Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Hồ Thanh Hoàng
Download» Agriviet.com
10
học. Theo ông PTSHBC là việc sử dụng sinh vật, gen và các sản phẩm của gen để
điều khiển tác nhân gây bệnh. Các cách điều khiển tác nhân gây bệnh có thể là:
(i) duy trì mật số nguồn bệnh ở mức thấp dưới ngưỡng kinh tế, (ii) làm chậm hoặc
loại trừ tiến trình xâm nhiễm của bệnh, (iii) kích hoạt và tạo điều kiện phát huy hệ
thống tự vệ của cây. 2.8.2 Lựa chọn tác nhân phòng trừ sinh học
Chiến lược PTSHBC có thể chia thành hai loại (1) chiến lược dựa trên
nguyên tắc cơ bản về sinh thái học hay còn gọi là phòng trừ sinh học cổ điển
(Hokkaness và Lynch, 1995) hay phòng trừ sinh học chỉ xử lý một lần (Cook, 1993),
(2) chiến lược sử dụng vi sinh vật như là một loại thuốc sinh học và việc xử lý có
những điểm gần giống như xử lý thuốc hoá học nhằm mục đích kiểm soát bệnh
trong một khoảng thời gian giới hạn. Chiến lược này còn được gọi là phòng trừ sinh
học tăng dần (Hokkaness và Lynch, 1995). Sự khác nhau về chiến lược phòng trừ
ảnh hưởng đến sự lựa chọn và phương pháp sàng lọc tác nhân phòng trừ sinh học.
Đối với chiến lược PTSHBC tăng dần, người ta chú ý đến nguồn gốc của vi
sinh vật đối kháng. Tuy nhiên những hiểu biết về khía cạnh này là điều cần thiết
cho việc đánh giá rủi ro và là một trong những yêu cầu cần thiết cho quá trình đăng
ký thương mại hoá sản phẩm (Lumsden và Lewis, 1989).
Có một số phương pháp sàng lọc tác nhân phòng trừ sinh học dựa trên hoạt
tính của men thủy phân của vi sinh vật đối kháng, tương tác giữa vi sinh vật gây
bệnh và vi sinh vật đối kháng, phương pháp có liên quan đến cây kí chủ.
2.8.3 Vi khuẩn - một tác nhân phòng trừ sinh học:
Nhiều công trình nghiên cứu về các tác nhân phòng trừ sinh học đã công bố
từ dầu thế kỷ 20 trong đó có vi khuẩn. Đang là nhóm vi khuẩn hoại sinh mà phổ
không có khả năng này (Phạm Văn Kim, 1999).
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Hồ Thanh Hoàng
Download» Agriviet.com
12
2.8.4 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước:
2.8.4.1Nghiên cứu trong nước:
Lê Lương Tề, 2002 nghiên cứu “phòng chống bệnh héo xanh vi khuẩn cà
chua có hiệu quả kinh tế cao bằng biện pháp sử dụng rộng rãi các giống cà chua
kháng bệnh, có năng suất cao CLN-1462A và P.T4719A ở vùng đồng bằng sông
Hồng”. Đã đưa vào trồng đại trà ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng và các tỉnh
phía Bắc nước ta.
Lê Như Kiểu, Nguyễn Ngọc Cường, Đào Thu Hằng, 2003 nghiên cứu “phát
hiện biovar 1 và 5 trong quần thể vi khuẩn Ralstonia solanacearum gây bệnh héo
xanh cà chua”. Điều này cho thấy quần thể gây bệnh héo xanh cà chua ở Việt Nam
là rất đa dạng (có 5 biovar).
Phạm Minh Sang, 2003 nghiên cứu “Hiệu lực của vi khuẩn đối kháng và kích
thích sinh trưởng trong phòng trừ bệnh khô vằn do nấm Rhizoctonia solani” bước
đầu đã khống chế được bệnh khô vằn cho lúa và kích thích cây tăng trưởng mạnh
bằng VKĐK.
Nguyễn Trung Thành, 2004 cũng đã thành công trong việc nghiên cứu “Bước
đầu chọn lọc và đánh giá dòng VKĐK, phân lập từ đất để khống chế nấm
Rhizoctonia solani, Sclerotium rolfsii, và vi khuẩn Ralsronia solanacearum gây
bệnh trên cây cà chua”. Các dòng VKĐK có khả năng kháng với cả ba tác nhân
gây bệnh trong điều kiện In vitro và trong nhà lưới VKĐK đã khống chế được bệnh
do nấm
Sclerotium rolfsii
gây ra.
Phạm Mỹ Liên, 2004 nghiên cứu về vấn đề “Chọn lọc và đánh giá dòng vi
trừ tốt nhất trong nhà lưới. Trên đồng ruộng, sử dụng PFAIR2 phòng trừ bệnh có
hiệu quả, gia tăng năng suất và có thể so sánh với các loại thuốc trừ nấm thông
dụng như carbendazim.
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Hồ Thanh Hoàng
Download» Agriviet.com
14
Chương 3
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Thời gian và đòa điểm nghiên cứu
3.1.1 Thời gian
Đề tài được thực hiện từ ngày 5/6/2005 – 30/8/2005
3.1.2 Đòa điểm
- Nơi tiến hành nghiên cứu: Công ty Hai Mũi Tên Đỏ thuộc công ty giống
Đông Tây, xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Vật liệu nghiên cứu:
- Các dòng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens:18, 73, 85, 123, 124.
- Các dòng vi khuẩn Ralstonia solanacearum: RST004, RST005, RST006,
RST01, RSBog3, RSBog4.
Dụng cụ thí nghiệm:
Que trang vi khuẩn, pipet và đầu tiếp đã được vô trùng.
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Hồ Thanh Hoàng
Download» Agriviet.com
16
Môi trường sử dụng: PDA (200g Potato, 15g Agar, 20g Dextrose và 1 lít nước
cất).
Phương pháp tiến hành:
Lấy 100µl các dòng vi khuẩn Ralstonia solanacearum tran đều trên môi
trường PDA đã chuẩn bò sẵn. Dùng pipet hút 20µl dòch vi khuẩn và tiến hành cấy
dòch vi khuẩn thành 5 điểm tương ứng với các dòng vi khuẩn Pseudomonas
fluorescens đã chuẩn bò sẵn. Cuối cùng đem ủ ở nhiệt độ phòng (27-30
0
C), khoảng
24 giờ sau xem kết quả đối kháng của các dòng vi khuẩn.
Chỉ tiêu theo dõi:
Khả năng đối kháng của 5 dòng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens
3.2.3 Phương pháp đánh giá khả năng phòng trừ của dòng vi khuẩn
Pseudomonas fluorescens với dòng vi khuẩn Ralstonia solanacearum trên cây cà
chua trong nhà lưới
Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện nhà lưới tại công ty Hai Mũi Tên
Đỏ.
- Lấy hạt cà chua đã nẩy mầm khoảng 0,5 – 2mm ngâm trong dòch huyền
phù đã chuẩn bò ở trên, nồng độ 10
9
cfu/ml vi khuẩn đối kháng (khoảng 20 phút) đã
chuẩn bò sẵn, sau đó làm khô hạt trên giấy thấm đem gieo khay xốp đã chuẩn bò
sẵn đất (khay 60 lổ).
- Khi cây cà chua được 15 ngày tuổi đem trồng vào chậu đất đã có chủng
sẵn dung dòch vi khuẩn gây độc, với mật số vi khuẩn: 10
3
cfu/g đất, các cây cà chua
được chia thành 4 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức 30 cây, với 3 lần lặp lại. Tiến
hành theo dõi trong vòng 20 ngày.
Chỉ tiêu theo dõi:
Chiều cao cây: đo từ hai lá mầm lên đến đầu ngọn lá, 5 ngày/lần.
Số lá: đếm toàn bộ số lá trên cây, 5 ngày/lần.
Các nghiệm thức:
Luận văn tốt nghiệp
SVTH: Hồ Thanh Hoàng
Download» Agriviet.com
18
NT1 (T
1
): không xử lý vi khuẩn gây bệnh và đối kháng.
NT2 (T
2
): chỉ xử lý vi khuẩn gây bệnh trong ly đất.
NT3 (T
3
): xử lý vi khuẩn đối kháng ở giai đoạn hạt nứt nanh và vi khuẩn gây
bệnh trong ly đất.
Phương pháp tiến hành:
Khi cây được 15 ngày tuổi đem trồng ngoài đồng ruộng, các cây cà chua được
chia thành 2 nghiệm thức, sau trồng 3 ngày tưới dòch VKĐK. Tiến hành theo dõi trong
20 ngày sau trồng.