Luận văn : KHẢO SÁT SINH TRƯỞNG MỘT CHỦNG NẤM VÂN CHI ĐEN TRAMETES VERSICOLOR L.:Fr Pilát CÓ NGUỒN GỐC TỪ TRUNG QUỐC part 7 - Pdf 19


38
3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp xác suất thống kê dựa trên cơ sở phân tích
dữ liệu khoa học bằng chương trình MS-EXCEL
Trung bình mỗi mẫu:
Xtb =
n
Xi

Xi: trị số của mẫu
N: số lượng mẫu
Phương sai của nghiệm thức S
2
S
2
=
2
1
1
)(



=
n
XtbXi
n
i

Độ lệch chuẩn của nghiệm thức: độ lệch chuẩn của mẫu là S. Độ lệch chuẩn nói

Hình 4.1: Quả thể nấm Vân chi đen Trametes versicolor (theo chiều từ trên xuống,
trái qua phải: Hình 4.1a, Hình 4.1b, Hình 4.1c, Hình 4.1d )
9 Hình 4.1a: Mặt trên nấm vân chi với những đường đồng tâm màu xám tro, nâu
đen đến đen
9 Hình 4.1b: Quả thể nấm vân chi gồm nhiều lớp đan xen nhau
9 Hình 4.1c: Quả thể nâm vân chi cắt ngang
9 Hình 4.1d: Mặt dưới tai nấm vân chi
Quả thể vân chi khi non mọc thành từng u lồi tròn màu trắng, trắng kem hay hơi
ngã màu nâu, càng lớn sẽ xuất hiện dạng vành gồm nhiều lớp đan xen chồng chất lên
nhau như ngói lợp. Mủ nấm hình quạt, cứng mỏng. Mép mủ mỏng, sắc cạnh, nguyên
hay xẻ thuỳ sâu nông không theo quy luật. Mặt trên tai nấm có lớp lông mịn, dày, ngắn
khoảng 0,3 – 0,5 mm. Lớp lông mịn này tạo thành nhiều đường đồng tâm có màu sắc
thay đổi từ đen, nâu đen, xám tro đến nâu đất. Càng ra phía ngoài mép tán, màu sắc
của các đường đồng tâm càng nhạt, càng ngã sang nâu nhiều hơn đen, mép tán có lớp

40
lông mịn màu trắng hay hơi vàng nâu. Tuy nhiên ở những vùng tán nấm nhận ít ánh
sáng thì có màu vàng nâu, màu nâu, tương tự những tán nằm phía dưới cũng xuất hiện
màu nâu nhiều hơn. Mặt dưới tai nấm là lớp bào tầng màu trắng - trắng kem có nhiều
lỗ nhỏ. Miệng lỗ nguyên, có dạng gần tròn hay oval.
Phần thịt nấm mỏng, màu trắng, trắng kem, dày 1 – 2 mm. Hệ sợi trong phần thịt
nấm rất dai, bện kết chặt với nhau, quan sát thấy có hai loại sợi:
9 Sợi cứng vách dày 1,5 – 2,7 µm, thẳng, trong suốt, không có vách ngăn
ngang, đường kính 3 – 6,5 µm, rất ít khi phân nhánh.
9 Sợi bện ngắn, ngoằn ngoèo, phân nhánh rất rõ, đường kính 2 – 4 µm, vách
dày 0,7 – 1,7 µm.


Bảng 4.1: Đường kính
hệ sợi lan trên 5 môi trường theo thời gian
Đường kính hệ sợi lan (mm)
Thời gian
(ngày)
MT1 MT2 MT3 MT4 MT5
3 39,82 ± 3,90 27,63 ± 1,19 37,76 ± 0,98 41,31 ± 1,54 39,57 ± 2,51
4 62,15 ± 3,24 45,42 ± 0,58 59,56 ± 3,00 65,58 ± 1,62 60,57 ± 0,33
5 79,24 ± 0,24 60,22 ± 0,67 78,11 ± 3,10 82,81 ± 1,35 78,79 ± 2,75

0
20
40
60
80
100
12345
Môi trường
mm
3N
4N
5N

Biểu đồ 4.1: Biểu diễn đường kính hệ sợi lan trên 5 môi trường dinh dưỡng theo
thời gian

43

Quan sát hệ sợi lan đến ngày thứ 5 nhận thấy: Trên MT2, hệ sợi lan chậm và lan
thưa nhất, mức độ tập trung hệ sợi mỏng, đường kính tăng trưởng có sự sai khác đối

C 27
o
C
3 37,76 ± 2,98 33,46 ± 3,66
4 59,56 ± 3,00 52,18 ± 3,16
5 78,11 ± 3,10 72,26 ± 1,89

0
20
40
60
80
100
30 27
Nhiệt độ (oC)
mm
3N
4N
5N

Biểu đồ 4.2: Biểu diễn đường kính hệ sợi nấm vân chi lan trên môi trường BTH ở
nhiệt độ 27
o
C và 30
o
C theo thời gian
Đường kính hệ sợi lan ở nhiệt độ phòng (30 ± 2
o
C) lớn hơn ở nhiệt độ mát (27 ±
2

40
60
80
7 6,5 6 5,5 5
pH
mm
3N
4N
5N

Biểu đồ 4.3: Biểu diễn đường kính hệ sợi lan trên môi trường BTH ở các pH khác
nhau theo thời gian

46
Phân tích số liệu nhận xét thấy, ở pH 5,5 hệ sợi nấm vân chi lan nhanh, dày, đều,
có đường kính tăng trưởng lớn nhất; tuy nhiên tốc độ lan ở pH 5 và pH 5,5 không có
sự khác biệt về mặt thống kê; ở pH 7 hệ sợi lan chậm nhất, khác biệt so với tất cả pH
còn lại. pH càng cao khả năng lan của hệ sợi càng chậm, khi vượt quá pH 9 thì hệ sợi
có thể chết [3]. Vậy trong nhân giống cấp một cần điều chỉnh pH môi trường nằm
trong khoảng 5 – 5,5. Hình 4.7: Đường kính hê sợi
lan trên môi trường BTH ở các pH vào ngày thứ 4
4.3. Khảo sát môi trường nhân giống cấp hai (môi trường hạt)
Kết quả đo chiều dài hệ sợi lan trên các môi trường nhân giống cấp hai được thể
hiện ở Bảng 4.4
Bảng 4.4: Chiều dài hệ sợi lan trên các môi trường nhân giống cấp hai
Chiều dài hệ sợi lan (mm)
Môi

Biểu đồ 4.4: Biểu diễn chiều dài hệ sợi lan trên các môi trường nhân giống cấp hai
Kết quả sau 12 ngày đo cho thấy: hệ sợi lan trên các môi trường lúa, bắp xay
có bổ sung dinh dưỡng tốt hơn lan trên các môi trường mùn cưa. Hệ sợi ở các môi
trường lúa và trên môi trường bắp xay lan nhanh, dày, màu trắng, bện kết chặt với
nhau, còn trên môi trường mùn cưa, hệ sợi lan chậm hơn, mức độ tập trung hệ sợi
thưa, khả năng bện kết yếu. Khi phân tích thống kê các số liệu thu thập được, MT8 là
môi trường có hệ sợi lan chậm và yếu nhất, MT2 và MT5 là môi trường có hệ sợi lan
nhanh, mạnh, dày, có chiều dài hệ sợi lan dài và khác biệt so với các môi trường còn
lại. Vậy để đạt được năng suất cao trong nhân giống trung gian có thể chọn MT2 hoặc
MT5; nhưng để nhân giống số lượng lớn phục vụ sản xuất, MT2 (Lúa, Mùn cưa, Cám
bắp) tối ưu hơn MT5 (Bắp xay, Mùn cưa, Đậu xanh) vì giá thành MT2 kinh tế hơn,
mức độ lan của hệ sợi đồng đều hơn và sự chêch lệch giữa các số liệu thu thập từ MT2
thấp hơn MT5.
Trên các môi trường, hệ sợi bắt đầu xuất hiện sắc tố từ ngày thứ 15 sau khi cấy.
Khi có sự xuất hiện sắc tố (màu vàng hay vàng nâu) thì hệ sợi bện chặt lại với nhau và
rất dai
. Do từ ngày thứ 15, hệ sợi bắt đầu già và dai, vậy nên tiến hành cấy chuyền hay
cấy sang môi trường nuôi trồng tốt nhất là khi hệ sợi được 12 – 15 ngày tuổi.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status