cáo hàng năm của Bộ thương mại
Cho đến nay, hàng thủ công mỹ nghệ vẫn tiếp tục là một trong 10 mặt hàng xu
ất khẩu
chính của Việt Nam và từ năm 1997 được xếp vào danh mục những mặt hàng xu
ất khẩu chủ lực
của ta. Năm 1997, theo thông kê của Hải Quan, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ đ
ã
đạt 121 triệu USD, trong đó trên 50% là hàng gốm sứ mỹ nghệ( khoảng 610 triệu USD) và kho
ảng
25% là hàng dốm sứ mỹ nghệ( khoảng 30 triệu USD), bao gôm các loại hàng như: tranh, tư
ợng
gỗ, hàng sơn mài, đồ gỗ trạm khảm…Năm 1998. do khủng hoảng kinh tế khu vực, kim ngạch xu
ất
khẩu đã giảm 8,3% so với năm 1997 nhưng v
ẫn đạt 111 triệu USD . Năm 1999, 9 tháng đầu năm
xu

điều không dễ. Việt Nam xuất khẩu 1 nhóm hàng th
ủ công mỹ nghệ trong đó có 5 loại chính.Mỗi
mặt hàng xuất khẩu dù ít hay nhiều đều tham gia đóng góp vào tổng kim ngạch xuất khẩu.
Bảng 2
Cơ cấu mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu chính của Việt Nam
từ năm 2000-2004

Chỉ tiêu đơn vị 2000 2001 2002 2003 2004
Gỗ mỹ nghệ Triệu USD 50 52 62 76 30
Thêu ren - 14 18 22 27 11
Mây tre đan - 32.6 50.5 61 74 35.3
Thảm các loại - 5 12 14 17 4.5
Gốm sứ mỹ nghệ - 100 120 145 177 51.1
Nguồn: báo cáo tổng kết qua các năm của Bộ thương mại
Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng th
ủ công mỹ nghệ đều tăng qua các năm trong đó mặt
hàng có tỷ trọng lớn nhất là gỗ và gốm sứ sau đó mới đến mây tre đan và các mặt hàng khác. M
ặt
hàng gỗ và gốm sứ rất được các khách hàng Nhật Bản ưa chuộng do kiểu dáng rất phù h
ợp với
phong cách của người Nhật với giá cả phải chăng. Riêng mặt hàng gốm sứ mỹ nghệ là đ
ảm bảo
cho sự tăng trưởng ở mức cao. Hiện nay hàng gốm sứ mỹ nghệ là nguồn hàng xu
ất khẩu chủ lực
trong số các chủng loại hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu của Việt Nam , sau đó là đ
ỗ gỗ mỹ nghệ,
hàng mây tre đan. Đây là những mặt hàng mà nhu cầu luôn có xu hư
ớng tăng. Năm 2000 nhóm
hàng này đạt khoảng 12 triệu USD và năm 2002 đạt khoảng 16 triệu USD , mục ti
êu trong năm

ững
chiều hướng phát triển tốt, có nhiều chủng loại hàng hoá mới và mở rộng được nhiều thị trư
ờng
mới theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ thị trường và quan hệ buôn bán với các nư
ớc
trên thế giới.
Hàng thủ công mỹ nghệ của ta đến nay đã có mặt tại 120 nước trên thế giới,chủ yếu là th

trường các nước Âu_ Mỹ và một số thị trường Châu á như Nhật Bản , Đài Loan, Hàn Quốc và m
ột
số nước Trung đông, nhưng ta chưa xuất được nhiều vào các thị trường có nhu cầu và dung lư
ợng
lớn. Mỹ là thị trường có nhu cầu lớn về hàng thủ công mỹ nghệ, Hàng thủ công quà tặng là m
ột
trong những mặt hàng Việt Nam có ưu thế trên thị trường Mỹ, nhưng chưa được các nh
à doanh
nghiệp Việt Nam quan tâm và đầu tư. Người tiêu dùng Mỹ ưa chuộng những sản phẩm chất lư
ợng
cao, mẫu mã đẹp, giá rẻ, không phân biệt xuất xứ ở đâu, hơn nữa mặt hàng này ít ch
ịu tác động của
rào cản thương mại . Mới đây nhất, tại triển lãm hàng th
ủ công mỹ nghệ diễn ra tại New York từ
15-18 /5, những mặt hàng thủ công mỹ nghệ của hơn 20 công ty Việt Nam đã thu hút đư
ợc sự quan
tâm chú ý của các khách hàng Mỹ. Một số bản ghi nhớ và hợp đồngđã ký kết, mở ra nhiều cơ h
ội
hợp tác xuất khẩu mặt hàng này qua thị trường mỹ cho các HTX và công ty m
ỹ nghệ của Việt
Nam .
EU được coi là thị trường lý tư

). Nhật Bản cũng là thị trường lớn đối với nhiều loại hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam .
Ngưòi Nhật Bản có nhu cầu khá lớn về đồ gỗ, theo thống kê của Nhật, hàng năm ta đã xu
ất
sang Nhật khoảng 60 triệu USD đồ dùng gia đình, trong đó chủ yếu là đồ gỗ. Xuất khẩu đồ gỗ v
ào
Nhật Bản chưa gặp phải những quy định ngày càng khắt khe như của EU và Mỹ về bảo vệ rừng.
Theo số liệu năm 2002 thì bạn hàng l
ớn về xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam chính
là Nhật Bản với 33,35 triệu USD , sau đó mới đến Đức 25,4 tri
ệu USD , Anh 17,64 triệu USD ,
Đài Loan 15,4 triệu USD …
Theo đánh giá của các chuyên gia tư vấn cao cấp của JETRO( tổ chức xúc tiến thương m
ại
của Nhật Bản ) thì vài năm gần đây người tiêu dùng Nhật Bản rất chuộng hàng th
ủ công mỹ nghệ
của Việt Nam từ đồ gia dụng, trang trí nội thất đến hàng quà tặng. ở Nhật Bản , nhu cầu về h
àng
thủ công mỹ nghệ ngày càng nhiều trong khi sản xuất các loại hàng này l
ại giảm đi, các doanh
nhân Nhật đi tìm nguồn hàng để nhập khẩu và các mặt hàng đượclàm từ đôi tay khéo léo của ng
ươi
Việt Nam được họ chú ý bởi tính phong phú về kiểu dáng, mẫu mã giàu tính sáng t
ạo nghệ thuật.
Những cơ sở sản xuất kinh doanh có hàng thường xuyên xuất khẩu sang Nhật Bản tiêu biểu l
à các
hợp tác xã mây tre lá lớn nhỏ ở TP.HCM như: Ba Nhất, Hoà Hi
ệp ( Q4),Việt Tre, Phú Trung…đều
khả quan, những sản phẩm như khay trái cây,mành cửa, bàn ghế, gi
ỏ đựng vật phẩm, thảm lau
chân, gối tre, lẵng hoa, giỏ đựng quần áo…được làm từ cói, mây, tre, xơ dừa đang rất được

nay. Trong những năm đổi mới, thị trường du lịch ngày càng có điều kiện phát triển và đó là m
ột
thị trường đâty tiềm năng của nước ta. Số lượng khách du lịch nước ngoài và nước ta ngày m
ột
nhiều, đáp ứng nhu cầu của thị trường này là những sản ph
ẩm truyền thống thể hiện nét độc đáo
của nền văn hoá dân tộc và mang đ
ậm dấu ấn lịch sử của từng thời kỳ. Nhu cầu của khách du lịch
thường là mua những sản phẩm lưu ni
ệm mang tính chất văn hoá truyền thống dân tộc hoặc thể
hiện tập trung những nét đặc trưng của vùng mà họ đến. Qua quan sát cho thấy khách nước ngo
ài
đến tham quan du lịch ở nước ta, ngoài vi
ệc đi đến các điểm du lịch, bao giờ họ cũng đến những
nơi bày bán và giới thiệu các sản phẩm truyền thống. Các sản phẩm chủ yếu được giới thiệu l
à các
đồ thủ công mỹ nghệ : gốm sứ, khảm trai, khắc gỗ, đá, bạc, đồng, đồ thêu ren, đan lát…
Trong năm 2004, Việt Nam đón tiếp hơn 2,9 triệu lượt khách du lịch nước ngoài đ
ến thăm
quan và mua sắm, tăng hơn 19% so với năm 2003. Trong năm 2005 Việt Nam đặt mục tiêu s
ẽ đón
3,2 triệu lượt khách với nhiều chương trình và các chính sách thu hút khách du lịch nước ngo
ài.
Sau thảm hoạ sóng thần và động đất vừa qua nhiều khách du lịch nước ngoài đã chuyển hư
ớng đến
Việt Nam làm lượng khách tăng lên đáng kể, và những mặt hàng th
ủ công mỹ nghệ của Việt Nam
đã thực sự thu hút các du khách đến từ các nước trên thế giới.
Những hàng hoá thủ công mỹ nghệ dưới dạng quà tặng hay quà lưu niệm sẽ được tiêu th


các doanh nghiệp xuất khẩu thủ công mỹ nghệ của Việt Nam. Với thị trường Nhật Bản, ta đã xu
ất
khẩu sang các mặt hàng như mây tre đan, tranh dân gian Đông Hồ, sơn mài, đ
ồ khảm trai, gốm sứ
và gỗ mỹ nghệ…
Trải qua những năm khủng hoảng do sự biến động về chính trị- xã hội ở Li
ên Xô và các
nước Đông Âu, sự khó khăn về thị trường tiêu thụ, sản xuất hàng th
ủ công mỹ nghệ của Việt Nam
đã được khôi phục, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Nhà nước ,tư nhân, với sự hỗ trợ của Nh
à
nước , đã tìm kiếm và giới thiệu sản phẩm ở nhiều thị trường mới. Từ thời gian này trở đi, hàng th

công mỹ nghệ mới tiếp cận được thị trường Nhật Bản.
Bảng 4
Kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam vào Nhật Bản
Đơn vị : triệu USD
Năm KNXK sang
Nhật Bản
Tăng giảm
tuyệt đối
Tăng giảm
tương
đối(%)
KNXK
TCMN cả
nước
Tỷ
trọng(%)

ếm 23.8 % . Sở dĩ có mức tăng
trưởng kỷ lục như vậy là do Việt Nam đã đi từ con số không đi lên. Hơn nưa, quan hệ Việt Nam

Nhật Bản ngày càng tiến triển tốt đẹp.
Năm 1996, kim ngạch đạt 17.5 triệu USD với tốc độ tăng trưởng l
à 23.33 %. Sang năm
1997, 1998, do cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, nhiều thị trường nhập khẩu của Vi
ệt Nam bị
giảm sút nhưng thị trường Nhật Bản vẫn khá ổn định, vì mặt hàng thủ công mỹ nghệ vẫn là m
ột
trong những mặt hàng cần thiết cho sinh hoạt của người Nhật Bản, tuy nhiên tốc độ tăng trư
ởng
cũng giảm tương đối so với các năm trước. Năm 1997,tốc độ tăng trưởng là 11,4 % nhưng đ
ến năm
1998 gi
ảm 10% so với năm 1997, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 18 triệu USD . Kết quả giảm sút
này là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính làm cho giá cả của hàng Việt Nam cao h
ơn
do đồng tiền của các nước khác chịu kh
ủng hoảng mất giá, đồng thời sản phẩm thủ công mỹ nghệ
của Việt Nam bị cạnh tranh bởi hàng thủ công mỹ nghệ của các nước xuất khẩu hàng th
ủ công mỹ
nghệ như Trung Quốc, Thái lan…
Năm 1999, tình hình đã được cải thiện sáng sủa hơn. Kim ngạch xuất khẩu hàng th
ủ công
mỹ nghệ của Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ vào thị trư
ờng
Nhật Bản là 24.4 tri
ệu USD tăng 35.5 % so với năm 1998, chiếm 12.2 % tổng kim ngạch xuất khẩu
thủ công mỹ nghệ của cả nước. Năm 2000 đánh dấu một thời kỳ phục hưng của ngành th

ự cố
gắng của các doanh nghiệp mà trong năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng th
ủ công mỹ nghệ của
Việt Nam sang Nh
ật Bản đạt 55 triệu USD, chiếm 12% kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ
của cả nước.
Kết quả trên tuy chưa phải là rất cao nhưng trong khi Nhật Bản đang gặp nhiều khó khăn m
à
Việt Nam vẫn giữ được mức tăng trưởng qua các năm cũng là kết quả rất đáng khích lệ.
2.1.3.2 Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản.
Nhật Bản có nhu cầu rất lớn đối với hàng thủ công mỹ nghệ. Các mặt hàng đư
ợc phân
thành loại cao cấp là các loại nhập từ Mỹ và các nước châu Âu, loại giá rẻ được nhập từ các nư
ớc
CHÂU Á như Trung Quốc, Đài Loan và các nước ASEAN.
Mặt hàng Nhật Bản nhập khẩu từ Việt Nam nhiều và thường xuyên nhất là đồ mỹ nghệ v
à
gốm sứ, ngoài ra khách hàng Nhật Bản cũng rất ưa chuộng các mặt hàng được làm từ cói.
Bảng 5
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản
Đơn vị: triệu USD
Mặt hàng 2001 2002 2003 2004
Gỗ mỹ nghệ 15 20,7 21 18
Gốm sứ 4 4.5 5 5
Mây tre đan 3 2,5 4 4,3
Thêu ren 15 10 17,5 20
Thảm các
loại
2 3 1 3


năm 2003 cả về số lượng và kim ngạch nhập khẩu, đồ sứ là 16.484 tấn, gốm là 45.800 tấn nhưng
nhập chủ yếu từ Trung Quốc, so với năm 2000, năm 2004 nhập khẩu đồ gốm tăng 160% tính theo
lượng và 150% tính theo kim ngạch, nhập khẩu đồ gốm sứ từ Châu á tăng nhanh do mức giá rẻ và
công nghệ sản xuất được chuyển giao từ Nhật Bản sang cho phép các nhà sản xuất Châu á cung
cấp sản phẩm gần gũi hơn với người Nhật Bản. Đây là vấn đề mà ngành thủ công mỹ nghệ của
Việt Nam cần lưu ý khi đưa ra các giải pháp để thúc đẩy hàng thủ công mỹ nghệ vào Nhật Bản
Tuy nhiên thị phần của Việt Nam còn khá khiêm tốn, mới chỉ đạt 5 triệu USD/ năm mặc dù thuế
nhập khẩu rất thấp. Đây là mặt hàng có nhiều triển vọng nếu nhà sản xuất chú ý đến khâu tạo hình
và đặc điểm hệ thống phân phối của thị trường Nhật Bản.
* Xuất khẩu tại chỗ
Sau những thiên tai và bệnh tật xảy ra trong khu vực Châu á, Việt Nam được đánh giá l
à
điểm đến an toàn đối với khách du lịch. Hiện nay khách du lịch Nhật Bản vào Vi
ệt Nam ngay một
nhiều. Hiện các cửa hàng bán đồ thủ công mỹ nghệ đón tiếp rất nhiều khách Nhật Bản,chủ yếu l
à
tầng lớp thanh niên, họ ưa chuộng những mặt hàng mới mẻ mang dáng vẻ truyền thống nhưng đ
ộc
đáo của Việt Nam. Mua sắm là mục đích thứ 2 của người Nhật Bản khi họ đến Việt Nam , trên c

mục đích tham quan và chỉ đứng sau mục đích thư
ởng thức ẩm thực. Trong tháng 4/ 2005 vừa qua,
Tổng cục trưởng tổng cục du lịch Việt Nam và Bộ Trưởng Giao Thông và Lãnh th
ổ Nhật Bản
Kazuo Kitagawa đã ký văn bản thoả thuận về hợp tác phát triển du lịch giữa 2 nư
ớc, theo đó hai
nước sẽ thảo luận kế hoạch hợp tác cụ thể trong lĩnh vực du lịch như chính sách hỗ trợ của Nh
à
nước, hợp tác nghiên cứu thị trường và đào tạo cán bộ quản lý, hướng dẫn viên du l
ịch. Trong năm

Do đặc điểm sản xuất của nghề này là sử dụng lao động thủ công là chủ yếu , nơi s
ản xuất cũng
chính là nơi ở của người lao động nên b
ản thân nó có khả năng thu hút nhiều loại lao động, từ lao
động thời vụ nông nhàn đến lao động trên hay dưới độ tuổi , trẻ em, tham gia dưới hình th
ức học
việc hay giúp việc. Lực lượng lao động nay chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số lao động làm nghề
* Tính phong phú của sản phẩm thể hiện trên 2 khía cạnh:
-Văn hoá: S
ản phẩm thủ công mỹ nghệ mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam . Từ những
con rồng trạm trổ ở các đình chùa hoa văn trên các trống đồng, màu men, hoạ tiết trên các đ
ồ gốm
sứ, tất cả đều mang vóc dáng dân tộc, quê hương và chứa đựng trongnó những ảnh hư
ởng văn hoá
tinh thần quan niệm nhân văn, tín ngưỡng tôn giáo của dân tộc. Việt Nam nghìn năm văn hiến v
à
tầng lớp nghệ nhân tay nghề cao đã sáng tạo những sản phẩm thủ công mỹ nghệ tuyệt vời mà Nh
ật
Bản không thể sản xuất, đây chính là chiếc cầu nối giao lưu văn hoá giữa 2 nước. Bên c
ạnh đó,
những nét riêng về phong tục của mỗi địa phương, cá địa danh được thể hiên trên s
ản phẩm thủ
công mỹ nghệ đều làm tăng giá trị cho sản phẩm, gây cho khách hàng một sự thích thú, như m
ột sự
khám phá khi thấy sản phẩm.
- Nguyên liệu: Mỗi năm, Nhà nước ta đều đưa những sản phẩm thủ công mỹ nghệ mới đư
ợc
xuất khẩu lần đầu vào danh sách khen thưởng. Sự phong phú của nguyên liệu sử dụng đã tạo n
ên
các sản phẩm độc đáo. Từ mây, tre, song, nứa người ta có thể dùng cả rơm phơi khô, gáo dừa, x

- Chính sách đào tạo thợ thủ công truyền thống.
- Chương trình cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.
- Chương trình khuyến nông về ngành nghề nông thôn.
- Hỗ trợ sản xuất , phát triển ngành nghề cho đối tượng đói nghèo.
Bên cạnh đó Nhà nước đang sửa đổi bổ sung nhiều quy chế chính sách khác nh
ư các chính
sách về thị trường, vôn đầu tư tín dụng, chính sách đối với nghệ nhân, chính sách đối với phát tri
ển
doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành nghề truyên thống…
* Các hoạt động xúc tiến thương mại.
Nhà nước đã có nhiều hoạt động hỗ trợ các doanh nghiệp trong vấn đề tiếp cạn thị trư
ờng
Nhật Bản : mở các showroom hàng thủ công mỹ nghệ tại nhiều thành ph
ố của Nhật Bản , hỗ trợ
kinh phí cho các doanh nghiệp khi tham gia các hội chợ quốc tế tại nước ngoài, t
ổ chức các hội chợ
riêng về hàng thủ công mỹ nghệ tại Việt Nam , đon tiếp các đoàn khách du lịch Nhật Bản và t

chức các buổi giao lưu nhằm tạo cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam tim kiêm đ
ối tác… Điển
hình trong năm nay từ ngày 23-36/6/2005, Thương v
ụ Việt Nam tại Nhật Bản sẽ phối hợp với văn
phòng II bộ thương mại tổ chức đưa đoàn doanh nghiệp Nhật Bản về TP.HCM để tìm ki
ếm đối tác
đầu tư tại Việt Nam

Khó khăn và hạn chế
- Theo cục xúc tiến thương mại( Bộ Thương mại), khách hàng Nhật Bản đánh giá hàng thủ
công mỹ nghệ của Việt Nam yếu nhất là khâu thiết kế. Các công ty xuất khẩu của Việt Nam ít
quan tâm đến cải tiến chất lượng sản phẩm , chỉ cạnh tranh với nhau bằng cách hạ giá. Do đó,

thành lập theo quýêt định số 617/BNgT-TCCB ngày 23/12/1964 của Bộ Ngoại Th
ương.Sau khi sát
nhập 2 Bộ Ngoại Thương và Bộ Nội thương thành lập Bộ thương mại vàDu lịch nay đổi thành B

thương mại, công ty được thành lập theo quyết định số334/TM-TCCB ngày31/3/1993 c
ủa bộ
Thương mại
Là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động xuất nhập khẩu có tư cách pháp nhân, có quy
ền
và nghĩa vụ dân sự theo luật định, có con dấu riêng, có tài sản và các quỹ tập trung, được mở t
ài
khoản trong và ngoài nước, đựơc tổ chức và hoạt động theo điều lệ của Tổng công ty n
ên trong
hoạt động sản xuất kinh doanh của mình công ty phải đảm bảo không làm trái v
ới pháp luật, thực
hiên mọi chế độ kinh doanh theo luật thương mại Việt Nam, chịu trách nhiệm về h
ành vi kinh
doanh và nguồn vốn nhà nước cấp.
2.2.1.1 Mặt hàng kinh doanh của công ty.
Hiện nay,công ty kinh doanh chủ yếu các mặt hàng sau:
 Hàng sơn mài mỹ nghệ như tranh sơn mài, hộp đựng trang sức, các vật trang trí…
 Hàng gỗ mỹ nghệ được trạm khảm, kết hoa văn…
 Hàng cói, mây, dừa, dép,thảm với chất liệu đa dạng.
 Hàng gốm sứ
 Hàng thêu ren
2.2.1.2 Tình hình sử dụng các công cụ cạnh tranh của công ty .
* Giá thành
Khi đưa ra các quyết định về giá, công ty thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đ
ến
việc định giá xuất khẩu của mình bao gồm các yếu tố chi phí, khách hàng, cạnh trạnh, phân phối v

àng
hoá phải có chất lượng.
Nếu như trước đây,giá cả được coi là công cụ cạnh tranh hàng đầu thì ngày nay nó như
ờng
chỗ cho chất lượng sản phẩm .Công ty thường xuyên cử người xuống để giám sát đôn đốc nhất l
à
kiểm soát chặt chẽ các nguyên liệu đầu vào. Chất lượng của hàng th
ủ công mỹ nghệ thể hiện ở độ
chắc, bền, độ tinh vi, tính mỹ thuật…những sản phẩm này dù có sơ xuất nhỏ hoặc chất lư
ợng
không đồng đều sẽ bị loại bỏ để tránh trường hợp khách hàng t
ừ chối hoăc phải bán rẻ, tránh tổn
thất làm giảm uy tín của công ty.
Bên cạnh đó, tâm lý người tiêu dùng luôn đòi h
ỏi cải tiến không ngừng đối với sản phẩm ,
mang lại sự thoả mãn nhu cầu cả về chất lượng và tính th
ẩm mỹ khi sử dụng sản phẩm . Để đáp
ứng nhu cầu chính đáng đó của khách hàng công ty ARTEXPORT đã không ng
ừng sáng tạo
những mẫu sản phẩm mới lạ độc đáo, vừa đáp ứng chất lư
ợng vừa đảm bảo tính thẩm mỹ của mặt
hàng thủ công mỹ nghệ mà công ty cung ứng cho thị trường.
Đối với hàng thêu ren, một mặt hàng xuất khẩu gần như chủ lực của công ty, muốn đạt đư
ợc
chất lượng cao phải đúng mẫu mã, đảm bảo kỹ thuật, từ khâu đầu đến khâu cuối:
- Đúng mẫu mã, màu sắc theo yêu cầu của khách hàng
- Kích thước chính xác(dung sai cho phép 0,5-1 cm là tối đa)
- Mặt vải phải lỳ và đẹp.
- Đường mép thẳng, không văn vẹo.
- Các đưòng rua phải đẹp, chặt, và làm đến đường rua cuối cùng.

hoa văn, màu sắc, vật liệu.
Những đề tài cũ như con người, cuộc sống, chim muông…của công ty đa số đã c
ũ không
còn phù hợp với thị hiếu hiện nay. Hơn thế nữa, mẫu mã đề tài của sản phẩm yêu cầu phải thư
ờng
xuyên thay đổi để đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Điều này là do đ
ặc điểm văn hoá, phong cách,
lối sống khác nhau nên có nhu c
ầu khác nhau. Đôi khi tính nghệ thuật của sản phẩm thủ công mỹ
nghệ còn được đánh giá cao hơn tính tiện dụng. Tính nghệ thuật thể hiện ở các đư
ờng nét hoa văn
hài hoà, mềm nuột…Bởi lẽ người ta không chỉ sử dụng nó mà còn muốn thưởng th
ức giá trị nghệ
thuật của sản phẩm, muốn dùng nó để trang trí cho ngôi nhà hay nơi làm việc của mình…H
ọ cần
những sản phẩm làm bằng tay tinh tế, tinh xảo, thanh tú hơn là những sản phẩm đã đư
ợc công
nghiệp hoá. Chính vì vậy, người thợ làm ra những sản phẩm này rất cần phải học hỏi, rèn luy
ện tay
nghề, có sự hiểu biết về hội họa, có vốn kiến thức về cuộc sống và có nét thẩm mỹ.
Tuy vậy, hiện nay vấn đề này chưa được công ty chú trọng nhiều. Nhiều đơn đặt hàng, m
ẫu
mã sản phẩm do bên kia cung cấp đã tạo nên sự bị động trong việc cung ứng, sản xuất h
àng hoá,
không khai thác hết nhu cầu tiêu dùng cảu khách hàng.
* Quảng cáo, xúc tiến bán.
- Quảng cáo: Công ty thực hiện quảng cáo các sản phẩm của mình qua báo trong nước v
à
trên mạng, chưa thực hiện hoạt động quảng cáo trên báo, tạp chí, hay truyền hình ở thị trường nư
ớc

lý liên doanh. Chiến lược chính lúc này của công ty là tạo được chỗ đứng thật vững chắc trên th

trường thế giới cho mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
Các
cơ sở
sản
xuất
Công
ty

Nhà
bán
buôn
Người
tiêu
dùng
Nhà
nhập
khẩu
Nhà
bán
lẻ

2.2.2 Tình hình xuất khẩu của công ty sang Nhật Bản trong một só năm vừa qua.
Trong những năm qua, công ty xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ ARTEXPORT đã vư
ợt
qua tình hình kinh doanh trong nước và quốc tế để ổn định và phát triển. Công ty đã kh
ẳng định
được vị trí của mình là một trong 10 doanh nghiệp hàng đầu của Bộ Thương Mại, là m
ột doanh

ên,sang năm
2002, kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 743.936 USD do tình trạng khó khăn c
ủa doanh nghiệp nói
riêng và của ngành nói chung. Song không vì thế mà làm nản lòng các cán bộ công nhân vi
ên công
ty, nhất là đối với thị trường Nhật Bản là một thị trường mới nên đã đư
ợc công ty chú ý, tăng
cường các biện pháp hỗ trợ sản xuất và tiếp cận thị trường cùng với sự giúp đỡ của các c
ơ quan
trong việc tìm kiếm bạn hàng , công ty đã đẩy kim ngạch xuất khẩu lên 8.175.925USD, và đ
ến
năm 2004 vừa qua kim ngạch xuất khẩu đạt 9.540.700 USD.
Có thể khẳng định rằng, cho dù mới tiếp cận và thâm nhập thị trư
ờng Nhật Bản song công ty
đã có những cố gắng rất lớn, tuy vậy, trong thời gian tới công ty cần đẩy mạnh hơn n
ữa việc thúc
đẩy xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản , một thị trường đầy tiềm năng nhưng c
ũng đầy thách thức
vì thị phần của công ty trên thị trường này còn rất nhỏ bé .
2.2.2.2 Mặt hàng xuất khẩu
Tổng kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản tăng đều qua các năm nhưng kim ng
ạch
xuất khẩu của từng mặt hàng tăng giảm không ổn định. Năm 2001, hàng cói mây tre c
ủa công ty
đạt kim ngach xuất khẩu cao nhất trong cơ cấu mặt hàng là 806.597 USD bởi vì n
ăm 2001 đánh
dấu bớc thâm nhập đầu tiên của công ty vào thị trờng Nhật Bản . Trong năm này, công ty đã đ
ẩy
mạnh khâu thu mua, tăng cờng sản xuất mặt hàng này và đa ra nhiều kiểu mẫu m
ới gây sự chú ý

nung
98.522 153.792 202.916 116.099
Hàng thêu
ren.
354.674 170.631 337.806 516.690
Hàng TCMN
khác
340 0 29.906 2.522
Tổng KNXK

1.955.872 743.936 1.200.071 1.314.035
Nguồn : phòng xuất nhập khẩu tổng hợp 9- công ty ARTEXPORT
Tuy nhiên, sang đến năm 2002, kim ngạch mặt hàng này giảm đáng kể, gần h
ơn 50% cùng
với các mặt hàng thêu và gỗ mỹ nghệ, sản xuất của công ty dờng nh bị ngừng lại do tình tr
ạng
thiếu nguyên liệu, các đơn hàng lớn một số đã bị bỏ dẫn đến mất khách hàng, hàng g
ỗ mỹ nghệ chỉ
xuất đợc 59.786 USD, thêu ren là 170.631 USD, tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ c
òn 743.936 USD.
Trớc tình trạng đó,công ty đã đưa ra và thực hiện rất nhiều các biện pháp gi
ải quyết. Sang năm
2003, tình trạng đã đợc cải thiện hơn một chút, công ty đầu tư nhiều hơn vào mặt h
àng thêu ren,
mặt hàng có thế mạnh của công ty, trong năm này kim ngạch xuất khẩu của mặt h
àng này là
337.806 USD,song tình trạng thiếu nguyên liệu gỗ thì vẫn chưa th
ể giải quyết, kim ngạch xuất
khẩu chỉ đạt 59.855USD, hàng cói và mây tre giữ đư
ợc mức kim ngạch 300.434 USD. Sang năm

đáng tiếc.
2.2.3 Đánh giá về thực trạng xuất khẩu sang Nhật Bản của công ty trong thời gian qua.

2.2.3.1 Những điểm mạnh cần phát huy
Từ đầu năm 2000 đến nay, năm nào công ty cũng hoàn thành vượt kim ngạch mà b
ộ giao
cho, lợi nhuận không ngừng tăng lên và được bộ đánh giá là m
ột trong những doanh nghiệp trực
thuộc bộ có tinh hình tài chính và kinh doanh ổn định. đạt được những thành tựu như vậy là do s

cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty và công ty cũng đã t
ận dụng
những lợi thế bên ngoài để phát huy.
- Trên 30 năm hoạt động, công ty đã tạo cho mình một thị phần ổn định là những thị trư
ờng,
bạn hàng truyền thống với lượng nhập khẩu hàng năm khá cao.
- Trong nội bộ công ty có sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của các cấp lãnh đ
ạo,sự năng động
đoàn kết,tinh thần miệt mài sáng tạo của toàn thể cán bộ công ty.
- Do là một doanh nghiệp lớn trực thuộc Bộ Thương mại,công ty có đư
ợc mối quan hệ tốt
với các cơ quan đại diện như Thương vụ tại Nhật Bản, nhờ đó có thể tìm kiếm đối tác v
à khai thác
thông tin thị trường đồng thời công ty đã được Nhà nước h
ỗ trợ kinh phí tham gia hội chợ va cung
cấp các thông tin về thị trường Nhật Bản, nhờ đó giảm một phần đáng kể chi phí cho công ty.
- Cơ cấu tổ chức của công ty đơn gi
ản, gọn nhẹ, các cán bộ có kinh nghiệm lâu năm trong
quản lý. Trong thời gian qua công ty vẫn tiếp tục củng cố hoàn thiện hơn nữa bộ máy làm việc v
à

+ Bên cạnh đó, đối với tâng lớp nghệ nhân tại làng nghề, nơi đặt xư
ởng sản xuất của công ty
, công ty chưa có chính sách nào để có thể giúp họ trong việc nắm bặt thị hiếu người ti
êu dùng
nước ngoài mà họ lại là người thiết kế mẫu chủ yếu, trực tiếp làm ra sản phẩm ,vì v
ậy sản phẩm
của công ty chưa thể đáp ứng một số lượng lớn hơn nhu cầu của người Nhật Bản.
- Vấn đề tổ chức nguồn hàng còn rời rạc, chưa có h
ệ thống. Khi có hợp đồng, công ty mới
thông qua các xưởng thu hoá tại làng ngh
ề để thu gom sản phẩm , nếu thiếu lại phải thu mua của
các xưởng khác, như vậy, nguồn hàng sẽ không được chủ động và ổn định.
- Vấn đề thiết kế mẫu: Trong xu
ất khẩu thủ công mỹ nghệ, khâu thiết kế mẫu chiếm một vịt

Trích đoạn Nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status