Luận văn : KHẢO SÁT ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ CHU TRÌNH PHÁT TRIỂN CỦA LOÀI TẦM GỬI Macrosolen cochinchinensis TRÊN CÂY CAO SU (Hevea brasiliensis) part 5 - Pdf 19

31
48.94
64.45
41.46
13.08
23.61
25.45
N1 L3 M1

%
Tỷ lệ bệnh
Chỉ số bệnh
Biểu đồ 4.1. Biểu đồ thể hiện mức độ nhiễm bệnh tầm gửi trên cây cao su
Số liệu ở bảng 4.1 cho thấy tỷ lệ bệnh biến động từ 41,46% đến 64,45% và
chỉ số bệnh từ 13,08% đến 25,45%. Ở đây mức độ nhiễm bệnh giữa các lô N1, L3,
M1 không có sự chênh lệch lớn. Hầu hết cả ba lô đều nhiễm bệnh tƣơng đối nặng.
Riêng lô L3 bị nhiễm bệnh nặng nhất với tỷ lệ bệnh là 64,45% và chỉ số bệnh
23,61%. Lô N1 nhiễm bệnh tƣơng đối cao với tỷ lệ bệnh 48,94% và chỉ số bệnh
25,45%. Riêng lô M1 là có tỷ lệ bệnh và chỉ số bệnh tƣơng đối thấp hơn (TLB:

cây bị
nhiễm
bệnh
(cây)
Tổng số
vết
bệnh
Tỷ lệ
cành cấp
1 (%)
Tỷ lệ
cành cấp
2 (%)
Tỷ lệ trên
thân cây
(%)
L3
24,23
PB 235
279
1.169
41,57
35,33
23,1

Biểu đồ 4.2. Biểu đồ thể hiện vị trí phân bố vết bệnh trên tán cây cao su



Là dạng bụi bán ký sinh có chồi, lá có phiến bầu dục thon, to 6-8 x 2,5-5 cm,
dày, không có lông; cuống 2-3 mm. Chùm hoa đứng cao 2-3 cm; lá hoa 1; vành hình
túi phù, cao 25-45 mm, tai 6; tiểu nhụy 6. Phì quả tròn.
Thông thƣờng loài này đƣợc phân bố ở đồng bằng Bắc – Trung – Nam. Trái
nhị to; lá dùng nhƣ trà; nhựa tống nhau sau sanh.
Loài này thƣờng đƣợc dùng để chữa trị nhức đầu (Devkota, 1997).
34
4.2.2. Viscum articulatum Burm. F: Chùm gửi dẹt, ghi có đốt Hình 4.2. Loài V. articulatum

Loài cây này có dạng bụi thòng, bán ký sinh, dài 40-60 cm; thân có đốt dẹp,
dể gãy ở mắt, không có lá. Hoa ở mắt, chụm 3, hoa giữa cài hoa bên đực; đài 3-4
phân; bao phấn gắn trên lá đài. Phì quả màu trắng, to 3-4 mm.
Phạm vi phân bố của loài này đƣợc Phạm Hoàng Hộ (1999-2000) ghi nhận từ
Phan Rang vào Nam. Trong dân gian hoặc trong y học cổ truyền thƣờng dùng để đắp
nơi bị dập, gãy xƣơng, đứt; trị sốt; phấn dƣơng.
4.2.3. Dendrophtoe pentandra (L) Miq: Mộc ký ngũ hùng; Scaly flowered
Loranthus.
4.2.4.
Trong dân gian thƣờng dùng bó nơi gãy xƣơng.
4.2.6. Taxillus chinensis (DC) Dans: Hạt mộc Trung Quốc.
Hình 4.6: A, B: Loài T. chinensis [22], [23]
Là loại cây bán ký sinh, nhánh non có lông vàng vàng rồi không lông, có bì
khẩu trắng. Lá mọc đối; phiến bầu dục, lúc non có lông ở gân, gân-phụ 4 cặp; cuống
đến 1 cm. Tú tán ở nách lá; cọng hoa ngắn hay dài; hoa dài 1,5-2,5 cm, xanh mặt
ngoài, đỏ mặt trong; tai vành; tiểu nhụy 4, gắn ở miệng hoa. Phì quả tròn hay tròn
dài, có u nần, cao 6-8 mm; chỉ có 1 hạt.
Thông thƣờng phân bố ở những khu rừng hoặc những nơi có độ cao đến 1.500
m, Bắc Tây Nguyên (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000).
đầu phát triển khoẻ mạnh. Từ giai đoạn hạt cho đến giai đoạn cây con phải trải qua
một thời gian khá dài khoảng 30 ngày tùy thuộc vào điều kiện thời tiết thuận lợi. Khi
hạt tạo vòi hút bám vào cây tạo thành cây con, cây con bắt đầu cần nƣớc và chất dinh
dƣỡng từ cây chủ để có thể sinh trƣởng tốt. Ngoài ra, chúng cần có một điều kiện
thuận lợi về nhiệt độ và thời tiết cho sự sống. Qua theo dõi quá trình nảy mầm của
cây tầm gửi chúng tôi nhận thấy rằng khả năng nảy mầm của hạt rất tốt . Hạt có thể
nảy mầm trên bất cứ nơi nào thậm chí cũng có thể nảy mầm trên quả khác khi hạt rơi
trên quả (hình 4.8), dây điện, trên đá và kể cả là một cây cột [15]. Thời gian hạt bắt
đầu nảy mầm tạo vòi rất ngắn khoảng 3 ngày, thời gian để vòi phát triển bám vào
thân cây kí chủ khoảng 7 ngày nhƣng thời gian để từ vòi phát triển lá mầm và chồi
lại rất dài, khoảng 20-30 ngày. Điều này cho thấy hạt của cây tầm gửi có thể tự
dƣỡng qua một thời gian khá lâu trƣớc khi vòi có thể phát triển rễ mút để hút chất
dinh dƣỡng của cây chủ (Salle, 1983; Boone et al, 1995). Theo Lamont (1983), sự
hình thành một cây tầm gửi mới trải qua 4 giai đoạn: giai đoạn hạt bám vào, giai
đoạn nảy
mầm, hình thành cây con và giai đoạn cây trƣởng thành. Bên cạnh đó, trong
quá trình thực tập qua khảo sát thực tế trên vƣờn cây bị nhiễm bệnh tại Ông Quế loài
tầm gửi này ra hoa vào khoảng tháng 3 – 4 và tạo quả vào tháng 5 với số lƣợng hoa
và quả rất nhiều. Với một lƣợng hạt khổng lồ, cây tầm gửi dễ dàng lây lan và sinh
trƣởng trên một diện rộng.
Kết quả khảo sát khả năng nảy mầm của hạt tầm gửi dựa theo bố trí thí
nghiệm: tham khảo phần phụ lục.
Theo cô Nguyệt (Khoa Lâm Nghiệp Đại học Nông Lâm), mô cây bị nhiễm
bệnh (Hình 4.10 A) các tia gỗ bị biến dạng không bình thƣờng, sự ăn bám của cây
tầm gửi đã làm cho các mô của cây bị thiếu nƣớc và dinh dƣỡng nên chúng bị khô và
teo lại, biểu hiện bên ngoài là cành cây phát triển không bình thƣờng, nơi tầm gửi
xâm nhiễm mô cây bị biến dạng không đồng nhất, cây còi cọc yếu ớt. Cụ thể là các
tia gỗ cong lại chằng chịt, không thấy rõ các đƣờng vân gỗ. Ngƣợc lại, ở cây không
bị nhiễm bệnh (Hình 4.10 B), cấu tạo các tia gỗ bình thƣờng, đƣờng vân và tia gỗ
thấy rất rõ. Qua đó có thể nhận thấy rằng cây tầm gửi gây ảnh hƣởng rất lớn đến các
cấu trúc tự nhiên của cây, phá vỡ nó và cuối cùng làm cho cây chủ yếu đi và chết.
4.5. Bƣớc đầu thử nghiệm xử lý tầm gửi với hóa chất Garlon 250 EC
Vị trí ký sinh của tầm gửi thƣờng tập trung trên tán lá, nơi có chiều cao cách
mặt đất có khi lên đến 15-20 m. Điều này dẫn đến các biện pháp phòng trị bằng thủ
công và phun trực tiếp bằng hoá chất BVTV gặp nhiều khó khăn về khía cạnh hiệu
quả kỹ thuật và hiệu quả kinh tế. Ngay tại Nông trƣờng Ông Quế, việc sử dụng câu
móc bằng thủ công đã đƣợc thực hiện, nhƣng sau đó những cây tầm gửi này tái sinh
và phát triển lại bình thƣờng, do không diệt đƣợc hoàn toàn những bộ phận bám chắc
vào thân và giác hút. Công việc này thƣờng tốn rất nhiều công lao động và nguy cơ
tai nạn lao động thƣờng xảy ra.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status