Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 9 Hình 2.4: Một số dạng hoa đẹp của giống Dendrobium.
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 10
III. Các phương pháp nhân giống.
3.1 Nhân giống ngoài thiên nhiên.
3.1.1 Nhân giống vô tính.
a. Tách bụi: đây là phương pháp đã được các nghệ nhân sử dụng đối
với các giống lan đa thân như Cattleya, Dendrobium, Cymbidium,
Paphiopelium…ở Cattleya, Dendrobium, và những giống tương tự: ở
mỗi gốc của giả hành thường có ít nhất một mắt ngủ nên có thể tách
mỗi hành giả thành một đơn vò để trồng.
b. Chiết cành: ở Dendrobium thường tạo ra cây con trên giả hành
(Keiki) một cách tự nhiên. Khi các cây con này khá mạnh, có rễ tốt,
có thể tách ra khỏi giả hành để trồng.
3.1.2 Nhân giống hữu tính.
a. Sự thụ phấn: Trong thiên nhiên sự thụ phấn ở lan do côn trùng thực
hiện. Cấu trúc của hoa lan là hoàn toàn để thích ứng cho sự thụ phấn
ấy.
Có hai phương pháp thụ phấn:
- Sự tự thụ phấn: Khi phấn hoa của bông hoa này được rơi vào
nuốm của chính hoa ấy. Điều này hiếm khi xảy ra trong tự
nhiên ở hoa lan vì cấu trúc của bộ phận sinh dục đực và cái ở
hoa lan.
- Sự thụ phấn chéo: Khi phấn hoa ở hoa này được để vào nuốm
trong việc thay thế nấm bằng đường ở môi trường thạch để gieo hạt [16]. Phương
pháp này có nhiều ưu điểm như:
- Kết hợp với kỹ thuật lai giống tạo ra nhiều giống lan mới
cung cấp cho thò trường.
- Giúp bảo tồn các loài lan quý, và nhân nhanh số lượng giúp
cho công tác bảo tồn.
IV. Sơ lược về kỹ thuật nuôi cấy mô thực vật.
Nhân giống in vitro hay nuôi cấy mô đều là thuật ngữ mô tả các phương thức
nuôi cấy các bộ phận thực vật trong ống nghiệm có chứa môi trường xác đònh ở
điều kiện vô trùng [5]. Kỹ thuật in vitro dựa trên nguyên lý là tế bào thực vật có
tính toàn thể, nghóa là từ một mô, một cơ quan hoặc một tế bào của bất kỳ bộ phận
nào của cây đều có thể phát triển thành một cây hoàn chỉnh nếu được nuôi trong
môi trường thích hợp [6].
4.1 Điều kiện nuôi cấy tế bào thực vật.
a. Yêu cầu cơ bản nhất của phòng nuôi cấy mô là phải đảm bảo vô
trùng. Khái niệm vô trùng này bao gồm vô trùng môi trường nuôi cấy
và cả sự bảo đảm sao cho mẫu nuôi cấy được hoàn toàn vô trùng.
b. Các yêu cầu cơ bản của kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật:
- Khi thiết lập phòng nuôi cấy mô thực vật phải đảm bảo được
tính liên tục thuận lợi cho các thao tác, các giai đoạn trong
suốt quá trình nuôi cấy mô.
- Đảm bảo được vệ sinh (tính vô trùng) của sản phẩm cuối
cùng.
- Chuẩn bò môi trường đúng cách, chọn đúng môi trường cho
từng loại thực vật và từng giai đoạn nuôi cấy.
- Chọn và xử lý mô thích hợp trước khi cấy [7].
Download»
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 12
c. Các thành phần cơ bản của môi trường nuôi cấy bao gồm: nước,
1
)…Các vitamin dễ bò hỏng do nhiễm tạo
nên cần giữ ở t
0
< 0
0
C [9].
- Chất điều hòa tăng trưởng: tùy theo từng mục đích nuôi cấy
có thể chọn các nồng độ và tổ hợp các nồng độ và tổ hợp các
chất điêu hòa sinh trưởng phù hợp. Các chất điều hòa sinh
trưởng thường dùng là IAA, NAA, 2,4D, Kinetin, BAP,
IBA…[14]
- Agar(đối với môi trường đặc): là một polisacarit làm từ rong
biển. Agar tan ở 100
0
C và khi nguội sẽ đông đặc lại. Hàm
lượng sử dụng từ 8-10g/l tùy hãng chế tạo[10].
d. Nhiệt độ, ánh sáng và pH ảnh hưởng đến quá trình cấy:
- Nhiệt độ: nhiệt độ của phòng nuôi cấy thường được điều
chỉnh ổn đònh từ 22-25
0
C. ở mỗi tế bào thực vật khác nhau thì
nhiệt độ nuôi cấy cũng khác nhau [5].
- nh sáng: có ảnh hưởng đến quá trình phát sinh hình thái cây
nuôi cấy. Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm: cường độ, chu kỳ,
thành phần quang phổ ánh sáng. Cường độ ánh sáng từ: 1000-
2500 lux được dùng phổ biến cho nuôi cấy nhiều loại mô [5].
- pH: là một yếu tố quan trọng. Sự ổn đònh pH môi trường là
yếu tố duy trì trao đổi các chất trong tế bào. Để điều chỉnh
Download»
phút, sau đó đổ nước khử trùng ra bằng ống hút, và tiếp tục
rửa hạt lan 3 lần bằng nước cất vô trùng. Cuối cùng hạt lan đã
khử trùng sẽ được gieo vào các bình chứa môi trường.
- Khi quả lan đã được cắt trên cây, mang vào phòng thí nghiệm,
cần để nơi sạch sẽ, thoáng mát. Nếu chưa gieo hạt ngay thì có
thể giữ quả trong tủ lạnh, trong vòng 3-4 ngày.
Khi gieo hạt, trước tiên quả lan cần cắt bỏ các cuống dài,
đuôi còn sót lại các lá đài, cánh hoa…Dùng bông gòn có tẩm
alcol 70
0
để lau toàn bộ mặt ngoài của quả.
Một khi vào tủ cấy vô trùng, quả lan sẽ được:
- Nhúng vào alcol 90-96
0
, trong 1 phút, hơ nhanh qua ngọn lửa.
- Nhúng vào Hypochlorite de calcium 10%, trong 10 phút, rửa
lại 3 lần bằng nước cất vô trùng.
Download»
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 14
Sau đấy quả lan sẽ được cắt gọt hai đầu, và dùng dao mổ xẻ dọc quả
lan (mổ hai đường đối diện nhau), tách làm hai quả lan, kế đến dùng
pince và dao mổ để giữ lấy tất cả các hạt có trong hai nửa quả lan,
bằng cách gõ nhẹ lên phần ngoài của vỏ quả. Nếu sự thụ tinh tốt, tất
cả các hạt sẽ có màu vàng và đều rơi xuống một đóa petri dùng để
hứng lấy hạt. Sau đó người ta sẽ dùng muỗng hoặc một dụng cụ inox
dùng để gieo hạt vào các bình chứa môi trường [8].
c. Kỹ thuật gieo hạt trong ống nghiệm: hạt sẽ nẩy mầm trong ống
nghiệm bằng thủy tinh hay bằng nhựa trên môi trường rắn có chứa
đường và các loại chất khoáng cần thiết để hạt nẩy mầm và phát
- Kết hợp với kỹ thuật lai giống tạo ra những cây lan khỏe
mạnh có màu sắc đặc biệt [22].
Download»
Khoá luận tốt nghiệp - 2005 Tổng quan tài liệu
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 15
V. Các công trình ngiên cứu gieo hạt lan trong ống nghiệm.
5.1 Trong nước:
Dương Công Kiên và cộng sự nghiên cứu lai tạo và gieo hạt lan
Dendrobium trong ống nghiệm [8].
5.2 Ngoài nước:
Năm 1844, Neumann, một người Pháp làm vườn, đã làm nẩy mầm một số hột
lan bằng cách rải đại các hột lan trên các cục đất ở quanh gốc của các cây lan lớn.
Năm 1899, Noel Bernard, nhà thực vật người Pháp, đã khám phá ra bí mật của
việc nẩy mầm ở hột lan khi ông khảo sát các hột Neottia nidus-avis nẩy mầm tự
nhiên trong rừng. Năm 1904, ông cộng tác với Burgeff để đưa ra phương pháp gieo
hột lan có nhiễm nấm trong chai thạch [16].
Năm 1909, Hans Burgeff đã làm nẩy mầm được Laeliocattleya trên môi trường
dinh dưỡng gồm 0,33% saccarose (đường mía).
Năm 1922, Lewis Knudson đã làm nẩy mầm Cattleya mossiae trên môi trường
Pfefferds 1% saccarose (đường mía) [11].
VI. Mục đích gieo hạt lan Dendrobium trong ống nghiệm.
Hình 2.5: Quả lan Dendrobium.
Các nhà trồng lan không ngừng tìm kiếm các giống lan mới để thõa mãn
sự hiếu kì của mình hoặc có thể đem bán. Có hai cách để có được giống
lan mới. Một là, sưu tập những giống lan hoang dại trong rừng đem về
thuần hóa, tạo các điều kiện nhân tạo giống tự nhiên để cây lan có thể ra
hóa. Phương pháp này gặp nhiều rủi ro do điều kiện môi trường không
thuận lợi cho cây lan phát triển. Hai là, tạo ra những giống lan lai mới,
cây lan lai sẽ mang những đặc tính tốt vựơt trội của cả bố mẹ, có thể
- Agar 8,5 g/l.
- pH = 5.5 – 5.7.
Sử dụng chai thủy tinh 100 ml và 500 ml để nuôi cấy.
Tất cả môi trường được hấp khử trùng ở 1atm, 121
0
C trong thời gian 20
phút.
1.3 Điều kiện nuôi cấy.
Thí nghiệm được thực hiện từ ngày 20/01/2005 đến ngày 26/05/2005, tại công
ty Văn Thành Tài, 114 Hồng Hà, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, với các
điều kiện nuôi cấy như sau:
- Nhiệt độ phòng nuôi: 24-28
0
C.
- Cường độ chiếu sáng: 2000-3000 lux.
- Thời gian chiếu sáng: 8 giờ/ngày.
- Ẩm độ trung bình: 60-70%.
Download»
Khoá luận tốt nghiệp – 2005 Vật liệu – Phương pháp
SVTH: Nguyễn Vũ thò Hoàng Uyên Trang 17
II. Hướng đi của đề tài.
Đối với đề tài, chúng tôi hướng mục đích nhân giống lan Dendrobium lai bằng
phương pháp gieo hạt in-vitro nhằm:
- Cung cấp giống lan mới cho các phòng nuôi cấy mô.
- Tạo ra cây con khỏe, sạch bệnh, để trồng ra vườn ươm.
- Kiểm tra kết quả lai.
Với thời gian quá ngắn, từ nguyên liệu ban đầu là quả lan, chúng tôi chỉ có thể
thực hiện được các giai đoạn:
- Khử trùng quả.
- Rửa lại mẫu nhiều lần
bằng nước cất vô trùng
khoảng 3-4 lần cho thật
sạch.
- Nhúng vào cồn 90
0
và hơ nhanh
qua ngọn lửa.
- Nhanh chóng đặt quả lan vào
đóa petri vào đậy nắp lại.
Download»