Luận văn Đề án : " Mối quan hệ giữa các khâu sản
xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng của
quá trình tái sản xuất xã hội. Thực trạng
và sự vận dụng của chúng ở nước ta "
phương pháp trìu tượng hoá khoa học, một số phương pháp cơ bản của chủ
nghĩa Mac - Lênin và các phương pháp khác.
Dù đã được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo Trần Thị Tố Linh trong
quá trình xây dựng bài viêt nhưng do trình độ của em còn nhiều hạn chế nên
không tránh khỏi thiếu sót. Em mong nhận được sự chỉ bảo của thầy cô . Em
xin chân thành cảm ơn.
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài.
I. Khái quát về tái sản xuất xã hội.
1. Tái sản xuất xã hội .
TSX xã hội là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và biến đổi không
ngừng. TSX diễn ra trong từng xí nghiệp gọi là TSX cá biệt. Tổng thể TSX cá
biệt trong mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong nền kinh tế
được gọi là TSX xã hội.
Xét về qui mô sản xuất , người ta chia nó thành hai mức độ là TSX giản
đơn và TSX mở rộng.
* TSX giản đơn là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại và phục hồi với qui
mô như cũ.Trong TSX giản đơn, phần thặng dư đem tiêu dùng hết cho cá
nhân, chưa có tích luỹ. TSX giản đơn thường gắn liền với nền sản xuất nhỏ,
năng suất thấp. Trong lịch sử, TSX giản đơn có trước.
Đề án KTCT
3
* TSX mở rộng là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại với qui mô ngày càng
lớn. Do qui mô và chất lượng của các nguồn lực sản xuất năm sau phải tăng
lên nên một phần thặng dư phải được tích luỹ để tăng nguồn lực sản xuất .TSX
mở rộng thường gắn liền với nền sản xuất lớn, năng suất cao. Cùng với quá
2.3. Trao đổi.
Trao đổi sản phẩm là một khâu trung gian giữa một bên là sản xuất và
phân phối với một bên là tiêu dùng. Sự trao đổi này là sự tiếp tục của khâu
phân phối, là sự phân phối lại cái đã phân phối, làm cho sự phân phối được cụ
thể hoá, thích hợp với mọi nhu cầu của các tầng lớp dân cư. Trao đổi giúp
người dân được lựa chọn, sử dụng những sản phẩm thoả mãn nhu cầu của họ.
2.4. Tiêu dùng.
Tiêu dùng là khâu cuối của quá trình. Suy cho cùng thì sản xuất, phân
phối, trao đổi cũng chỉ nhằm mục đích cuối cùng là phục vụ cho tiêu dùng.
Tiêu dùng là việc sử dụng những cơ sở vật chất được tạo ra trong quá trình sản
xuất, là một trong những lĩnh vực hết sức quan trọng của các quan hệ kinh tế,
một khâu của quá trình tái sản xuất xã hội. Có hai loại tiêu dùng :
+ Tiêu dùng sản xuất là việc sử dụng máy móc, dụng cụ, nguyên nhiên vật liệu
và các tư liệu sản xuất khác để sử dụng cho quá trình sản xuất.
+ Tiêu dùng cá nhân là việc con người sử dụng của cải vật chất khác nhau như
lương thực, quần áo,… cho chính bản thân người lao động.
Sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu dùng là các khâu cơ bản của quá
trình tái sản xuất. Các khâu này đều có ý nghĩa, nhiệm vụ quan trọng đối với
Đề án KTCT
5
quá trình tái sản xuất, về cơ bản có tính độc lập tương đối với nhau nhưng có
mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau tạo thành một chỉnh thể
thống nhất.
3. Mối quan hệ giữa các khâu sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng trong
quá trình tái sản xuất xã hội.
Sản xuất là khâu mở đầu của quá trình tái sản xuất xã hội. Sản xuất có
vai trò quyết định với các khâu khác vì sản xuất tạo ra sản phẩm để từ đó mới
diễn ra các hoạt động phân phối, trao đổi và tiêu dùng. Tuy nhiên đó không
phải là sự tác động một chiều bởi vì nếu không có các khâu phân phối và trao
dùng, vừa có tính độc lập tương đối với sản xuất, vừa có tính độc lập tương đối
với nhau. Trao đổi là sự tiếp tục của khâu phân phối, là sự phân phối cái đã
được phân phối, làm cho sự phân phối được cụ thể hoá, thích hợp với mọi nhu
cầu của các tầng lớp dân cư và trong ngành sản xuất.
Có thể hiểu đơn giản là sau khi sản phẩm được sản xuất ra thì các doanh
nghiệp dùng các kênh phân phối của mình để phân phối sản phẩm theo kế
hoạch ( theo hai dạng phân phối là phân phối cho sản xuất và phân phối cho
tiêu dùng ) đến các đơn vị sản xuất khác hoặc đến các hệ thống bán lẻ, các cửa
hàng, các siêu thị, …( hoặc có một phần nhỏ đến trực tiếp với người tiêu dùng
) . Sau đó, nhờ việc trao đổi đã đem lại sản phẩm cho cá nhân một cách trực
tiếp và phù hợp với sở thích, nhu cầu của mình.
Chức năng của trao đổi chính là dựa trên cơ sở sản xuất và phân phối và
đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng.
3.3. Mối quan hệ giữa các khâu phân phối, trao đổi và sản xuất.
Đề án KTCT
7
Trong mỗi chu kỳ của quá trình tái sản xuất, phân phối và trao đổi là
những khâu trung gian nối sản xuất với tiêu dùng.Tính chất và nguyên tắc của
quan hệ phân phối do tính chất của nền sản xuất và quan hệ sở hữu tư liệu sản
xuất quyết định.Tuy nhiên, phân phối sẽ có tác động trở lại đối với sản xuất
một cách tích cực nếu phân phối công bằng, ngược lại thì phân phối sẽ gây trở
ngại cho quá trình sản xuất nếu phân phối bất hợp lý.Trao đổi cũng do sản xuất
qui định, nếu trong lưu thông quá trình trao đổi bị cản trở sẽ làm cho sản xuất
bị ngừng trệ, sản phẩm không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng.
Sản xuất giữ vai trò quyết định đối với tiêu dùng. Qui mô cơ cấu sản
phẩm do sản xuất tạo ra quyết định qui mô cơ cấu tiêu dùng, chất lượng và tính
chất của sản phẩm quyết định chất lượng và phương thức tiêu dùng. Sản xuất
lại quyết định phân phối về các mặt : số lượng và chất lượng sản phẩm, đối
tượng phân phối; qui mô và cơ cấu của sản xuất quyết định qui mô và cơ cấu
lựa chọn phát triển theo con đường kế hoạch hoá tập trung, tất cả các khâu của
quá trình tái sản xuất từ sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều do nhà
nước chi phối.
1. Sản xuất.
Trong giai đoạn này thì vấn đề sản xuất cái gì ? sản xuất như thế nào?
khối lượng bao nhiêu ? mẫu mã ra sao? … tất cả các doanh nghiệp phải sản
xuất theo kế hoạch của nhà nước. Trong thị trường không có sự cạnh tranh, do
đó hàng hoá không được chú trọng nâng cao chất lượng cũng như mẫu
mã,…Chính quyết định này của nhà nước đã vô hình đánh mất động lực phát
Đề án KTCT
9
triển của nền kinh tế. Và kết quả là chúng ta chỉ có một nền kinh tế sản xuất
nhỏ lẻ, thủ công, lạc hậu, lực lượng sản xuất kém phát triển,
Sản xuất là khâu quyết định đến tất cả các khâu còn lại của quá trình tái
sản xuất, do đó trong giai đoạn này các khâu phân phối, trao đổi, tiêu dùng
cung không phát triển, tất cả đều chịu sự chi phối của nhà nước theo cơ chế “
kế hoạch hoá tập trung “.
2. Phân phối và trao đổi.
Trong thời kỳ này việc mua bán hàng hoá theo cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp, phân phối theo chế độ tem phiếu . Trao đổi và lưu thông hàng hoá
bị hạn chế giao lưu buôn bán, thực hiện biện pháp “ ngăn sông cấm chợ”. Cho
nên tổng mức lưu chuyển hàng hoá trong nước chủ yếu do nhà nước kiểm soát
thông qua các thương nghiệp quốc doanh.
Thương nghiệp là hình thức là hình thức phát triển của trao đổi , trao đổi
thông qua mua bán hàng hoá thông qua công thức T - H – T. Thương nghiệp
là ngành kinh tế không trực tiếp tạo ra của cải vật chất , nhưng lại phục vụ cho
quá trình sản xuất. Ở nước ta giai đoạn đó các thương nghiệp quốc doanh có
vai trò rất lớn trong việc tái sản xuất liên tục , ổn định sức mua của đồng tiền
và tăng nhanh tốc độ chu chuyển tiền tệ. Nhưng các thương nghiệp quốc doanh
Đây là thời kỳ nước ta đã mở cửa kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp mở rộng sản xuất về cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Các doanh nghiệp
quốc doanh trước kia được nhà nước bảo hộ một cách tuyệt đối và chỉ sản xuất
theo đơn đặt hàng của nhà nước mà không phải lo lắng vấn đề đầu ra. Thì hiện
nay, chính phủ thực hiện chính sách cổ phần hoá dần dần các công ty nhà nước
Đề án KTCT
11
để tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập. Các
doanh nghiệp không chỉ đơn thuần chỉ tạo ra sản phẩm mà còn phải cùng lúc
thực hiện các khâu quan trọng khác như phân phối, sản xuất, trao đổi và tiêu
dùng.
Sản xuất là khâu đầu tiên của quá trình tái sản xuất, là khâu hết sức quan
trọng quyết định đến việc lưu thông và tiêu dùng sản phẩm. Mục tiêu của các
doanh nghiệp là lợi nhuận, muốn có lợi nhuận thì các doanh nghiệp phải tạo ra
sản phẩm và bán sản phẩm đó. Hiện nay, khi nhu cầu tiêu dùng của khách
hàng không chỉ đơn thuần là “ đủ “ mà còn là mẫu mã đẹp, đa chức
năng,…Không những thế, khi mà toàn cầu hoá và khu vực hoá đang đến rất
gần thì sự lựa chọn sản phẩm để tiêu dùng của khách hàng càng lớn, và đương
nhiên tiêu chí để khách hàng lựa chọn sản phẩm sẽ khắt khe hơn. Lúc này , để
tồn tại được trên thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhanh nhạy tìm hiểu
và đưa ra sản phẩm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Mặc dù đã có rất nhiều đổi mới trong cách quản lý doanh nghiệp nhưng
thực tế là các doanh nghiệp Việt Nam hiên nay rất khó khăn trong việc cạnh
tranh với các doanh nghiệp nước ngoài ngay chính trên lãnh thổ của mình.
Đơn giản là vì sản phẩm của đa số các doanh nghiệp Việt Nam không đáp ứng
được tốt nhu cầu tiêu dùng của khách hàng, mẫu mã đơn giản, chất lượng
không phù hợp, giá bán lại quá cao, không thể cạnh tranh được với hàng giá rẻ
ở Trung Quốc hay hàng có chất lượng cao như Nhật, Trong khi đó, sản phẩm
của nước ngoại lại rẻ, đa chủng loại và lại có nhiều tính năng, công dụng. Tuy
trọng và cần được các doanh nghiệp VN chú ý hơn trong tiến trình hội nhập .
Đề án KTCT
13
3. Tiêu dùng.
Tiêu dùng là khâu cuối cùng của quá trình tái sản xuất, là “ đơn đặt
hàng” của sản xuất, vì vậy tiêu dùng quyết định trực tiếp đến quá trình sản
xuất. Ngày nay, khi đời sống của con người được nâng cao thì mức độ tiêu
dùng của người dân cũng được mở rộng, người tiêu dùng được lựa chọn và sử
dụng hàng hoá theo sở thích của mình.
4. Mối quan hệ giữa các khâu trong thời kỳ này.
Một thực tế cho thấy là trong thời kỳ này các doanh nghiệp đã nhận thức
rõ hơn về mối quan hệ giữa các khâu sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng
hơn trước. Khi mà quá trình khu vực hoá, toàn cầu hoá đang diễn ra trên phạm
vi toàn thế giới thì đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phải tự đứng trên đôi
chân của mình mà không thể trông chờ vào sự bảo hộ của nhà nước như trước
kia. Tái sản xuất là quá trình diễn ra một cách liên tục và luôn luôn có xu
hướng mở rộng hơn và kéo theo những cơ hội cũng như thách thức cho các
doanh nghiệp Việt Nam.
Hiện nay, các doanh nghiệp Việt Nam chưa thể sản xuất ra được những
mặt hàng có lợi thế cạnh tranh tuyệt đối về chất lượng ( như Nhật Bản ), cạnh
tranh về giá cả ( như Trung Quốc ), nhưng các doanh nghiệp Việt Nam cũng
có những lợi thế tương đối nhất định mà nếu biết tận dụng tốt sẽ giúp các
doanh nghiệp VN tạo ra được sản phẩm có sức cạnh tranh hơn trên thị trường.
Sản xuất sản phẩm ra thì phải tìm cách phân phối chúng một cách hợp lý
mà thực tế ở VN hiện nay đã được các doanh nghiệp chú ý hơn như việc các
doanh nghiệp đã chú ý việc sử dụng các kênh phân phối , phân phối sẽ tác
động một cách tích cực sản xuất nếu phân phối công bằng, hợp lý và ngược lại.
Đề án KTCT
tiết kiệm, thoả mãn với mong muốn của người tiêu dùng.
Như vậy, cả 4 khâu của quá trinh tái sản xuất xã hội đều rất quan trọng
và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Trog quá trình hoạt động của mình, các
doanh nghiệp cần biết cách kết hợp các khâu trên một cách hợp lý nhất để tạo
hiêu quả tốt nhất cho doanh nghiệp. Danh sách tài liệu tham khảo :
1. Giáo trình kinh tế chính trị Mác-Lênin. Nhà xuất bản chính trị quốc gia.
Hà Nội 2002.
2. Việt Nam quá độ sang nền kinh tế thị trường. Tài liệu của ngân hàng thế
giới. Báo cáo kinh tế 15/9/1993.
3. Tạp chí nghiên cứu kinh tế.
4. Thời báo kinh tế Việt Nam.
5. Báo kinh tế Sài Gòn.
………………………….
Đề án KTCT
16