QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Quản Lý Nhà Nước Về thị trường chứng khoán
1
Ngô Văn Thắng KH5B
1
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
MỤC LỤC
ỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay, thời đại của chúng ta là thời đại mang xu hướng toàn cầu hoá và
khu vực hoá. Hoà nhập với không khí này, Việt nam vừa gia nhập và là thành
viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Khi được trở thành viên của tổ chức
thương mại thế giới thì đồng nghĩa Việt Nam cũng gặp nhiều khó khăn và đồng
thời cũng gặt hái được nhiều thành công. Để thu được kết quả tốt từ quá trình
hội nhập chúng ta phải đánh giá, nhận định về cơ hội cũng như là thách thức
đang đặt ra, chúng ta phải biết đâu là thế mạnh mình phải phát huy và đâu là
điểm yếu cần phải khắc phục. Và đặc biệt hơn nữa chúng ta phải nhận định được
xu hướng đi chung của Thế giới, những yếu tố nào các nước đang chú trọng.
Chính vì điều đó, mà em thấy rằng thị trường chứng khoán trên thế giới
hiện nay là một trường nóng bỏng và có nhiều triển vọng đi lên. Nó không chỉ là
một kênh huy động vốn có hiệu quả cho hoạt động đầu tư trong nền kinh tế mà
còn là nhân tố thúc đẩy hoạt động của nền kinh tế diễn ra suôn xẻ hơn. Cho nên
em chọn đề tài luận văn là “QLNN Về thị trường chứng khoán”.
Đối tượng của đề tài
Vai trò của Nhà nước trong quản lý các hoạt động của TTCK Việt Nam.
Vai trò này được biều hiện qua các hoạt động cụ thể của Nhà nước trong quản lý
các hoạt động của TTCK
Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hoá và làm rõ một số một số nội dung cơ bản về TTCK, và
QLNN đối với TTCK.
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động QLNN đối với TTCK Việt Nam
trong thời gian qua, từ đó chỉ ra các kết quả đạt được và hạn chế.
sở hữu hoặc quyền đòi nợ hợp pháp, bao gồm các điều kiện về thu nhập và tài
sản trong một thời hạn nào đó.
Thuật ngữ “giấy tờ có giá” có nghĩa rộng hơn là thuật ngữ “ chứng
khoán”. Theo Luật chứng khoán được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2007
của Việt Nam, chứng khoán được định nghĩa như sau: “Chứng khoán là chứng
chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền và lợi ích hợp pháp của người sở
hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành”.
Chứng khoán là một tài sản tài chính và nó có các đặc điểm sau:
• Tính thanh khoản: Tính thanh khoản của tài sản là khả năng chuyển tài sản đó
thành tiền mặt. Khả năng này cao hay thấp phụ thuộc vào cung cầu vốn; thời
gian, chi phí cần thiết cho việc chuyển đổi.
• Tính rủi ro: Chứng khoán là tài sản tài chính mà giá trị của nó chịu tác động lớn
của rủi ro, bao gồm rủi ro có hệ thống và rủi ro không có hệ thống. Rủi ro có hệ
thống hay rủi ro thị trường là loại rủi ro tác động tới toàn bộ hoặc hầu hết các tài
sản. Loại rủi ro này chịu tác động của các điều kiện kinh tế chung của nền kinh
tế như: lạm phát, sự thay đổi tỷ giá hối đoái, lãi suất Rủi ro không có hệ thống
là loại rủi ro chỉ tác động đến một tài sản hay một nhóm nhỏ các tài sản. Loại rủi
ro này thường liên quan tới điều kiện của nhà phát hành.
• Tính sinh lợi: Chứng khoán là một tài sản tài chính mà khi sở hữu nó, nhà đầu tư
có thể nhận được một thu nhập lớn hơn trong tương lai. Thu nhập này được bảo
đảm bằng lợi tức được phân chia hàng năm và việc tăng giá chứng khoán trên
thị trường.
4
Ngô Văn Thắng KH5B
4
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
2. Phân loại chứng khoán
Tuỳ theo cách chọn tiêu thức, người ta có thể phân loại chứng khoán
thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên ở đây, chứng khoán được chia thành ba
tiêu thức chủ yếu, đó là theo tính chất của chứng khoán, theo khả năng chuyển
khoán và có quan hệ chặt chẽ với các chứng khoán gốc. Các chứng khoán phái
sinh được hình thành do nhu cầu giao dịch của người mua và người bán và phát
triển phụ thuộc vào mức độ phát triển của thị trường chứng khoán. Có thể phân
loại chứng khoán phái sinh thành các loại như sau:
• Quyền mua trước
Quyền mua trước hay là đặc quyền mua là một quyền ưu đãi được gắn
với một cổ phiếu đang lưu hành, do công ty phát hành ra cổ phiếu đó để huy
động thêm vốn cổ phần, quyền mua trước cho phép người sở hữu những cổ phần
đang lưu hành được mua một số nhất định cổ phiếu trong đợt phát hành mới của
công ty, tại một mức giá xác định thấp hơn mức giá chào bán ra công chúng
trong một thời hạn nhất định.
• Chứng kế (bảo chứng phiếu)
Chứng kế hay còn gọi là bảo chứng phiếu (cam kết bán) là một loại
chứng khoán được phát hành cùng với trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi mà người
sở hữu nó có quyền được mua một số lượng chứng khoán nhất định tại một mức
giá xác định và trong một thời hạn nhất định.
• Hợp đồng kỳ hạn
Hợp đồng kỳ hạn là một thoả thuận giữa người mua và người bán thực
hiện một giao dịch hàng hoá ở một thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức
giá và khối lượng xác định.
• Hợp đồng tương lai
Hợp đồng tương lai là một thoả thuận để mua hoặc bán một tài sản vào
thời điểm chắc chắn trong tương lai với mức giá xác định.
• Quyền chọn
Hợp đồng quyền chọn là một hợp đồng cho phép người nắm giữ được
mua (nếu là quyền chọn mua) hoặc được bán (nếu là quyền chọn bán) một khối
6
Ngô Văn Thắng KH5B
6
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
7
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Các chứng khoán có hình thức này là những chứng khoán vừa mang tính
chất của chứng khoán có thu nhập cố định, vừa mang tính chất của chứng khoán
có thu nhập biến đổi. Ví dụ, có cổ phiếu ưu đãi có quyền được hưởng một mức
lãi suất cố định hàng năm, đồng thời lại được hưởng thêm lợi tức được chia từ
kết quả hoạt động kinh doanh của công ty phát hành. Việc phát hành loại chứng
khoán này nhằm để thích ứng với nhu cầu đặc biệt của thị trường vốn.
3.Cổ phiếu
Cổ phiếu là một loại chứng khoán phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc
bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ
phiếu đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành.
Cổ phiếu là loại chứng khoà nó có những tính chất sau:
- Xác nhận việc đầu tư vốn vào tổ chức phát hành ra cổ phiếu
- Không có kỳ hạn, cổ phiếu tồn tại cùng với sự tồn tại của tổ chức phát
hành ra nó
- Có thể được phát hành khi thành lập tổ chức hoặc khi tăng vốn
- Người sở hữu cổ phiếu sở hữu một phần vốn/tài sản của tổ chức phát
hành và chịu trách nhiệm hữu hạn về tình hình hoạt động của tổ chức
đó
- Cổ phiếu có thể được chuyển nhượng
Căn cứ vào quyền lợi của người sở hữu cổ phiếu thì cổ phiếu có những
loại như sau:
- Cổ phiếu phổ thông: lợi tức phụ thuộc vào tình hình hoạt động kinh
doanh của tổ chức phát hành. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông và có quyền bỏ
phiếu bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, các quyết định lớn trong hoạt
động kinh doanh của công ty theo chế độ Đại hội cổ đông.
- Cổ phiếu ưu đãi: cổ phiếu có những đặc quyền nhất định, chẳng hạn như
được hưởng lãi cố định, được ưu tiên chia lãi trước, được ưu tiên trong bỏ
8
9
Ngô Văn Thắng KH5B
9
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Thị trường chứng khoán được quan niệm là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch
mua bán chứng khoán trung và dài hạn như trái phiếu chính phủ, cổ phiếu và trái
phiếu công ty. Các công cụ tài chính ngắn hạn được giao dịch trên thị trường
tiền tệ, không thuộc phạm vi hoạt động của TTCK.
2. Vị trí và cấu trúc của thị trường chứng khoán
2.1. Vị trí của TTCK trong thị trường tài chính
Thị trường chứng khoán là một bộ phận của thị trường tài chính. Vị trí
của thị trường chứng khoán trong tổng thể thị trường tài chính được thể hiện như
sau:
- Thị trường tài chính: Là nơi diễn ra sự chuyển vốn từ những người dư
thừa vốn tới những người thiếu vốn.
- Thị trường tiền tệ: là thị trường phát hành và mua bán lại các công cụ
tài chính ngắn hạn, thông thường dưới 1 năm như tín phiếu kho bạc, khoản vay
ngắn hạn giữa các ngân hàng, thoả thuận mua lại, chứng chỉ tiền gửi, thương
phiếu, …
10
Ngô Văn Thắng KH5B
Thị trường tài
chính
Thị trường
tiền tệ
Thị trường
vốn
Thị
trường
hối đoái
- Thị trường hối đoái : là nơi giao dịch các công cụ tài chính tương đối
ngắn hạn, nhưng chúng được định giá bằng các loại đồng tiền khác nhau, và ở
thị trường hối đoái cũng chỉ có các giao dịch giữa các đồng tiền khác nhau mới
được thực hiện.
- Thị trường bảo hiểm: Bảo hiểm là hoạt động tài chính dưới hình thức
tổ chức kinh doanh, bằng cách thu phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiềm để
bồi thường cho những rủi ro bất ngờ gây ra tổn thất của người tham gia bảo
hiểm nhằm duy trì tái sản xuất và đời sống cho con người. Theo em thì thị
trường bảo hiểm là nơi diễm ra các giao dịch giữa đối tượng cần được bảo hiểm
và các cơ quan tiến hành bảo hiểm.
- Mối quan hệ : Giữa bốn thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường hối
đoái, thị trường bảo hiểm đều nằm trong thị trường tài chính. Chúng có mối
quan hệ mật thiết và tác động qua lại lẫn nhau.
2.2. Cấu trúc của thị trường chứng khoán
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, cấu trúc của thị trường chứng khoán có
thể phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, thông thường, ta có thể
xem xét 3 cách thức cơ bản là theo hàng hoá giao dịch trên thị trường, theo hình
thức tổ chức thị trường và theo quá trình luân chuyển vốn. Các phân tích sau đây
sẽ thể hiện từng cách thức phân loại đó.
a. Theo hàng hoá giao dịch trên thị trường
Theo các loại hàng hoá được mua bán trên thị trường, người ta có thể
phân chia thị trường chứng khoán thành thị trường trái phiếu, thị trường cổ
phiếu và thị trường dẫn suất (thị trường các công cụ phái sinh).
11
Ngô Văn Thắng KH5B
11
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
• Thị trường trái phiếu là thị trường mà hàng hoá được mua bán tại đó là
các trái phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, mà thực chất của việc phát hành công
cụ này là phát hành đứng ra đi vay theo phương thức có hoàn trả cả gốc và lãi.
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
cho các nhà phát hành trong việc huy động và sử dụng vốn. Việc tăng tính lỏng
của tài sản sẽ tạo điều kiện tách biệt giữa sở hữu và quản lý, làm cơ sở cho việc
tăng hiệu quả quản lý của doanh nghiệp.
Việc tăng tính lỏng cho các chứng khoán tạo điều kiện cho việc chuyển
đổi thời hạn của vốn, từ vốn ngắn hạn sang trung hạn và dài hạn. Đồng thời, tạo
điều kiện cho việc phân phối một cách có hiệu quả. Sự di chuyển vốn đầu tư
trong nền kinh tế được thực hiện thông qua cơ chế “bàn tay vô hình”, cơ chế xác
định giá chứng khoán và thông qua hoạt động thâu tóm, sáp nhập doanh nghiệp
trên thị trường thứ cấp.
- Thị trường thứ cấp xác định giá của chứng khoán đã được phát hành trên
thị trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công
ty.
- Thông qua việc định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi
phí vốn tương ứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư,
tạo cơ sở tham chiếu cho nhà phát hành cũng như các nhà đầu tư trên thị trường
sơ cấp. Thông qua cơ chế bàn tay vô hình, vốn sẽ được chuyển đến công ty nào
làm ăn có hiệu quả nhất, qua đó làm tăng hiệu quả kinh tế xã hội.
Tóm lại, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có quan hệ mật thiết, hỗ
trợ lẫn nhau. Về bản chất, mối quan hệ giữa thị trường chứng khoán sơ cấp và
thứ cấp là mối quan hệ nội tại, biện chứng. Nếu không có thị trường sơ cấp sẽ
không có thị trường thứ cấp, đồng thời, thị trường thứ cấp lại tạo điều kiện phát
triển cho thị trường sơ cấp.
c. Theo hình thức tổ chức của thị trường
Thị trường chứng khoán có thể được tổ chức theo hai cách sau:
• Thị trường giao dịch tập trung, thị trường được tổ chức thành sở giao dịch, tại
đây, người mua và người bán( hoặc đại lý, môi giới của họ) gặp nhau tại một địa
điểm nhất định để tiến hành giao dịch mua bán, trao đổi chứng khoán. Chính vì
vậy, người ta còn gọi sở giao dịch chứng khoán là sở giao dịch tập trung, nơi
giao dịch mua bán, trao đổi các chứng khoán của các công ty lớn, hoạt động có
Chủ thể đầu tư là những người có tiền, thực hiện việc mua và bán chứng
khoán trên thị trường chứng khoán để tìm kiếm lợi nhuận. Nhà đầu tư có thể
được chia thành hai loại: nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức.
- Các nhà đầu tư cá nhân
14
Ngô Văn Thắng KH5B
14
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhà đầu tư cá nhân là các cá nhân và hộ gia đình, những người có vốn
nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích
tìm kiếm lợi nhuận.
- Các nhà đầu tư có tổ chức
Nhà đầu tư có tổ chức là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán
chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường. Một số nhà đầu tư chuyên nghiệp
chính trên thị trường chứng khoán là các ngân hàng thương mại, công ty chứng
khoán, công ty đầu tư, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, các quỹ lương hưu
và các quỹ bảo hiểm xã hội khác. Đầu tư thông qua các tổ chức đầu tư có ưu
điểm là đa dạng hoá danh mục đầu tư và các quyết định đầu tư được thực hiện
bởi các chuyên gia có chuyên môn và có kinh nghiệm.
2.3.3. Các tổ chức liên quan đến thị trường chứng khoán
a. Cơ quan quản lý và giám sát hoạt động TTCK
Cơ quan quản lý Nhà nước về TTCK do chính phủ của các nước thành
lập với mục đích bảo vệ lợi ích của người đầu tư và đảm bảo cho thị trường
chứng khoán hoạt động lành mạnh, an toàn và phát triển bền vững.
Cơ quan quản lý nhà nước về thị trường chứng khoán có thể có những
tên gọi khác nhau, tuỳ thuộc từng nước và nó được thành lập để thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán.
b. Sở giao dịch chứng khoán
Sở giao dịch chứng khoán thực hiện vận hành thị trường chứng khoán
thông qua bộ máy tổ chức và hệ thống các quy định, văn bản pháp luật về giao
chứng. Các tổ chức hỗ trợ chứng khoán ở các nước khác nhau có đặc điểm khác
nhau, có một số nước không cho phép thành lập các tổ chức này.
f. Các công ty đánh giá hệ số tín nhiệm
Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm là công ty chuyên cung cấp dịch vụ
đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và tiềm
lực tài chính của tổ chức phát hành theo những điều khoản đã cam kết của tổ
16
Ngô Văn Thắng KH5B
16
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
chức phát hành cụ thể. Hệ số tín nhiệm có thể biểu hiện bằng các chữ cái hay
chữ số, tuỳ theo quy định của từng công ty xếp hạng.
2.4. Vai trò của thị trường chứng khoán
Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực với sự ra đời của tổ chức
Thương mại thế giới (WTO), của liên minh Châu Âu, của các khối thị trường
chung, đòi hỏi các quốc gia phải thúc đẩy phát triển kinh tế với tốc độ và hiệu
quả cao. Thực tế phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã khẳng định vai
trò quan trọng của thị trường chứng khoán trong phát triển kinh tế:
Thứ nhất, thị trường chứng khoán, với việc tạo ra các công cụ tài chính
có tính thanh khoản cao, có thể tích tụ, tập trung và phân phối vốn, chuyển thời
hạn của vốn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế.
Yếu tố thông tin và yếu tố cạnh tranh trên thị trường sẽ đảm bảo cho việc
phân phối vốn một cách có hiệu quả. Thị trường tài chính là nơi tiên phong áp
dụng công nghệ mới và nhạy cảm với môi trường thường xuyên thay đổi. Thực
tế trên thị trường chứng khoán, tất cả các thông tin được cập nhật và được
chuyển tải tởi tất cả các nhà đầu tư, nhờ đó, họ có thể phân tích và định giá cho
các chứng khoán. Chỉ những công ty có hiệu quả và bền vững mới có thể nhận
được vốn với chi phí rẻ trên thị trường.
Thị trường chứng khoán tạo ra một sự cạnh tranh có hiệu quả trên thị
trường tài chính, điều này buộc các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài
quốc tế. Điều này cho phép các các công ty có thể huy động nguồn vốn rẻ hơn,
tăng cường đầu tư nguồn tiết kiệm bên ngoài, đồng tăng cường khả năng cạnh
tranh quốc tế và mở rộng các cơ hội kinh doanh của các công ty trong nước.
Hàn Quốc, Singapore, Thailand, Malaysia là những minh chứng điển
hình về việc tận dụng các cơ hội do thị trường chứng khoán mang lại. Tuy
nhiên, chúng ta cũng phải xem xét các tác động tiêu cực có thể xảy ra như việc
tăng cung tiền quá mức, áp lực của lạm phát, vấn đề chảy máu vốn, hoặc sự
thâu tóm của người nước ngoài trên thị trường chứng khoán.
Thứ năm, thị trường chứng khoán tạo cơ hội cho chính phủ huy động
các nguồn tài chính mà không tạo áp lực về lạm phát, đồng thời tạo các công cụ
cho việc thực hiện chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
Thứ sáu, thị trường chứng khoán cung cấp một dự báo tuyệt vời về các
chu kỳ kinh doanh trong tương lai. Việc thay đổi giá chứng khoán có xu hướng
đi trước chu kỳ kinh doanh cho phép chính phủ cũng như các công ty đánh giá
18
Ngô Văn Thắng KH5B
18
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
kế hoạch đầu tư cũng như việc phân bổ các nguồn lực của họ. Thị trường chứng
khoán cũng tạo điều kiện tái cấu trúc nền kinh tế.
Ngoài những tác động tích cực trên đây, thị trường chứng khoán cũng có
những tác động tiêu cực nhất định. Thị trường chứng khoán hoạt động trên cơ sở
thông tin hoàn hảo. Song ở các thị trường mới nổi, thông tin được chuyển đổi tới
các nhà đầu tư không đầy đủ và không giống nhau. Việc quyết định giá cả, mua
bán chứng khoán của các nhà đầu tư không dựa trên cơ sở thông tin và xử lý
thông tin. Như vậy giá cả chứng khoán không phản ánh giá trị kinh tế cơ bản của
công ty và không trở thành cơ sở để phân phối một cách có hiệu quả các nguồn
lực .
Một số tiêu thức khác của thị trường chứng khoán như hiện tượng đầu cơ,
hiện tượng xung đột quyền lực làm thiệt hại quyền lợi của các cổ đông thiểu số,
“Quản lý Nhà nước đối với TTCK của một quốc gia là sự quản lý vĩ mô
của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng, vận hành và phát triển của
TTCK”.
Quá trình hình thành và mức độ phát triển phức tạp, đa dạng của TTCK và
điều kiện cụ thể của mỗi nước dẫn đến sự đa dạng trong cơ chế và mức độ quản
lý thị trường. Trong khi hầu hết các TTCK ở các nước phát triển được hình
thành từ khu vực tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, do các cá
nhân đứng ra tổ chức, vận hành và tự quản thì ngược lại, ở các nước đang phát
triển TTCK thường do Chính phủ đứng ra thành lập với những mục đích cụ thể
như hỗ trợ huy động vốn, tư nhân hoá hay thực hiện các mục tiêu kinh tế khác
của Nhà nước. Do vậy Chính phủ đóng vai trò chính trong việc tổ chức và quản
lý thị trường.
2. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với TTCK
2.1.Đảm bảo sự trung thực của thị trường
Đặc tính của khu vực chứng khoán là rủi ro hệ thống, một biến cố nhỏ
cũng gây ra sự bất ổn cho nền kinh tế. Vì vậy, trong quản lý nhà nước, việc bảo
đảm tính trung thực, cạnh tranh lành mạnh của TTCK là mục tiêu quan trọng.
20
Ngô Văn Thắng KH5B
20
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
Một số hoạt động cần thiết nhằm giảm tối thiểu rủi ro hệ thống và khuyến khích
tham gia thị trường như:
+ Các biện pháp an toàn để đảm bảo khả năng thanh toán của một định
chế tài chính, từ đó duy trì lòng tin vào hệ thống tài chính nói chung và bảo vệ
những tiết kiệm cá nhân.
+ Khuyến khích các hệ thống thanh toán hiệu quả và ổn định, có thể
giảm việc tích tụ rủi ro cùng loại, tăng cường khả năng quản lý rủi ro của các
chế định chế tài chính riêng lẻ và ngăn chặn các ảnh hưởng dây chuyền cũng
như các vụ khủng hoảng tài chính.
do quản lý kém. Việc quản lý thái quá hoặc không đầy đủ có thể dẫn đến làm
tăng chi phí, làm giảm hiệu quả quản lý thị trường.
3. Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với TTCK
Quản lý là một hình thức đặc biệt của hoạt động điều hành, là sản phẩm
của tiến trình phân công lao động và chuyên môn hoá việc quản lý. ở hầu hết các
nước đang phát triển, các chủ thể quản lý thị trường chứng khoán có hai chức
năng chính: duy trì sự hoạt động ổn định của thị trường; tạo điều kiện để phát
triển thị trường, làm cho thị trường có thể cạnh tranh và thích ứng với mọi thay
đổi trong xã hội.
Với chức năng ổn định thị trường tức là phải tạo lập một thị trường có kỷ
luật, an toàn, trật tự, ít rủi ro thì các nhà quản lý phải xác định được nên cho
phép đối tượng nào tham gia thị trường, tiêu chuẩn tham gia gồm những yếu tố
gì, xác định phải quản lý cái gì và giám sát cái gì. Với chức năng phát triển thì
các nhà quản lý phải tạo động lực thúc đẩy thị trường. Các chức năng này được
sử dụng vào hoàn cảnh khác nhau, tuy nhiên trong hoạt động quản lý Nhà nước
thì các chức năng này thường được áp dụng một cách đồng bộ.
Hoạt động quản lý nhà nước đối với TTCK được cụ thể hoá ở một số nhiệm
vụ sau:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TTCK; xây dựng chiến lược,
chính sách, kế hoạch hoạt động và phát triển TTCK với từng bước đi cụ thế và
thích hợp với điều kiện văn hoá, kinh tế, chính trị, xã hội, dân trí và các điều
kiện khác.
22
Ngô Văn Thắng KH5B
22
QLNN về thị trường chứng khoán Việt Nam
- Cấp, gia hạn, đìng chỉ, thu hồi các loại giấy phép liên quan đến việc phát
hành, niêm yết, kinh doanh và dịch cụ chứng khoán và thu lện phí cấp giấy phép
theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức và quản lý TTGDCK có tổ chức và các tổ chức trung gian, tổ chức
sự điều chỉnh mức độ dân chủ tuỳ theo sự phát triển của thị trường với sự tập
trung quyền lực quản lý nhất định.
4.3. Nguyên tắc kết hợp giữa các lợi ích kinh tế
Trên thực tế luôn có lơi ích khác nhau giữa chủ thể và khách thể quản lý, có
sự mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích toàn xã hội. Vai trò
của công tác quản lý lúc này là phải tìm cách kết hợp, thoả mãn các lợi ích theo
đúng nhu cầu, đảm bảo cho các lợi ích không đối lập nhau, hỗ trợ thúc đẩy nhau
phát triển. Vấn đề này đòi hỏi công tác quản lý phải chú trọng tới từng loại lợi
ích trong từng mặt hoạt động như đầu tư, huy động vốn, phân chia lợi nhuận,
ban hành các quy định về thuế,…
4.4. Nguyên tắc hiệu quả
Tiết kiệm là hạn chế chi phí đến mức tối thiểu mà vẫn đem lại hiệu quả tối
đa. Tiết kiệm là nhằm để giảm thiểu chi phí nhưng chỉ có ý nghĩa khi thực hiện
nó mang tính hiệu quả. Hiệu quả là kết quả cuối cùng của hoạt động được đo
bằng giá trị, vật phẩm, thời gian tác động,…Tiết kiệm và hiệu quả luôn đi với
nhau và nó là thước đo để đánh giá kết quả cuối cùng của quản lý.
TTCK là mô hình tiêu biểu nhất về tính hiệu quả vì bản thân TTCK đã mang
trong nó tính tiết kiệm chi phí và nhằm tới hiệu quả kinh tế cao nhất vì đây là
môi trường thuận lợi nhất cho các nguồn vốn từ các nhà đầu tư được trực tiếp
đưa đến nơi cần vốn. Quá trình đầu tư thông qua TTCK được thực hiện với chi
phí thấp nhưng mang lại hiệu quả cao. Vì vậy, đảm bảo nguyên tắc này trong
TTCK tức là đảm bảo cho TTCK được hoạt động tự nhiên và phát huy những
chức năng vốn có của nó. Nguyên tắc này được coi là tiêu chí áp dụng cho bất kì
chính sách nào bởi mỗi chính sách đem lại lợi ích cũng kèm theo đó là chi phí.
Nếu chi phí lớn hơn lợi ích đem lại thì việc áp dụng các chính sách đó là không
có tác dụng.
5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động QLNN đối với TTCK
Hoạt động QLNN đối với TTCK chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau,
bao gồm:
24
mạnh mẽ trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, trong đó có TTCK. Việc
mở cửa TTCK hội nhập quốc tế sẽ đem lại những lợi ích thiết thực cho một quốc
gia, song cũng nảy sinh những rủi ro và thách thức không nhỏ. Điều này tác
động đến các chính sách quản lý và phát triển TTCK của các nước. Chính sách
QLNN không chỉ chỉ phải giải quyết các vấn đề nảy sinh do có sự xuất hiện của
25
Ngô Văn Thắng KH5B
25