Vai trò truyền bệnh và gây bệnh
của các tiết túc
1. Mạt
Mạt thuộc lớp nhện, kích thước nhỏ, dài chừng 1mm. Chủ yếu ký sinh và gây bệnh
ở gia cầm, loài gậm nhấm (gà, chim, chuột), bất thường ký sinh ở người và truyền
bệnh
Mạt gà truyền bệnh toi gà và bệnh viêm não - màng não cho ngựa và người. Ký
sinh ở chuột thì truyền cho người một bệnh kiểu thuỷ đậu
2. Ve
Ve ký sinh và hút máu của nhiều loại động vật khác nhau
2.1. Vai trò truyền bệnh của ve
- Viêm màng não - não do ve
- Sốt mụn cứng hay gọi là sốt Địa Trung Hải
- Sốt phát ban do ve
- Sốt Qeen sland
- Sốt Colorado
- Sốt Buillis
- Bệnh Tularemia
- -Bệnh Louping
2.2. Vai trò gây bệnh
- Bệnh tê liệt do ve
- Gây thiếu máu, nếu bị nhiễm ve đốt
3. Mò
Chỉ có ấu trùng mò đỏ mới ký sinh trên động vật có xương sống và hút máu, kích
thước nhỏ khoảng 200 Micromet, thường có màu đỏ da cam. Mò truyền do đốt vật
chủ
Truyền bệnh sốt mò cho người
3. Ghẻ
Ghẻ có kích thước chừng 330Micromet, ghẻ đực nhỏ hơn có kích thước chừng
220Micromet
Bọ chét ký sinh ở trong da gây viêm loét và áp xe da
8. Ruồi
8.1. Ruồi trâu (Tabanidae )
Ruồi trâu trưởng thành có kích thước từ 5-25 mm, mầu sẫm. Ruồi trau cái hút
máu, con đực không hút máu
Ruồi trâu truyền giun chỉ Loaloa, là bệnh giun chỉ dưới da, thường gặp ở Châu
Phi. Truyền Trypanososua ở động vật.
8.2. Ruồi hút máu: Glossina (Ruồi Tse - Tse )
Truyền bệnh ngủ châu phi do Trypanososua gambieuse
8.3. Ruồi không hút máu: Gồm có các loại ruồi
- Nusca domestica: Ruồi nhà
- Musca vicina: Ruồi nhà
- Lucilia sesicata: Nhặng xanh
- Lucilia sesicata caesar: Nhặng xanh
Ruồi nhà có thân dài khoảng 6 - 7 mm; con đực có hai mắt gần nhau, con cái hai
mắt xa nhau
- Vai trò của ruồi trong y học
+ Đóng vai trò vận chuyển mầm bệnh
Các vi khuẩn bám vào chân ruồi hoặc trong đường tiêu hoá của ruồi, khi ruồi đậu
và ăn thì gây ô nhiễm thức ăn, nước uống làm nhiễm bẩn các vết thương.
Ruồi truyền được các bệnh chủ yếu như: Thương hàn, tả, lỵ trực khuẩn, lỵ Amip,
than, lao, bại liệt và giun sán.
+ Gây bệnh giòi ruồi
+ Bệnh giòi hút máu
+ Bệnh giòi vết thương
+ Bệnh giòi nhọt ( bệnh giòi da )
+ Bệnh giòi mụn di chuyển
+ Bệnh giòi dưới da
+ Bệnh giòi ở các hốc tự nhiên của cơ thể như: ở mắt, mũi, tai
+ Bệnh giòi đường tiêu hoá, tiết niệu và sinh dục
máu người
+ Nhóm muỗi hoang dại: Chỉ sống ngoài nhà.
+ Những loại muối ưa vào nhà tìm hút máu người và gia súc, những muỗi ưa
ngoài nhà thì hút máu nhiều động vật khác nhau
- Tập tính lựa chọn loại máu của muỗi có liên quan đến dịch tễ những bệnh do
muỗi truyền
- Tuổi thọ của muỗi phụ thuộc vào những yếu tố khí hậu, địa lý, thức ăn và loài
muỗi. Nói chung, muỗi có thể sống được 8 - 9 tháng với những điều kiện thuận lợi
về nhiệt độ và thức ăn.
- Tuổi sinh lý, tuổi thật, tuổi nguy hiểm của muỗi
+ Tuổi sinh lý của muỗi là số lần muỗi đẻ
+ Tuổi thật của muỗi là số ngày mà muỗi đã sống
+ Tuổi nguy hiểm là khi muỗi có khả năng truyền bệnh
- Chu kỳ tiêu sinh: Là quá trình tiêu hoá máu và quá trình phát triển của chứng
+ Quá trình tiêu hoá máu: Từ Sella1 đến Sella7.
+ Quá trình phát triển của trứng
+ Quá trình phát triển của chứng song song với quá trình tiêu hoá máu trong bụng
muỗi
+ Các giai đoạn phát triển của chúng được tính theo hệ Chrisstopher (từ
Chrisstopher1 đến Chrisstopher 5 )
+ Sự hoà hợp của chu kỳ tiêu sinh: để đánh giá mức độ ăn, để bình thường hay
không bình thường của muỗi
- Những loài muỗi truyền bệnh chủ yếu
Anophelinae: Ở Việt Nam, cho đến nay đã phát hiện khoảng 60 loài muỗi
Anophelinae khác nhau, nhưng chỉ có một số loài có khả năng truyền bệnh sốt rét
+ Những muỗi là vector chủ yếu truyền bệnh sốt rét ở vùng núi là: An. minimus,
An. dirus
+ Những muỗi là vector chủ yếu truyền bệnh sốt rét vùng ven biển nước nợ:
An.subpictus (miền bắc Việt Nam ); An. sundaicus (miền nam Việt Nam )
+Những muỗi là vector thứ yếu truyền bệnh sốt rét ở Việt Nam: An.feyporiensis,