Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
Luận văn:
“Chế độ pháp lý nhằm quản lý rủi ro
tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Láng Hạ”
1
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 1 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
MỤC LỤC
2
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 2 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
LỜI NÓI ĐẦU
Sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế đất nước, cùng với sự phát triển nhanh chóng
của các ngành kinh tế, lĩnh vực Tài chính- Ngân hàng cũng được điều chỉnh và tập
trung phát triển cho phù hợp với yêu cầu thời kỳ mới.Bên cạnh đó, hệ thống các Ngân
hàng Thương Mại (NHTM) Việt Nam không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, kể cả số
lượng, qui mô, nội dung và chất lượng; đã có những đóng góp xứng đáng vào công
cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền kinh tế nói chung và quá trình đổi mới, phát
triển của các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp và dân doanh nói riêng; thực sự là
ngành tiên phong trong quá trình đổi mới cơ chế kinh tế. Đặc biệt trong những năm
qua, hoạt động ngân hàng nước ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn
đầu tư cho lĩnh vực sản xuất phát triển, tạo điều kiện thu hút vốn nước ngoài để tăng
trưởng kinh tế trong nước. Ngành ngân hàng đã xứng đáng là công cụ đắc lực hỗ trợ
cho nhà nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả, bình ổn thị trường
và phát triển sản xuất, kích thích tiêu dùng.
Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một trong những hoạt
động tạo ra giá trị lớn cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu của hệ
thống NHTM ở nước ta hiện nay, chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 60%) trong danh mục
tài sản nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Do đó, song song với việc tăng trưởng tín
hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu tạo ra nguồn lợi nhuận lớn
cho Ngân hàng.
Vì vậy theo điều 20.8 Luật các tổ chức Tín dụng 2004 thì hoạt động tín dụng được
hiểu là việc các Ngân hàng sử dụng nguồn vốn tự có của mình, để cấp Tín dụng. Việc
cấp Tín dụng là công việc chủ yếu của hầu hết các Ngân hàng Thương Mại, là việc các
Ngân hàng Thương Mại thoã thuận để các khách hàng sử dụng một khoản tiền với
nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính,
bảo lãnh và các dịch vụ khác… Hầu hết các thoã thuận giữa Ngân hàng và các chủ thể
khác trong nền kinh tế được thể hiện thông qua các hợp đồng Tín dụng. Các hợp
đồng này phải bao gồm các nội dung sau:
• Điều kiện vay
• Mục đích sử dụng tiền vay
• Hình thức vay
• Số tiền vay
• Lãi suất vay
• Thời hạn vay
5
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 5 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
• Hình thức bảo đảm
• Giá trị tài sản bảo đảm
• Phương thức trả nợ
• Các cam kết khác
1.1.1.2. Khái niệm và phân loại tín dụng
Rất nhiều các khái niệm khác nhau về tín dụng của ngân hàng. Tuy nhiên, chung
quy lại tín dụng được hiểu là quan hệ vay mượn có hoàn trả vốn và lãi sau một thời
gian nhất định giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế (các cá nhân, hộ
gia đình, các tổ chức…). Tín dụng được phân loại theo nhiều tiêu thức:
* Theo thời gian, Tín dụng được phân chia thành
- Tín dụng ngắn hạn: là những khoản vay có thời gian dưới 01 năm để tài trợ
* Theo tài sản đảm bảo:
- Tín dụng có tài sản đảm bảo: là việc ngân hàng cho khách hàng vay vốn dựa
trên cam kết người nhân tín dụng sẽ dùng tài sản đảm bảo để trả nợ trong một số
trường hợp.
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo: có thể được cấp cho khách hàng có uy
tín, thường là làm ăn thường xuyên có lãi hoặc các khoản vay của các tổ chức lớn hay
theo chỉ định của Chính phủ. Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn có nhiều cách phân
loại khác nữa. Việc phân loại tín dụng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho ngân hàng
trong việc theo dõi rủi ro, lợi nhuận…
1.1.2. Những vấn đề cơ bản về rủi ro tín dụng
7
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 7 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
1.1.2.1. Khái niệm, phân loại rủi ro tín dụng
Hoạt động tín dụng là một lĩnh vực hoạt động nhạy cảm và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Đặc biệt trước xu thế hội nhập các ngân hàng sẽ phải đối phó với cạnh tranh cũng
như nhiều loại hình rủi ro khác. Hơn nữa do nước ta có xuất phát điểm của các ngân
hàng khác thấp so với các nước trong khu vực nên việc phải tập trung phát triển và
quan tâm đến lợi nhuận được xem là ưu tiên số 1, chúng ta đã bỏ qua các loại hình
rủi ro trong hoạt động tín dụng. Những rủi ro này có thể mang những tổn thất
nghiêm trọng, đó là lý do tại sao tỉ lệ nợ xấu rất cao, khả năng kiểm soát thì rất thấp.
Để hạn chế bớt rủi ro cho hoạt động tín dụng trước hết chúng ta phải hiểu thế nào là
rủi ro tín dụng. Có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng:
- Theo điều 2.1 quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/4/2005 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước thì “rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
Tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức Tín dụng
do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình
theo cam kết”
- Theo điều 2.1 quyết định số: 165/QĐ-HĐQT, ngày 06/6/2005 của Hội đồng Quản
trị Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì “rủi ro trong hoạt
thể huy động được nguồn vốn dồi dào. Các ngân hàng vì thế mà lánh xa, không cấp
các hạn mức tín dụng, không mở quan hệ đại lý…
* Rủi ro làm cho khả năng thanh toán của ngân hàng giảm sút:
Các khoản tín dụng có rủi ro khiến cho việc hoàn trả gặp khó khăn, trong lúc đó
các khoản tiền gửi, tiền tiết kiệm của của dân cư vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn,
trong lúc không huy động được nguồn vốn dồi dào do mất uy tín, cũng vì thế người
9
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 9 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
rút tiền thấy tình trạng của Ngân hàng như thế lại rút tiền càng tăng lên, kết quả là
Ngân hàng gặp khó khăn trong khâu thanh toán.
* Rủi ro đưa đến kết quả là lợi nhuận suy giảm:
Do rủi ro đưa đến nhiều mất mát thiệt hại về tài chính, thêm vào đó là quá trình
mở rộng hoạt động gặp khó khăn bế tắc, thu nhập kết quả là giảm sút lợi nhuận.
* Rủi ro có thể dẫn tới phá sản:
Nếu những tác động của rủi ro trên 3 phương diện nêu trên không được ngăn
chặn và cứ phát triển đến một mức độ nào đó sẽ đẩy ngân hàng đến chỗ phá sản
1.1.2.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Các chuyến thăm khách hàng thường xuyên là cách tốt nhất để phát hiện nhanh
chóng những dấu hiệu này. Những chuyến thăm luôn phải có việc kiểm tra tình hình
thực tế và sổ sách của khách hàng. Sau đây là một số dấu hiệu thường thấy từ phía
khách hàng cần được kiểm tra:
* Từ báo cáo tài chính:
- Ngân hàng không nhận được cáo báo cáo tài chính từ người vay một cách kịp
thời.
- Tiền mặt của khách hàng giảm
- Khả năng thanh khoản/vốn lưu động giảm
- Những thay đổi nhanh chóng của tài sản cố định
- Xuất hiện những khoản nợ mà công ty vay hoặc cho vay cán bộ hoặc cổ đông
của công ty.
- Mong muốn hoặc khăng khăng đòi “đánh bạc” với kinh doanh có những rủi ro
quá mức.
- Đặt giá bán hàng hoá và dịch vụ một cách không thực tế
- Những thay đổi trong quản lý, quyền sở hữu hoặc những nhân vật chủ chốt
- Chậm trễ trong việc phản ứng lại với sự đi xuống của thị trường hoặc các điều
kiện kinh tế
Tuy nhiên, khi khách hàng có một trong những dấu hiệu trên thì không đáng kể.
Nhưng khi một số dấu hiệu xảy ra đồng thời thì cán bộ cần xem xét, đánh giá kỹ để có
thể hạn chế và giảm thiểu tác động của rủi ro tín dụng
1.1.2.4.Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng:
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Thông thường, người ta phân rủi
ro tín dụng thành ba nhóm: nguyên nhân thuộc về ngân hàng, nguyên nhân thuộc về
người vay, nguyên nhân khác.
1.1.2.4.1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng:
Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng
lực và phẩm chất đạo đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu kiến
thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh
giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay,lãi suất vay và kỳ hạn không phù hợp; dẫn
đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài ra, nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ
theo đúng quy trình tín dụng như giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ hay không
kiểm tra giám sát việc sử dụng vốn của người vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra. Hơn
nữa, cán bộ tín dụng mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ
bị cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên
mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện và
thủ tục cần thiết.
12
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 12 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
Thứ hai: Sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu sát sao. Cán bộ
tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân. Vậy nên nếu cấp trên
1.1.2.4.2. Nguyên nhân thuộc về người vay:
Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng, có thể chia nhóm này thành
hai loại chính:
Thứ nhất: Do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả nợ. Trường hợp
này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém trong dự đoán các vấn đề kinh tế,
yếu kém trong năng lực quản lý, sử dụng vốn sai môc đích, sản phẩm chất lượng thấp
không bán được Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh
doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà không tính toán kỹ hoặc
không có khả năng tính toán những bất trắc có thể xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất
với ngân hàng là rất lớn.
Thứ hai: Do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng. Để đạt được môc
đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với
ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch. Trong trường
hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính của
khách và cho vay vốn với khối lượng và thời hạn không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn
là rất cao. Ngoài ra, cũng có những trường hợp người kinh doanh có lãi song vẫn
không trả nợ cho ngân hàng đúng hạn mà cố tình kéo dài với ý định không trả nợ hoặc
tiếp tục sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt.
1.1.2.4.3. Nguyên nhân khác:
Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi trường xung quanh như chất
lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp luật…
Thứ nhất: Chất lượngthông tin chưa cao. Các thông tin mà ngân hàng thu thập
thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài chính của khách
hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau đó dựa vào các thông tin
thu thập được để ra quyết định cho vay. Tuy nhiên, trên thực tế thì không phải lúc nào
các thông tin ngân hàng thu thập được đều có tính chính xác, đầy đủ và kịp thời. Do
vậy, nếu hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng không hoạt động có hiệu quả, cập
14
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 14 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
cho các doanh nghiệp, hộ gia đình và các cá nhân; đồng thời thiết lập môi trường nhằm
giảm bớt rủi ro trong hoạt động tín dụng. Thông thường, chính sách tín dụng quy định
đối tượng vay vốn, nhu cầu vay vốn, hạn mức, điều kiện vay, phương thức quản lý…
Nếu chính sách tín dụng được xây dựng khoa học, cẩn thận, thông suốt từ trên xuống
dưới sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng duy trì tiêu chuẩn tín dụng của mình, tránh rủi ro
quá mức và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh. Ngược lại, chính sách tín dụng không
cụ thể, không thích ứng được với những thay đổi của môi trường, không phù hợp với
khả năng và môc tiêu của ngân hàng sẽ làm giảm chất lượng của những khoản vay, dễ
phát sinh rủi ro. Thực tế đã chứng minh rằng ngân hàng nào xây dựng được một chính
sách tín dụng hợp lý, chất lượng tín dụng tại ngân hàng đó thường cao hơn.
Trong khi đó, quy trình tín dụng lại bao gồm các bước cụ thể hoá chính sách tín
dụng, giúp cán bộ tín dụng tiến hành quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học,
góp phần đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Quy trình cho vay gồm nhiều
bước nhỏ nhưng thường được chia thành 4 giai đoạn: phân tích trước khi cấp tín dụng,
xây dựng và ký kết hợp đồng, giải ngân, kiểm soát sau khi cấp tín dụng. Chính vì cán
bộ tín dụng cho vay chủ yếu dựa vào các bước trong quy trình tín dụng nên đối với
mỗi ngân hàng, quy trình cần được xây dựng cụ thể, chi tiết đối với mỗi loại hình tín
dụng, mỗi đối tượng khách hàng để đảm bảo việc thực hiện đúng, đủ quy trình là có
thể hạn chế được rủi ro xảy ra.
1.1.2.5.2. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng:
Trong công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng, ngoài việc tuân thủ theo các quy chế
cho vay, bảo lãnh, bảo đảm tiền vay…do ngân hàng trung ương ban hành, các ngân
hàng thương mại cần xây dựng riêng cho mình một chính sách quản lý rủi ro tín dụng
phù hợp. Môc tiêu của xây dựng chính sách này là nhằm giảm đến mức tối thiểu khả
năng xảy ra rủi ro tín dụng và tổn thất ở mức ngân hàng cho là hợp lý. Do vậy, chính
sách này cần phải quản lý được các rủi ro hiện hữu ở từng khoản vay, cả trước và sau
khi rủi ro gây ra tổn thất cho ngân hàng. Thông thường, chính sách quản lý rủi ro tín
dụng thường đưa ra những khuyến cáo về ngành, lĩnh vực, đối tượng khách hàng
không nên hoặc thận trọng cho vay để cán bộ tín dụng có thể sớm nhận biết được
16
17
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 17 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
1.2. PHÁP LUẬT VIỆT NAM NHẰM QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG:
1.2.1. Sự cần thiết quản lý rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và thường gây hậu quả
nặng nề nhất, việc đánh giá rủi ro là trách nhiệm chính của hầu hết tất cả mọi ngân
hàng trong đó có chi nhánh chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Láng Hạ. Hoạt động của ngân hàng thương mại chủ yếu là hoạt động tín dụng và
đầu tư thông thường trên thế giới nó mạng lại khoảng 6% thu nhập còn ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay thu nhập từ hoạt động tín dụng mang lại trên 90% tổng thu
nhập của mỗi ngân hàng. Nhưng đồng thời trong lĩnh vực này rủi ro đã đưa đến cho
ngân hàng những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phá sản, một ngân hàng nào đó
“các khoản tiền cho vay cũng có xác suất vỡ nợ cao hơn so với những tài sản có khác.
Do thiếu tính lỏng và có rủi ro vỡ nợ cao hơn nên ngân hàng thu được lợi tức cao
nhất nhờ vào các món vay. Rủi ro tín dụng là loại rủi ro liên quan rất phức tạp, quản
lý, phòng ngừa là cần thiết, tuy nhiên nó cũng gặp rất nhiều khó khăn, nó có thể xảy
ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Hễ cứ một rủi ro nào đó của người vay cũng có thể
đưa đến rủi ro cho ngân hàng và vì vậy thường là nằm ngoài khả năng bình thường
của cán bộ tín dụng, nó đòi hỏi ngân hàng phải có giải pháp đồng bộ hữu hạn mới có
thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra. Trong
quá trình thực hiện thì ngân hàng cần phải tuân thủ tất cả các quy định về phân loại
nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro xảy ra, trên cơ sở đó để dự phòng
cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của chi nhánh không thực hiện nghĩa
vụ theo cam kết.
Vì vậy quản lý rủi ro tín dụng là ưu tiên số 1 đối với các ngân hàng thương mại nói
chung và đối với chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Láng Hạ
nói riêng.
1.2.2.1. Các văn bản quy phạm pháp luật quy định
18
Nhà nước sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số: 1647/2001/QĐ-NHNN;
- Quyết định số: 783/2005/QĐ-NHNN, ngày 31/5/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước về việc sửa đổ, bổ sung khoản 6 điều 1của quyết định số: 127/2005/QĐ-
NHNN;
- Quyết định số: 72/2002/QĐ-HĐQT-TD, ngày 31/3/2002 của Chủ tịch Hội đồng
Quản trị NHNo&PTNT Việt Nam về quy định cho vay đối với khách hàng;
- Quyết định số: 159/2005/QĐ-HĐQT-TD, ngày 03/6/2005 của Chủ tịch Hội đồng
Quản trị NHNo&PTNT Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của quyết định số:
72/2002/QĐ-HĐQT-TD;
- Quyết định số: 165/2005/QĐ-HĐQT, ngày 06/6/2005 của Hội đồng Quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam bàn hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động NHNo&PTNT Việt Nam;
- Quyết định số: 457/2005/QĐ-NHNN, ngày 19/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước về việc ban hành “quy định về các tủ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động
của tổ chức tín dụng”;
- Quyết định số: 493/2005/QĐ-NHNN, ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước ban hành “quy định về phân loại nợ, trích lập và dự phòng để xử lý rủi ro
tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng”;
- Chỉ thị số: 02/2005/CT-NHNN, ngày 20/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước về việc “nâng cao chất lượng tín dụng, tăng trưởng tín dụng phù hợp với khả
năng huy động vốn và kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống”
20
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 20 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
- Chỉ thị số: 05/2005/CT-NHNN, ngày 26/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nước về việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quyết định số:
493/2005/QĐ-NHNN;
- Chỉ thị số: 3160/2005/NHNo-TD, ngày 01/7/2005 của Tổng Giám đốc Ngân hàng
NN&PT Nông thôn Việt nam về việc thực hiện chỉ thị số: 15/2005/CT-NHNN.
1.3. MỘT SỐ MÔ HÌNH LƯỢNG HOÁ RỦI RO TÍN DỤNG
Từ đó, Altman đi đến mô hình cho điểm như sau:
Z = 1,2X
1
+ 1,4X
2
+ 3,3X
3
+ 0,6X
4
+ 1,0X
5
Trong đó:
X
1
: tỷ số vốn lưu động ròng/tổng tài sản
X
2
: tỷ số lợi nhuận giữ lại/tổng tài sản
X
3
: tỷ số lợi nhuận trước thuế và tiền lãi/tổng tài sản
X
4
: tỷ số thị giá cổ phiếu/giá trị ghi sổ của nợ dài hạn
X
5
: tỷ số doanh thu/tổng tài sản
Trị số Z càng cao thì người vay cao xác suất vỡ nợ càng thấp. Như vậy, khi trị số Z
thấp hoặc là một số âm sẽ là căn cứ để xếp khách hàng vào nhóm có nguy cơ vỡ nợ
cao. Theo Altman, bất cứ công ty nào có điểm số Z thấp hơn 1,81 phải được xếp vào
thay đổi trong nền kinh tế.
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
NHẰM QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI
CHI NHÁNH NHNo&PTNT LÁNG HẠ
23
Trường ĐH Kinh tế Quốc dân - 23 - Lớp: Luật KD - K45
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Hoàng Thị Hà
2.1. GIỚI THIỆU VỀ CHI NHÁNH NHNo&PTNT LÁNG HẠ
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển:
Thành lập ngày 26-3-1988 theo Luật các tổ chức Tín dụng đến nay NHNo&PTNT
Việt Nam là Ngân hàng Thương mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu
tư vốn và phát triển kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn cũng như đối với các
lĩnh vực kinh tế khác của nền kinh tế Việt Nam. Đứng trước tình hình đổi mới của nền
kinh tế đất nước, nhu cầu về vốn cho phát triển ngành kinh tế ngày càng tăng. Xuất
phát từ những yêu cầu và nhiệm vụ chính trị mới trong giai đoạn đó, cùng với sự ra
đời của một số chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp tại các thành phố lớn: thành phố
Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế… Ngày 01/8/1996 Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông
nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam ra quyết định số: 334/1996/QĐ-NHNNo-02
thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Láng Hạ. Chi
nhánh đi vào hoạt động từ ngày 17/3/1997.
Chi nhánh Ngân hàng NNo&PTNT Láng Hạ là chi nhánh cấp I, đơn vị phụ thuộc của
Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam. Chi nhánh có con dấu riêng và có nhiệm vụ thực
hiện một phần các hoạt động của Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam theo sự uỷ quyền
của Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam.
Chi nhánh đã tổ chức được một mạng lưới cơ sở rộng khắp, trụ sở chính tại: số 24
Láng Hạ có 11 phòng, 2 đơn vị trực thuộc đó là các chi nhánh:
- Chi nhánh Bách Khoa: Số 92 Võ Thị Sáu, quận Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội.
- Chi nhánh Mỹ Đình: Nhà CT5 đường Phạm Hùng - TP. Hà Nội.
Hai Chi nhánh này về quy mô và cơ cấu tổ chức nó tương đương với chi nhánh
quận huyện. Bên cạnh đó chi nhánh có 9 phòng giao dịch: