thực trạng và giải pháp hoàn thiện văn hóa kinh doanh tại công ty mai linh - Pdf 19

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
KHOA SAU ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÔN QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & ĐIỀU HÀNH
MÔN QUẢN TRỊ SẢN XUẤT & ĐIỀU HÀNH
Đề tài:
“VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
TẠI CÔNG TY MAI LINH”
Giảng viên bộ môn: TS. HỒ TIẾN DŨNG
Sinh viên: NGUYỄN THỊ BÍCH NHƯ
Lớp: QTKD – K.17 – Đêm 1
Tháng 03/2009
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 4
1.1Khái niệm 4
1.1.1 Văn hóa 4
1.1.2 Văn hóa doanh nghiệp 5
1.2Nguồn gốc hình thành văn hóa doanh nghiệp 6
1.3Cơ sở xây dựng văn hóa doanh nghiệp 8
1.4Yếu tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp 9
1.5Các bộ phận cấu thành văn hóa doanh nghiệp 10
1.6Cấu trúc của Văn hóa doanh nghiệp 11
1.7Hình thức biểu hiển của văn hóa doanh nghiệp 14
1.8Vai trò của văn hóa doanh nghiệp 17
1.8.1 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp trong hoạt động quản lý 18
1.8.2 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh 21
1.8.3 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với xã hội 24
1.9Các biện pháp xây dựng và phát huy yếu tố văn hóa trong doanh nghiệp 26
1.9.1 Sự cần thiết phải xây dựng và phát huy yếu tố văn hóa doanh nghiệp 26
1.9.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới văn hóa doanh nghiệp 29

kinh tế thị trường và xu hướng tồn cầu hóa, buộc các doanh nghiệp để tồn tại và
phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với
thực tế. Làm thế nào để doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy mọi nguồn
lực con người, là nơi làm gạch nối, nơi có thể tạo ra lực điều tiết, tác động (tích cực
hay tiêu cực) đối với tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan khác nhau, làm gia
tăng nhiều lần giá trị của từng nguồn lực con người đơn lẻ, nhằm góp phần vào sự
phát triển bền vững của doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây
dựng và duy trì một nề nếp văn hóa đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy sự
đóng góp của tồn thể nhân viên vào việc đạt được các mục tiêu chung của tổ chức.
Vì vậy có thể khẳng định văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh
nghiệp.
Tại Việt Nam, Công ty Mai Linh là một trong những thương hiệu mạnh
trong ngành vận tải, được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng phục vụ. Để
đạt được điều này, Văn hóa doanh nghiệp đã tác động lớn đến sự phát triển của
Công ty Mai Linh.
Ngay từ buổi đầu thành lập, Công ty Mai Linh đã chú trọng đến việc tạo
dựng và phát triển một nền văn hóa riêng biệt trong kinh doanh. “Văn hóa là nền
tảng cho sự phát triển vững bền”, đó là mô hình xây dựng và phát triển của Công ty
Mai Linh.
Xuất phát từ thực trạng đó, tôi đã chọn đề tài tìm hiểu quá trình hình thành
và phát triển văn hóa doanh nghiệp tại công ty Mai Linh. Từ đó, đề nghị một số giải
phám nhằm giúp cho Mai Linh hồn thiện hơn và nâng cao hiệu quả văn hóa doanh
nghiệp tại công ty mình.
3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
1.1 Khái niệm
1.1.1 Văn hóa
Để hiểu thế nào là văn hóa doanh nghiệp, trước hết chúng ta tìm hiểu về khái
niệm văn hóa nói chung. Có nhiều định nghĩa về Văn hóa.
Văn hóa là một lĩnh vực tồn tại và phát triển gắn liền với đời sống của nhân

chung là phục vụ con người, văn hóa là nguồn lực lớn cho kinh doanh,tuy nhiên mục tiêu
ngắn hạn của văn hóa và kinh doanh lại có thể trái ngược nhau, nếu kinh doanh chỉ chạy
theo lợi nhuận trước mắt thì sẽ gây tác hại cho văn hóa, xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc,
khi nền văn hóa mang những yếu tố không phù hợp sẽ kìm hãm, cản trở sự phát triển của
kinh doanh.
1.1.2 Văn hóa doanh nghiệp
Doanh nghiệp tồn tại là để sản xuất của cải vật chất và làm dịch vụ. Mọi hoạt động
sản xuất đều gắn liền với một dây chuyền công nghệ nhất định. Để vận hành được các
khâu của dây chuyền này, trong doanh nghiệp phải có hệ thống tổ chức, quản lý thật chặt
chẽ từ khâu đầu đến khâu cuối. Điều này có nghĩa là trong các hoạt động của doanh
nghiệp, mọi người đều phải tuân theo những giá trị – chuẩn mực cụ thể nào đó và thực hiện
theo những “khuôn mẫu văn hóa”nhất định. Như vậy, mỗi doanh nghiệp hoặc tổ chức kinh
doanh là một không gian văn hóa. Văn hóa doanh nghiệp là tồn bộ giá trị văn hóa được gây
dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá
trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và
chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc
theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Nhà xã hội học người Mỹ E.H. Schein đưa ra định nghĩa: “Văn hóa doanh nghiệp”
là tổng thể những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngồi và thống nhất
bên trong các nhân viên, những quy tắc đã tỏ ra hữu hiệu trong quá khứ và vấn đề cấp thiết
trong hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các
nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Các
thành viên của tổ chức doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc
và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu. Văn hóa doanh nghiệp là một hệ
thống những ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi
thành viên của một tổ chức đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức
hành động của các thành viên, đó là tổng hợp những quan niệm chung mà các thành viên
trong công ty học được trong quá trình giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với
môi trường xung quanh. Điều đó có nghĩa là trong doanh nghiệp tất cả các thành viên đều
gắn bó với nhau bởi những tiêu chí chung trong hoạt động kinh doanh. Chức năng chủ yếu

nữa, cũng không ngồi mục đích cuối cùng là tạo ra một niềm tin đối với khách hàng, với
các nhà quản lý nhà nước, tạo môi trường làm việc tốt nhất, thuận lợi nhất, tạo niềm tin cho
nhân viên, để họ làm việc tốt hơn và gắn bó với công ty.
1.2 Nguồn gốc hình thành văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là tồn bộ những giá trị tinh thần mà doanh nghiệp tạo ra
trong quá trình sản xuất kinh doanh tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của các thành
viên cũng như sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nó xác lập một hệ thống các giá
trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các
6
giá trị đó. Do đó,Văn hóa doanh nghiệp gắn với đặc điểm từng dân tộc, trong từng giai
đoạn phát triển cho đến từng doanh nhân, từng người lao động, từng loại hình doanh
nghiệp, từng ngành sản xuất, từng loại hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất.
Doanh nghiệp được hình thành từ nhiều cá thể, những cá thể này lại mang sẵn một
truyền thống dân tộc nào đó. Chính vì vậy, Văn hóa doanh nghiệp tất yếu mang những đặc
điểm chung nhất của quốc gia, dân tộc, thừa hưởng những đặc trưng của VH dân tộc, điều
này giải thích sự khác biệt giữa Văn hóa doanh nghiệp phương Tây so với các doanh
nghiệp châu á.
Về bản chất, Văn hóa doanh nghiệp là không vĩnh cửu, nó có thể được tạo lập, và
những người sáng lập có khả năng làm việc này qua những giá trị quan điểm,tư tưởng của
người sáng lập, chúng sẽ tác động lên và kiểm sốt hành vi của nhân viên, quy định họ được
phép làm gì, không được phép làm gì. Nhân cách của người lãnh đạo có vai trò quan trọng
bậc nhất cấu thành nên tài sản chính yếu của doanh nghiệp (Văn hóa doanh nghiệp), tạo
các giá trị được mọi thành viên khác cùng tôn trọng. Những giá trị đó có thể được truyền
đến người lao động theo nhiều con đường khác nhau, như qua các bài phát biểu, các ấn
phẩm, các tuyên bố về chính sách, và đặc biệt là qua những hành vi của người lãnh đạo. Họ
có thể truyền đạt các giá trị VH mà họ mong muốn xây dựng trong doanh nghiệp tới nhân
viên, cũng như giúp nhân viên thực hành các giá trị này bằng ba con đường:
• Công cụ đầu tiên người quản lý có thể sử dụng để tạo lập, củng cố, hồ nhập hay
thay đổi bản sắc và giá trị Văn hóa doanh nghiệp chính là phong cách lãnh đạo.
Ngay từ buổi đầu lập nghiệp họ đã định rõ sứ mệnh của tổ chức và những giá trị,

Văn hóa doanh nghiệp được xây dựng dựa trên các cơ sở sau:
• Các hạt nhân văn hóa doanh nghiệp: hạt nhân văn hóa doanh nghiệp bao gồm triết
lý, niềm tin, các chuẩn mực làm việc và hệ giá trị.
• Phát triển văn hóa giao lưu của các doanh nghiệp: Các doanh nghiệp thường có xu
hướng liên doanh, liên kết với nhau. Để tồn tại trong môi trường kinh doanh phức
tạp, đa văn hóa, các doanh nghiệp không thể duy trì văn hóa doanh nghiệp mình
giống như những lãnh địa đóng kín của mà phải mở cửa và phát triển giao lưu về
văn hóa. Việc phát triển văn hóa giao lưu sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
học tập, lựa chọn những khía cạnh tốt về văn hóa của các doanh nghiệp khác nhằm
phát triển mạnh nền văn hóa của doanh nghiệp mình và ngược lại.
• Xây dựng các tiêu chuẩn về văn hóa doanh nghiệp: Để hình thành một nền văn hóa
mạnh và có bản sắc riêng, hầu hết các doanh nghiệp thường xây dựng cho mình
những tiêu chuẩn về văn hóa và buộc mọi người khi vào làm việc cho doanh nghiệp
phải tuân theo. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này có thể thay đổi khi không còn phù
hợp hoặc hiệu quả thấp. Trong trường hợp như vậy, việc sáng tạo ra những tiêu
chuẩn mới là cần thiết.
• Văn hóa tập đồn đa quốc gia: Các tập đồn đa quốc gia có nhiều chi nhánh hoạt
động ở nhiều nước trên thế giới, thường phải đối mặt với môi trường kinh doanh đa
8
sắc tộc, đa quốc tịch và đa văn hóa. Để tăng cường sức mạnh và sự liên kết giữa các
chi nhánh của các công ty đa quốc gia ở các nước khác nhau, các tập đồn phải có
một nền văn hóa đủ mạnh. Hầu như tập đồn đa quốc gia nào cũng có bản sắc văn
hóa riêng của mình và đây được coi là một trong những điều kiện sống còn, một
loại vũ khí cạnh tranh lợi hại. Các công ty đa quốc gia có mục đích kinh doanh
chiến lược, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng và danh tiếng cao về chất lượng sản phẩm
và dịch vụ trên thị trường thế giới. Những kết quả này có thể coi là sản phẩm của
quá trình vận động của văn hóa tập đồn. Tuy nhiên, để đạt được những đỉnh cao
của sự thành công đó, các tập đồn phải mất nhiều thời gian và tiền bạc.
• Văn hóa doanh nghiệp gia đình: Các doanh nghiệp gia đình được xem là một loại
định chế độc đáo trong đó một gia đình là hạt nhân của doanh nghiệp. Văn hóa

văn hóa, phản ánh một cách đầy đủ và sâu sắc những bộ phận cấu thành nên nền văn hóa
đó.
• Tầng thứ nhất: bao gồm những yếu tố hữu hình: là những yếu tố có thể quan sát
được, là cơ sở vật chất của Văn hóa doanh nghiệp.
• Tầng thứ hai: là những gía trị được thể hiện, bao gồm những nguyên tắc, quy tắc
của hành vi ứng xử, thể chế lãnh đạo, tiêu chuẩn hóa hoạt động của doanh nghiệp,
niềm tin, giá trị và cách cư xử (văn hóa “quy phạm”)
• Tầng thứ ba: là những giả thiết cơ bản được ngầm định có liên quan đến môi trường
xung quanh, thực tế của doanh nghiệp, đến hoạt động và mối quan hệ giữa con
người trong doanh nghiệp, là trụ cột tinh thần của doanh nghiệp(văn hóa tinh thần)
Hay nói cách khác, Văn hóa doanh nghiệp được cấu thành bởi ba yếu tố:
• Cấu trúc hữu hình của Văn hóa doanh nghiệp: lôgô, đồng phục, cách xắp xếp, thiết
trí, kiến trúc…
• Những giá trị được công nhận: chiến lược, quan điểm, phong tục, tập quán kinh
doanh, những quy tắc, quy định chung, mục tiêu…
• Những quan niệm ẩn: Quan niệm chung, niềm tin, nhận thức, được mặc nhiên
công nhận.
1.5 Các bộ phận cấu thành văn hóa doanh nghiệp
• Triết lý hoạt động của doanh nghiệp: Là tư tưởng chung chỉ đạo tồn bộ suy nghĩ
và hoạt động của doanh nghiệp từ người lãnh đạo, các bộ phận quản lý và những
người lao động trong doanh nghiệp. Triết lý này bao gồm: mục tiêu của doanh
nghiệp hướng tới sự phát triển lâu dài, bền vững; định hướng hoạt động của
danh nghiệp vào việc phục vụ lợi ích xã hội thông qua phục vụ khách hàng; đề
cao giá trị của con người, đặt con người vào vị trí trung tâm trong tồn bộ mối
quan hệ ứng xử trong doanh nghiệp.
10
• Đạo đức kinh doanh: Nếu doanh nghiệp có lợi cho mình đồng thời đem lại lợi
ích cho người khác, cho đất nước, xã hội, thì hành động đó là có đạo đức. Đạo
đức kinh doanh đòi hỏi hành doanh nghiệp làm giầu trên cơ sở tận tâm phục vụ
khách hàng, thông qua việc tôn trọng quyền, lợi ích của khách hàng, giữ uy tín

- Nhóm yếu tố chuẩn mực
- Nhóm yếu tố không khí và phong cách quản lý của doanh nghiệp.
- Nhóm yếu tố hữu hình
Giữa 4 nhóm này có vai trò và quan hệ như sau:
a/ Nhóm yếu tố giá trị:
Có thể ví như lõi trong cùng của cây gỗ được cưa ngang. Phải trồng cây gỗ
nhiều năm mới có được lõi gỗ và nó là phần rắn nhất trong cây gỗ. Gía trị văn hóa
của một tổ chức cũng vậy. Tạo dựng được giá trị phải mất nhiều năm và giá trị chỉ
khẳng định được sự xác lập của nó thông qua việc thâm nhập, chuyển tải các biểu
hiện của giá trị vào các nhóm yếu tố chuẩn mực và yếu tố hữu hình. Điều này cho
thấy, giá trị khi đã được xác lập muốn xóa bỏ nó cũng không dễ trong ngày một
ngày hai, nhưng giá trị cũng có thể bị suy thóai, bị thay đổi trong một số điều kiện.
Như vậy, trước hết, cái quan trọng nhất khi nhìn doanh nghiệp ở góc độ văn
hóa là các giá trị văn hóa nào đã được doanh nghiệp đề xướng, quán triệt hay tuân
thủ. Đây không chỉ là câu khẩu hiệu treo trên tường, hoặc bài phát biểu của Giám
đốc doanh nghiệp mà chúng ta phải tìm thấy sự hiển diện của các giá trị này qua
nhiều nhóm yêu tố văn hóa khác. Ví dụ, một doanh nghiệp đề cao sự tận tụy với
khách hàng là một trong những giá trị mà họ theo đuổi, thì người ta phải thấy giá trị
này được tôn vinh qua phiếu đánh giá của khách hàng về nhân viên, giá trị này cũng
phải được chuyển tải trong tuyển dụng nhân viên.
Chẳng hạn, doanh nghiệp có thể nhận một nhân viên còn non yếu về kỹ năng
nhưng anh ta thích thú khi được phục vụ hơn là nhận một người có kinh nghiệm
nhưng không có động cơ phục vụ. Bởi yếu kém về nhận thức, kỹ năng có thể học để
bù đắp, còn sự thay đổi động cơ sẽ khó khăn hơn. Và dĩ nhiên, nhân viên nào làm
việc có hiệu quả, phục vụ khách hàng tốt sẽ là người được thăng tiến, khen thưởng
trong doanh nghiệp. Do đó, người ta có thể nói: "Hãy cho tôi biết trong cơ quan anh
chị người được trọng dụng là người như thế nào, tôi sẽ nói được văn hóa của tổ
chức anh chị là văn hóa như thế nào".
b/ Nhóm yếu tố chuẩn mực:
12

của các yếu tố hữu hình như vậy cho thấy rõ ràng các giá trị mà lãnh đạo doanh
nghiệp muốn đề cao chưa được các thành viên chia sẻ, áp dụng. Hoặc, nó chưa
13
được lãnh đạo và cấp quản lý trung gian chuyển tải vào các hoạt động của doanh
nghiệp. Ngược lại, trong điều kiện môi trường bên ngồi thay đổi, thì nhóm yêu tố
vòng ngồi cùng này sẽ chịu tác động trước hết và nói dễ thay đổi hơn các nhóm ở
vòng trong. Khi các nhóm ở các vòng bên ngồi so với lõi trong cùng thay đổi trong
một thời gian dài, đến lúc nào đó sẽ làm suy thóai giá trị được ví như lõi trong cùng
của thớ gỗ. Đến lúc đó thì văn hóa của doanh nghiệp đã thay đổi một cách tự phát.
Sự thay đổi này có thể phù hợp hoặc cản trở mục tiêu, nhiệm vụ của doanh nghiệp.
Áp dụng cấu trúc văn hóa vừa nêu trên vào các doanh nghiệp sẽ thấy không
có doanh nghiệp nào lại không có văn hóa của mình. Song điều khiến ta quan tâm là
ở chỗ: Văn hóa doanh nghiệp là “luật” không thành văn quy định cách thức thực sự
mà con người đối xử với nhau hàng ngày trong tổ chức, cách thức thực sự mà doanh
nghiệp giải quyết công việc, đáp ứng nhu cầu khách hàng. Văn hóa doanh nghiệp ăn
sâu vào niềm tin nên có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ
của tổ chức.
Có ba yếu tố ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc văn hóa doanh nghiệp:
- Mối quan hệ giữa nhân viên và tổ chức
- Hệ thống phân cấp và quyền lực xác định cấp trên, cấp dưới.
- Quan điểm chung của nhân viên về số phận, mục đích, mục tiêu và vị trí của họ
trong doanh nghiệp.
1.7 Hình thức biểu hiển của văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp cũng không phải là vô hình, khó nhận biết mà rất hữu hình,
thể hiện rõ một cách vật chất, chẳng những trong hành vi kinh doanh giao tiếp của công
nhân, cán bộ trong doanh nghiệp, mà cả trong hành hóa và dịch vụ của doanh nghiệp, từ
mẫu mã, kiểu dáng đến nội dung và chất lượng. Những tính chất của Văn hóa doanh
nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng thường hướng tới việc hình
thành một tập hợp các khuôn mẫu hành vi được áp dụng trong các mối quan hệ xã hội
trong tổ chức. Những khuôn mẫu hành vi này có thể được sử dụng để phản ánh bản sắc văn

hội cho mọi thành viên cùng chia sẻ cách nhận thức về những sự kiện trọng đại, để
nêu gương và khen tặng những tấm gương điển hình đại biểu cho những niềm tin
và cách thức hành động cần tôn trọng của tổ chức. Có bốn loại nghi lễ cơ bản:
chuyển giao(khai mạc, giới thiệu thành viên mới, chức vụ mới, lễ ra mắt ), củng cố
(lễ phát phần thưởng ), nhắc nhở (sinh hoạt văn hóa, chuyên môn, khoa học…),
liên kết (lễ hội, liên hoan, tết…).
- Giai thọai: Thường được thêu dệt từ những sự kiện có thực được mọi thành viên
trong tổ chức cùng chia sẻ và nhắc lại với những thành viên mới. Nhiều mẩu
chuyện kể về những nhân vật anh hùng của doanh nghiệp như những mẫu hình lý
tưởng về những chuẩn mực và giá trị Văn hóa doanh nghiệp. Một số mẩu chuyện
15
trở thành những giai thọai do những sự kiện đã mang tính lịch sử và có thể được
thêu dệt thêm. Một số khác có thể trở thành huyền thọai chứa đựng những giá trị và
niềm tin trong tổ chức và không được chứng minh bằng các bằng chứng thực tế.
Các mẩu chuyện có tác dụng duy trì sức sống cho các giá trị ban đầu của tổ chức và
giúp thống nhất về nhận thức của tất cả mọi thành viên.
- Biểu tượng: Là một thứ gì đó mà biểu thị một cái gì đó không phải là chính nó và
có tác dụng giúp cho mọi người nhận ra hay hiểu được thứ mà nó biểu thị.Các công
trình kiến trúc, lễ nghi, giai thọai, khẩu hiệu đều chứa những giá trị vật chất cụ thể,
hữu hình, các biểu trưng này đều muốn truyền đạt những giá trị, ý nghĩa tiềm ẩn
bên trong cho những người tiếp nhận theo cách thức khác nhau. Một biểu tượng
khác là logo hay một tác phẩm sáng tạo được thiết kế để thể hiện hình tượng về một
tổ chức, một doanh nghiệp bằng ngôn ngữ nghệ thuật phổ thông. các biểu tượng
vật chất này thường có sức mạnh rất lớn vì chúng hướng sự chú ý của người thấy
nó vào một (vài) chi tiết hay điểm nhấn cụ thể có thể diễn đạt được giá trị chủ đạo
mà tổ chức, doanh nghiệp muốn tạo ấn tượng, lưu lại hay truyền đạt cho người
thấy nó. Logo là loại biểu trưng đơn giản nhưng lại có ý nghĩa rất lớn nên được các
tổ chức, doanh nghiệp rất chú trọng.
- Ngôn ngữ, khẩu hiệu: Nhiều tổ chức, doanh nghiệp đã sử dụng những câu chữ đặc
biệt, khẩu hiệu, ví von, ẩn dụ hay một sắc thái ngôn ngữ để truyền tải một ý nghĩa

lý tưởng của những người trong tổ chức này. Thái độ là chất kết dính niềm tin và
giá trị thông qua tình cảm. Thái độ chính là thói quen tư duy theo kinh nghiệm để
phản ứng theo một cách thức nhất quán mong muốn hoặc không mong muốn đối
với sự vật, hiện tượng.
1.8 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa được tạo ra như một cơ chế khẳng định mục tiêu của doanh nghiệp, hướng
dẫn và uốn nắn những hành vi và ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp. Bất cứ
một tổ chức nào cũng có một số hiểu biết ngầm, những nguyên tắc vô hình tác động tới
cách ững xử hàng ngày tại nơi làm việc… Điều đó được biểu hiện rõ nét khi những thành
viên mới gia nhập tổ chức, ngay từ đầu họ không được chấp nhận như những thành viên
cũ, họ phải học những nguyên tắc của tổ chức đó. Sự vi phạm những nguyên tắc vô hình
này của cán bộ quản lý, hay nhân viên thực thi sẽ dẫn đến kết quả khó được mọi người
chấp nhận và thậm chí còn bị loại bỏ ra khỏi tổ chức. Sự tuân thủ những nguyên tắc đó
đóng vai trò là những căn cứ đầu tiên để được khen thưởng, thăng tiến. Những người sẽ
được tuyển vào làm việc hay được thăng tiến, tức là những người phù hợp, hay có một ảnh
hưởng mạnh với tổ chức cũng như các thành viên của tổ chức, có nghĩa họ phải là những
người có hành vi và cách ứng xử phù hợp với văn hóa đó.
Mặc dù tác động của Văn hóa doanh nghiệp đối với hoạt động của doanh nghiệp có
cả yếu tố tích cực và yếu tố cản trở, rất nhiều chức năng của nó là có giá trị đối với doanh
nghiệp cũng như các thành viên trong doanh nghiệp. Văn hóa khuyến khích tính cam kết
trong một doanh nghiệp, sự kiên định trong cách ứng xử của các thành viên. Điều này rõ
17
ràng là có lợi cho một doanh nghiệp. Văn hóa cũng rất có giá trị đối với các thành viên
trong doanh nghiệp, bởi vì nó giảm sự mơ hồ của họ, nó nói với họ mọi việc nên được làm
như thế nào và điều gì là quan trọng.
1.8.1 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp trong hoạt động quản lý
Quản trị là tổng hợp các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo hồn thành công
việc thông qua sự nỗ lực thực hiện của người khác. Hay nói cách khác, quản trị chính là
việc làm thế nào để sai khiến được những người dưới quyền mình thực hiện công việc một
cách hiệu quả nhất để đạt được mục tiêu chung. Mà muốn điều hành (sai khiến) được nhân

hưởng rất lớn đến việc định hướng chiến lược. Khi tiến hành thu thập thông tin và phân
tích môi trường kinh doanh, những người khảo sát và phân tích đều dựa trên những giả
thiết hay mô hình, cách thức sàng lọc nhất định làm cho tư liệu thu thập mất đi một phần
tính hiện thực, khách quan và tính tồn diện. Những tư liệu thu thập được lại được diễn đạt
theo những cách thức, ngôn ngữ thịnh hành trong tổ chức, chúng đã chịu ảnh hưởng của
đặc trưng văn hóa của tổ chức. Có thể khẳng định, Văn hóa doanh nghiệp luôn được thể
hiện trong chiến lược kinh doanh, và chiến lược kinh doanh cũng chính là bản kế họach
lớn, “chương trình hành động tổng quát “để triển khai Văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa
doanh nghiệp chính là công cụ thống nhất mọi người về nhận thức, ý thức và cách thức
hành động trong quá trình triển khai các chương trình hành động. Thực tế cho thấy, Văn
hóa doanh nghiệp là một nhân tố đóng góp (hoặc cản trở) quan trọng trong việc thực thi
chiến lược thành công. Thomas Watson.Jr là người thành công ở cương vị giám đốc điều
hành IBM đã phát biểu: “triết lý, tinh thần và sự mong muốn của một tổ chức có tác động
tới các thành tựu của công ty lớn hơn nhiều so với nguồn lực về kỹ thuật, kinh tế, cơ cấu tổ
chức, sáng kiến và điều chỉnh mọi nguồn lực kể trên có đóng góp mạnh mẽ vào sự thành
công của công ty. Nhưng theo tôi, chúng được thực hiện tốt vượt bậc bởi mọi người trong
tổ chức cùng tin tưởng vững chắc vào những nguyên tắc và giá trị cơ bản của công ty và
tiến hành công việc với một lòng trung thành không lay chuyển”. Niềm tin, mục tiêu và
thông lệ được đưa ra trong một chiến lược có thể phù hợp hoặc không phù hợp với Văn
hóa doanh nghiệp. Khi chúng không hồ hợp, công ty thường xuyên gặp phải khó khăn để
thực hiện chiến lược đó một cách thành công. một chiến lược phù hợp với văn hóa tạo
động lực cho mọi người trong công ty thực hiện công việc của mình trong bối cảnh tất cả
trợ lực cho chiến lược, làm tăng thêm đáng kể sức mạnh và hiệu quả của quá trinh thực thi
chiến lược. Môi trường văn hóa mạnh giúp thúc đẩy tốt các hoạt động sản xuất – kinh
doanh dài hạn khi nó tương thích với chiến lược và sẽ làm tổn hại không nhỏ tới thành tựu
của công ty khi nó ít phù hợp. Khi văn hóa công ty không ăn khớp những gì cần thiết cho
sự thành công của chiến lược thì văn hóa phải được thay đổi một cách nhanh chóng một
cách nhanh chóng nhất. Văn hóa được xác lập càng vững chắc thì càng khó khăn trong việc
thực thi chiến lược mới hay những chiến lược khác nhau. Sự xung đột lớn và kéo dài giữa
chiến lược – văn hóa sẽ làm yếu đi và thậm chí có thể làm bại mọi nỗ lực trong việc thực

sẽ là cứu cánh để lái người lao động theo hướng làm việc mà không chỉ nghĩ đến tiền
thưởng và nhà quản trị có thể sẽ không cần phải sử dụng nhiều các biện pháp khuyến khích
về mặt tiền bạc.
Quản trị sản xuất là quản lý quá trình hoặc hệ thống tạo ra hàng hóa và dịch vụ.
Văn hóa doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến lĩnh vực này, nó đóng vai trò như
một chất xúc tác gắn kết các nhân viên, tạo động lực tinh thần mạnh mẽ trong lao động,
giúp nhà quản trị sản xuất đạt được mục tiêu của mình (giảm chi phí đến mức thấp nhất có
thể để đạt lợi nhuận cao nhất, rút ngắn thời gian sản xuất, tổ chức xây dựng hệ thống sản
20
xuất và cung ứng dịch vụ có độ linh hoạt cao thích ứng với sự thay đổi nâng cao khả năng
cạnh tranh: chất lượng, mẫu mã, giá cả…)
Văn hóa chất lượng cũng là một bộ phận của Văn hóa doanh nghiệp, Quản trị chất
lượng thực chất là quá trình xây dựng văn hóa chất lượng trong doanh nghiệp. Vì vậy, để
hồn thành nhiệm vụ của mình, nhà quản trị chất lượng không thể không chú ý tới Văn hóa
doanh nghiệp mình.
Ngay cả trong lĩnh vực Quản trị tài chính, uy tín của doanh nghiệp đối với nhà
nước, các tổ chức tín dụng, đối với cổ đông, tính minh bạch, trung thực của các thông tin
về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, cũng phản ánh được tầm cao của Văn hóa doanh
nghiệp đó. Một doanh nghiệp có bản sắc văn hóa độc đáo là một doanh nghiệp tạo được
niềm tin nơi cổ đông, nhà đầu tư, khi ấy các công việc thuộc chức năng quản trị tài chính
(huy động vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng giá trị thị
trường của doanh nghiệp…) cũng được giảm nhẹ áp lực.
Văn hóa doanh nghiệp còn quyết định mẫu mã sản phẩm, ảnh hưởng tới phân phối
sản phẩm, chi phối các biện pháp xúc tiến và hỗ trợ kinh doanh, ảnh hưởng đến giá cả (vì
giá tiền mà khách hàng trả cho một sản phẩm phụ thuộc vào cả giá trị được nhận thức lẫn
giá trị thật của nó). Như vậy, Văn hóa doanh nghiệp còn có ảnh hưởng quyết định đến lĩnh
vực Marketing của doanh nghiệp.
1.8.2 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh
Văn hóa doanh nghiệp có tác động tồn diện lên hoạt động của doanh nghiệp:
• Tạo ra nhận dạng riêng cho doanh nghiệp đó, để nhận biết sự khác nhau giữa doanh

trong truyền thống của doanh nghiệp, tạo ra khuôn mẫu ứng xử của doanh nghiệp đó, được
các thành viên chấp nhận và tuân thủ, thể hiện sự hồ đồng bên trong doanh nghiệp nói
chung, cũng như việc ra quyết định trong những trường hợp cụ thể. Đặc biệt là trong việc
ra quyết định gặp phải những thực tế phức tạp, do sự khác nhau về nhận thức, về văn hóa
địa phương của các thành viên, thì Văn hóa doanh nghiệp sẽ có tác dụng để phạm vi hóa sự
lựa chọn. Văn hóa không chỉ xem như một yếu tố thuận lợi cho phối hợp, mà trong hình
thái giá trị, niềm tin, cách ứng xử, đặc biệt là các nhận thức chung. Văn hóa còn tạo ra sức
mạnh để kiểm sốt doanh nghiệp. Những chính kiến văn hóa đã hạn chế một cách có hiệu
quả hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp, họ chỉ được tự do thể hiện chính kiến
cá nhân của mình trong khuôn khổ chung của doanh nghiệp, điều này trong nhiều trường
hợp còn mạnh hơn cả những hệ thống nguyên tắc chính thống của doanh nghiệp. Nhiều
doanh nghiệp đã cố gắng tập hợp văn hóa của họ cho lợi thế cạnh tranh, đây chính là một
minh chứng về sức cạnh tranh văn hóa để tạo ra những ứng xử mong muốn, và đảm bảo
thực hiện được nguyên tắc.
Giảm rủi ro trong công việc hàng ngày (tránh mâu thuẫn về quyền lợi, kiểm sốt các
hoạt động trong doanh nghiệp, tối đa hóa các hoạt động có hiệu quả…). Ở cấp độ cá nhân,
một trong những chức năng của văn hóa là truyền tải những “ nhận thức chung” qua quá
trình đào tạo và tuyển chọn nhân viên mới. Điều này được thực hiện thông qua ý tưởng của
văn hóa, mà các thành viên mới phải học để hiểu và thực hiện trong công việc, để đảm bảo
22
những nhận thức chung về điều gì là quan trọng đối với doanh nghiệp, điều đó được thực
hiện và đối xử như thế nào trong doanh nghiệp. Việc thực hiện này sẽ tạo cơ sở suy nghĩ
cho họ để giảm sự lo âu buồn phiền, bình thường hóa mọi việc xung quanh, để có những
lựa chọn dễ dàng, và những hành động có suy nghĩ, hợp lý hơn.
Tạo động cơ: văn hóa doanh nghiệp có một vị trí quan trọng thúc đẩy động cơ làm
việc cho các thành viên của doanh nghiệp: yếu tố quyết định đến hiệu suất và hiệu quả hoạt
động của doanh nghiệp. Hầu hết các doanh nghiệp đều cố gắng tạo động cơ làm việc cho
nhân viên của họ thông qua cơ chế thưởng phạt. Mặc dù những yếu tố này rõ ràng có tác
dụng, tuy nhiên lý thuyết về động cơ làm việc cho rằng, mong muốn làm việc của nhân
viên còn chịu tác động của các động cơ khác như ý nghĩa và sự thích thú đối với công việc,

Văn hóa doanh nghiệp, bên cạnh yếu tố tích cực còn có các tác dụng tiêu cực:
- Văn hóa doanh nghiệp như một rào cản trước yêu cầu thay đổi và đa dạng. Điều
này sẽ xuất hiện trong môi trường năng động, thay đổi nhanh chóng, Văn hóa doanh
nghiệp có thể sẽ tạo một lực cản đối với những mong muốn thay đổi để thúc đẩy hiệu quả
của doanh nghiệp. Việc tuyển dụng những thành viên mới có nguồn gốc đa dạng về kinh
nghiệm, xuất xứ, dân tộc hay trình độ văn hóa dường như làm giảm bớt những giá trị văn
hóa mà mọi thành viên của doanh nghiệp đang cố gắng để phù hợp và đáp ứng. Văn hóa
doanh nghiệp vì vậy có thể tạo ra rào cản sức mạnh đa dạng mà những người với những
kinh nghiệm khác nhau muốn đóng góp cho doanh nghiệp.
- Ngăn cản sự đồn kết và hiệp lực của việc hợp tác giữa các doanh nghiệp
trong liên doanh liên kết, nếu như trước đây sự hồ hợp về các yếu tố cơ bản trong kinh
doanh có thể là cơ sở tốt cho một liên doanh, nhưng ngày nay điều đó chưa đủ nếu chúng
ta không tính đến yếu tố Văn hóa doanh nghiệp. Nhiều liên doanh đã vấp phải thất bại do
sự đối nghịch của văn hóa được hợp thành bởi hai doanh nghiệp thành viên.
Nhìn chung, Văn hóa doanh nghiệp có tác dụng tăng cường uy tín cho doanh
nghiệp, hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu của các doanh nghiệp. Nó tạo nên giá
trị doanh nghiệp, tinh thần dan, đạo đức doanh nghiệp, quản lý doanh nghiệp và thương
hiệu doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp là nguồn gốc của sức sáng tạo, đồn kết doanh
nghiệp, là động lực tinh thần cho sự tồn tại, cạnh tranh và phát triển của doanh nghiệp
trong thời kỳ đổi mới- nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa.
1.8.3 Vai trò của văn hóa doanh nghiệp đối với xã hội
Paul Haw Ken đã viết như sau: “Mục đích tối thượng của kinh doanh không phải
hay không nên chỉ đơn giản là kiếm tiền. Nó cũng không đơn thuần là hệ thống sản xuất và
buôn bán các loại hàng hóa. Kinh doanh hứa hẹn làm tăng thêm phúc lợi chung cho lồi
người thông qua hoạt động dịch vụ, hoạt động sáng tạo và triết lý đạo đức. Kiếm tiền bản
thân nó nói chung là vô nghĩa và chuốc lấy phức tạp và làm suy tàn thế giới mà chúng ta
đang sống”. Rõ ràng, những cách kiếm lời chỉ đơn thuần chạy theo lợi nhuận, ích kỷ, nhỏ
nhen, xem thường đạo đức, nhân cách, biểu hiện sự kinh doanh vô đạo đức và thiếu văn
hóa bị xã hội lên án và không thể tồn tại lâu dài. Trái lại,mục tiêu cao nhất của hoạt động
kinh doanh là làm thoả mãn tối đa nhu cầu hàng hóa và các dịch vụ xã hội. Do vậy, quan

doanh doanh ở Việt Nam hiện nay. Có thể thấy rõ điều này qua kinh nghiệm của nhiều
nước phát triển mà Nhật Bản là một điển hình, cách đây hơn 20 năm ở khắp các nhà máy,
xí nghiệp của họ luôn có một khẩu hiệu “chất lượng sản phẩm là danh dự của quốc gia”.
Nhờ thế mà cả Thế giới tin tưởng, khâm phục gọi là “Made in Japan”. Văn hóa mạnh
trong mỗi doanh nghiệp sẽ tạo nền một nền văn hóa mạnh của tồn xã hội.
Việc xây dựng và phát huy Văn hóa doanh nghiệp không chỉ tạo ra nguồn nội lực
vững chắc cho việc liên tục nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, nâng cao khả năng
25

Trích đoạn Văn hóa doanh nghiệp là nền tảng của thành công Văn hóa doanh nghiệp ở MaiLinh được xây dựng dựa trên các cơ sở Văn hóa hướng về cội nguồn Xây dựng văn hóa doanh nghiệp dựa trên hiệu quả công việc
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status