Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa
nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài,
chưa nắm vững và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước ta.
Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa bị
xoá bỏ. Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế lỗi thời
chưa được thay đổi. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện
tượng vô tổ chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến.
Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy bén, là
những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống
dưới.
Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình
thức, bước đi, cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả
đáng cả về lý luận và thực tiễn.
4. Tư tưởng chỉ đạo
Ta đ• bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ:”Khuynh
hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,đặc biệt là những chính sách kinh tế
là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy
theo nguyện vọng chủ quan” (Đảng công sản Việt nam - Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ VI-1986). Chúng ta đ• có những thành kiến không đúng, trên
thực tế, chưa thừa nhận thật sự những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại
khách quan.
Chúng ta đ• ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà hiệu
quả kinh tế phát triển chậm. Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản xuất
nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều khó
khăn.
- Bên cạnh đó, sự tan r• của hệ thống các nước x• hội chủ nghĩa vào những
năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 làm cho chúng ta mất đi một thị trường
truyền thống, nguồn viện trợ quan trọng, gây nhiều khó khăn đối với sản xuất và
đời sống.
- Chính sách cấm vận của Hoa Kỳ kéo dài, sự thù địch của các thế lực phản
động cũng có tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế - x• hội của đất nước.
thực, tìm ra các mâu thuẫn đó và tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình đổi mới
vững chắc.
Vì trước đây, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, x• hội với nhiều khó
khăn phức tạp, gay gắt, lạm phát phi m• do tư duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý luận
và thực tiễn có khoảng cách xa. Tư duy cũ về chủ nghĩa x• hội theo mô hình tập
trung quan liêu bao cấp đ• cản trở sự phát triển của thực tiễn sản xuất. Bị chi phối
bởi quy luật mâu thuẫn khách quan nên để giải quyết mâu thuẫn đó Đảng ta đ• tiến
hành đổi mới và cải cách kinh tế.
- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất. Để
làm đủ ăn và có tích luỹ, phải ra sức phát triển sản xuất, xây dựng một cơ cấu kinh
tế hợp lý, trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế phù hợp với tính quy luật về sự
phát triển các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với sự phân công lao động và hợp
tác quốc tế. Cơ cấu kinh tế đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân đối với nhịp
độ tăng trưởng ổn định. Phải thông qua việc sắp xếp lại sản xuất, đi đôi với việc
xây dựng thêm cơ cấu kinh tế hợp lý.
- Hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất hàng
tiêu dùng, xuất khẩu.
- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Củng cố thành phần kinh tế x• hội chủ
nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh, tập thể. Bằng các biện pháp thích hợp, sử
dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác trong sự liên kết chặt chẽ và
dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế x• hội chủ nghĩa. giải pháp đó xuất phát từ
thực tế của nước ta và là sự vận dụng quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ
cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ. Thực chất của cơ chế
mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hoạch toán kinh
doanh x• hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Tiến hành phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chống tập trung
quan liêu, chống tự do vô tổ chức. Bảo đảm quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, tự
chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, quyền làm chủ của các tập thể lao động.
cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn. Tuy nhiên, lý luận không bỗng nhiên mà
có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý luận rồi mới tiến hành đổi mới.
Hơn nữa, thực tiễn lại là cơ sở để nhận thức, của lý luận. Phải qua thực tiễn rồi
mới có kinh nghiệm, mới có cơ sở đề khái quát thành lý luận.
Vì vậy, quá trình đổi mới ở nước ta chính là quá trình vừa học vừa làm, vừa
làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi quay trở
lại quá trình đổi mới. Có những điều chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải
trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm chí có nhiều điều phải chờ thực
tiễn. Ví dụ như vấn đè chống lạm phát, vấn đề khoán trong nông nghiệp, vấn đề
phân phối sản phẩm Trong quá trình đó, tất nhiên sẽ không tránh khỏi việc phải
trả giá cho những khuyết điểm, lệch lạc nhất định.
ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc sáng tạo của cán bộ và nhân dân
là rất quan trọng. Trên cơ sở, phương hướng chiến lược đúng, h•y làm rồi thực tiễn
sẽ cho ta hiểu rõ sự vật hơn nữa - đó là bài học không chỉ của sự nghiệp kháng
chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của sự nghiệp đổi mới vừa qua và hiện
nay.
Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không hề
coi nhẹ lý luận. Quá trình đổi mới là quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao
trình độ lý luận của mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về chủ
nghĩa x• hội và con đường đi lên chủ nghĩa x• hội ở nước ta. Nó được thể hiện qua
năm bước chuyển của đổi mới tư duy phù hợp với sự vận động của thực tiễn cuộc
sống trong những hoàn cảnh và điều kiện mới
1. Bước chuyển thứ nhất:
Từ tư duy, dựa trên mô hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối hoá sở hữu x•
hội (Nhà nước và tập thể) với sự phát triển vượt trước của quan hệ sản xuất đối với
sự phát triền của lực lượng sản xuất dẫn tới hậu quả kìm h•m sự phát triển sản
xuất sang tư duy mới. Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó
kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự thống nhất biện chứng với tính đa
dạng các hình thức sở hữu, đa dạng các hình thức phân phối, lấy phân phối theo
lao động làm đặc trưng chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển.