1
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn
Đề tài: "Tăng cường công tác bảo đảm tiền
vay bằng tài sản đối với các doanh nghiệp
nhỏ và vừa tại Sở giao dịch I - Ngân hàng
Công thương Việt Nam ”
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
2
Luận văn tốt nghiệp
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Với số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V) chiếm hơn 97% tổng số các
doanh nghiệp hiện có ở Việt Nam, nhu cầu vay vốn của loại hình doanh nghiệp này rất lớn.
Tuy nhiên khó khăn lớn nhất của các DNN&V hiện nay đó là nguồn tài chính eo hẹp mà
nhu cầu đổi mới công nghệ, máy móc, thiết bị ngày càng trở nên hết sức cấp bách, bởi khi
một doanh nghiệp muốn cạnh tranh trên thị trường thì phải có sản phẩm có tính cạnh tranh
cao, chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Các DNN&V hiện nay
đang đứng trước những khó khăn khi mà những ưu đãi về thuế và những chính sách khác
đang bị cắt giảm. Bên cạnh đó thì sức ép đầu vào, giá cả nguyên vật liệu…tăng cao trong
khi giá sản phẩm đầu ra chưa được điều chỉnh tăng theo tỷ lệ.
Việc huy động vốn để phát triển hoạt động đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
hiện nay cũng rất hạn chế vì thị trường tài chính của Việt Nam chưa thực sự hoàn thiện,
nơi cấp vốn hiệu quả nhất vẫn là các ngân hàng thương mại. Nhìn từ phía ngân hàng thì rủi
ro do các doanh nghiệp này mang lại là khá lớn, vì đây là khách hàng mà ngân hàng không
thể nắm bắt, đánh giá đúng đắn về tình hình tài chính, khả năng trả nợ như các doanh
nghiệp lớn, khách hàng truyền thống của ngân hàng. Các ngân hàng thường hạn chế rủi ro
bằng việc thực hiện bảo đảm tiền vay bằng tài sản. Vì vậy mà tăng cường công tác bảo
đảm tiền vay bằng tài sản là mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng thương mại nói chung
và của Sở giao dịch I nói riêng.
Trong thời gian thực tập tại Sở giao dịch I ngân hàng công thương việt Nam, được
hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn
nhất về qui mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng.
Có nhiều cách để định nghĩa ngân hàng thương mại thông qua chức năng, vai trò dịch
vụ mà chúng cung cấp trong nền kinh tế. Thực tế cho thấy không chỉ ngân hàng mà còn có
các tổ chức tài chính gồm công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán,
quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ ngân
hàng. Và ngược lại ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh bằng cách mở rộng
phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động
bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Có thể định nghĩa
ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp: Ngân hàng là tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín
dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất
kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Cũng có thể định nghĩa ngân hàng
thương mại dựa trên các hoạt động chủ yếu, theo luật cúa các tổ chức tín dụng của nước
Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi : Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền
này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
1.1.1.2 Các hoạt động chủ yếu của NHTM
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và doanh nghiệp.
Ngày nay hoạt động ngân hàng đang không ngừng phát triển, sự phát triển đó có thể thấy
trên tất cả các phương diện, từ sự ra đời của các sản phẩm dịch vụ mới cho tới sự xuất hiện
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
5
Luận văn tốt nghiệp
của các tập đoàn ngân hàng có qui mô toàn cầu được tạo ra từ làn sóng sáp nhập, hợp nhất.
Để có thể duy trì khả năng cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu xã hội nhiều ngân hàng hiện đã
thực hiện nhiều vai trò mới như: Vai trò thanh toán, vai trò người bảo lãnh, vai trò đại lý và
vai trò thực hiện chính sách, với mỗi vai trò đó ngân hàng cung cấp các dich vụ khác nhau
nhằm đáp ứng nhu cầu của công chúng và doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ
thuộc vào năng lực xác định các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiện các dịch
của các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp vào ngân hàng và sẽ được chi trả sau một thời
gian xác định. Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi
thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Nếu cần chi tiêu người gửi phải đến ngân
hàng rút tiền ra, hình thức này ra đời nhằm tăng thu cho người gửi tiền do tiền gửi thanh
toán tuy thuận lợi nhưng lãi suất thấp, loại tiền gửi này được hưởng lãi suất tuỳ theo độ dài
của kỳ hạn.
- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư. Dân cư gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện mục
tiêu bảo đảm an toàn và sinh lời đối với các khoản tiết kiệm, đặc biệt nhu cầu bảo toàn. Để
thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư
thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới hoạt động
đưa ra các hình thức huy động và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn. Ngân hàng có thể mở cho
mỗi người tiết kiệm nhiều chương mục tiết kiệm cho mỗi kỳ hạn, mỗi lần gửi khác nhau.
Sổ tiết kiệm này có thể được thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép.
- Tiền gửi của các ngân hàng khác. Là tiền của ngân hàng khác gửi vào ngân hàng
nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác và ngân hàng thương mại này
có thể gửi tiền tại ngân hàng khác, tuy nhiên quy mô nguồn này thường không lớn.
Hoạt động cung cấp tín dụng
Luật các tổ chức tín dụng qui định : Hoạt động tín dụng là việc tổ chức tín dụng sử
dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động được để cấp tín dụng, trong đó cấp tín dụng là
việc tổ chức tín dụng thoả thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có
hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và
các nghiệp vụ khác.
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương
mại, phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Tín dụng được chia thành nhiều tiêu
thức khác nhau.
- Theo thời gian : tín dụng ngắn hạn (thời hạn từ 12 tháng trở xuống), trung hạn
(trên 1 năm đến 5 năm), dài hạn (trên 5 năm). Tuy nhiên việc xác định thời hạn trên chỉ
mang tính chất tương đối vì có những khoản vay không xác định trước được thời hạn. Phân
chia tín dụng theo tiêu thức này có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên
quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của ngân hàng. Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại
lớn, các công ty lớn…
- Phân loại theo rủi ro :
Tín dụng lành mạnh là các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
8
Luận văn tốt nghiệp
Tín dụng có vấn đề : Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách
hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch chậm, khách hàng trì hoãn nộp báo
cáo tài chính…
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi : Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và
khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản bảo đảm có giá trị lớn…
Nợ quá hạn khó đòi : Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế chấp
nhỏ hoặc bị giảm giá.
Hoạt động trung gian thanh toán
Trung gian thanh toán gồm rất nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng khác nhau, phần
lớn là các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt.
- Dịch vụ chuyển khoản : Tức là chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác
trong cùng một hệ thống ngân hàng, hoặc giữa các hệ thống ngân hàng khác nhau …thông
qua các công cụ như séc, lệnh chi, lệnh thu…
- Dịch vụ thu hộ, chi hộ cho khách hàng có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân
hàng trong các giao dịch mua bán bằng uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, séc, L/C
- Dịch vụ trả lương qua tài khoản.
- Dịch vụ chuyển tiền theo yêu cầu của khách hàng dưới các hình thức : chuyển tiền
nhanh, chuyển tiền bằng thư, chuyển tiền bằng điện.
- Các dịch vụ bảo quản các giấy tờ có giá như vàng, bạc, đá quý, giấy tờ có giá
- Mua bán chứng khoán hộ khách hàng.
1.1.2 Hoạt động cho vay của NHTM
1.1.2.1 khái niệm hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một nghiệp vụ quan trọng của NHTM, là việc ngân hàng đưa tiền cho
khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác
thức cho vay khác nhau:
Theo thời gian :
- Cho vay ngắn hạn : cho vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống
- Cho vay trung hạn : cho vay có thời hạn trên 1 năm đến 5 năm
- Cho vay dài hạn : cho vay trên 5 năm
Theo thành phần kinh tế :
- Cho vay thành phần kinh tế quốc doanh
- Cho vay thành phần kinh tế ngoài quốc doanh
- Cho vay cá nhân, hộ gia đình
Theo đối tượng khách hàng :
- Cho vay đối với các doanh nghiệp lớn
- Cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
10
Luận văn tốt nghiệp
- Cho vay với khách hàng là cá nhân
- Cho vay các tổ chức tín dụng
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
11
Luận văn tốt nghiệp
Theo mục đích sử dụng vốn :
- Cho vay công nghiệp và thương mại
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay bất động sản
- Cho vay tiêu dùng
Theo mức độ tín nhiệm với khách hàng :
- Cho vay không bảo đảm
- Cho vay có bảo đảm
1.2. Các hình thức bảo đảm tiền vay
Nghị định 178/1999 NĐ-CP ngày 29/12/1999 về bảo đảm tiền vay của các tổ chức
chỉ thị của Chính Phủ để thực hiện các dự án đầu tư thuộc các chương trình kinh tế trọng
điểm, đặc biệt của Nhà nước các chương trình kinh tế - xã hội và đối với một số khách
hàng thuộc đối tượng được hưởng các chính sách tín dụng ưu đãi về điều kiện vay vốn theo
qui định tại các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ,
hay cho các cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn có bảo lãnh bằng tín chấp của tổ chức
đoàn thể, chính trị.
Cho vay theo hình thức này tiềm ẩn rủi ro khá cao đối với ngân hàng, vì vậy mà
ngân hàng phải rất thận trọng khi cho vay, để bảo đảm an toàn thì khi cho vay ngân hàng
nên đưa ra một số qui định đối với khách hàng vay hoặc bên thứ ba nếu xét thấy khách
hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, hoặc có dấu hiệu kinh doanh không hiệu quả.
1.2.3 Nguyên tắc bảo đảm tiền vay
Điều 4 số 178/1999 NĐ-CP qui định nguyên tắc bảo đảm tiền vay
- Ngân hàng được quyền lựa chọn khách hàng vay, lựa chọn bên bảo lãnh và lựa
chọn tài sản bảo đảm tiền vay đủ điều kiện theo qui định, các qui định của pháp luật có liên
quan và phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng theo từng thời kỳ.
- Khách hàng vay đang được cho vay không có tài sản bảo đảm bằng tài sản, nếu
trong quá trình sử dụng vốn vay ngân hàng phát hiện khách hàng vi phạm cam kết trong
hợp đồng tín dụng, ngân hàng có quyền yêu cầu khách hàng vay thực hiện các biện pháp
bảo đảm tiền vay bằng tài sản hoặc thu hồi nợ trước hạn.
- Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo qui định trong hợp đồng
tín dụng và qui định của pháp luật có liên quan để thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bên
bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh vẫn
chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì khách hàng vay hoặc bên bảo lãnh có trách nhiệm
tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết.
1.2.4 Điều kiện đối với tài sản bảo đảm tiền vay
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
13
Luận văn tốt nghiệp
Tài sản mà khách hàng vay, bên bảo lãnh dùng để cầm cố, thế chấp, bảo lãnh vay
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
14
Luận văn tốt nghiệp
chính của khoản vay. Vì vậy mà ngân hàng phải lựa chọn hình thức hoặc loại bảo đảm nào
mà bản thân khách hàng vay vốn cũng không muốn dùng nó như một nguồn trả nợ.
Bảo đảm tiền vay bằng tài sản đóng vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân
hàng, khách hàng mà còn đối với cả nền kinh tế.
Thứ nhất, đối với ngân hàng. Bảo đảm tiền vay giúp cho ngân hàng có đủ cơ sở
pháp lý để có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thứ nhất không thực hiện được. Trong
trường hợp khách hàng kinh doanh không hiệu quả, làm ăn thua lỗ… nên không có khả
năng trả nợ, hay trong trường hợp do ý chí của khách hàng không muốn trả nợ cho ngân
hàng khi đến hạn trả nợ, thì ngân hàng sẽ bán các tài sản bảo đảm đó đi để thu hồi toàn bộ
hoặc một phần khoản nợ (gốc và lãi). Vì đây là một trong những điều kiện ngân hàng xem
xét cho vay nên bảo đảm tiền vay giúp ngân hàng tạo lập và mở rộng việc tạo lập tín dụng
đối với khách hàng.
Thứ hai, đối với khách hàng. Bảo đảm tiền vay là một trong những điều kiện để tổ
chức, cá nhân được cấp tín dụng, là bước khởi đầu trong quan hệ tạo lập tín dụng với
NHTM, từ đó tạo điều kiện cho khách hàng vay vốn sản xuất kinh doanh, tiêu dùng, mở
rộng qui mô, đổi mới công nghệ…nâng cao khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, thoã mãn
đáp ứng nhu cầu của dân cư.
Thực tế cho thấy không một doanh nghiệp nào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không
vay vốn từ các NHTM hay các tổ chức tài chính. Bảo đảm tiền vay là cơ sở chứng minh tài
sản có của khách hàng để khách hàng có thể tiếp cận được với nguồn vốn ngân hàng.
Ngoài ra nó cũng ràng buộc trách nhiệm vật chất, buộc khách hàng phải thận trọng trong
việc sử dụng vốn vay một cách có hiệu quả và hợp pháp, trả nợ cho ngân hàng đúng hạn để
thu hồi tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của mình, nâng cao uy tín và tạo điều kiện thiết lập
mối quan hệ lâu dài với ngân hàng .
Thứ ba, bảo đảm tiền vay thúc đẩy việc tạo lập quan hệ giữa ngân hàng và khách
hàng. Khách hàng được hỗ trợ về vốn, từ đó có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, mở rộng qui mô, mở rộng thị trường, mua sắm máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ
gìn vật cầm cố, quyền của ngân hàng phát mại vật cầm cố khi khách hàng vay vi phạm các
cam kết trong hợp đồng tài trợ…
Theo thông tư 07/2003 TT-NHNN danh mục các tài sản cầm cố gồm :
- Máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu
dùng, kim khí quý, đá quý và các vật có giá trị khác.
- Ngoại tệ bằng tiền mặt, số dư trên tài khoản tiền gửi tại tổ chức cung ứng dịch vụ
thanh toán bằng tiền Việt Nam và ngoại tệ.
- Trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương
phiếu, các giấy tờ khác trị giá được bằng tiền. Riêng đối với cổ phiếu của các tổ chức tín
dụng phát hành, khách hàng vay không được cầm cố tại chính tổ chức tín dụng đó.
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
16
Luận văn tốt nghiệp
- Quyền tài sản phát sinh từ quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ,
quyền được nhận số tiền bảo hiểm, các quyền tài sản khác phát sinh từ hợp đồng hoặc từ
các căn cứ pháp lý khác.
- Quyền đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp, kể cả trong doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài.
- Quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên theo quy định của pháp luật.
- Tàu biển theo qui định của Bộ Luật hàng hải Việt Nam, Tàu bay theo qui định của
Luật hàng không dân dụng Việt Nam trong trường hợp được cầm cố.
- Tài sản hình thành trong tương lai là động sản hình thành sau thời điểm ký kết giao
dịch cầm cố và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên cầm cố như hoa lợi, lợi tức, tài sản hình
thành từ vốn vay, các động sản khác mà bên cầm cố có quyền nhận.
- Các tài sản khác theo qui định của pháp luật.
Lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản cầm cố cũng thuộc tài sản cầm cố, nếu các
bên có thoả thuận hoặc pháp luật qui định, trường hợp tài sản cầm cố được bảo hiểm thì
khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản cầm cố.
1.3.2.2 Bảo đảm tiền vay bằng tài sản thế chấp
Là hình thức theo đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy chứng nhận sở hữu
Luật hàng không dân dụng trong trường hợp được thế chấp.
- Tài sản hình thành trong tương lai là bất động sản hình thành sau thời điểm ký kết
giao dịch thế chấp và sẽ thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp như hoa lợi, lợi tức, tài sản
hình thành từ vốn vay, công trình xây dựng, các bất động sản khác mà bên thế chấp có
quyền nhận.
- Các tài sản khác theo qui định của pháp luật.
Hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh từ tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế
chấp, nếu các bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định; trường hợp tài sản thế chấp
được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp.
1.3.2.3 Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
Bên thứ ba dùng tài sản của mình cam kết với ngân hàng cho vay về việc thực hiện
nghĩa vụ trả nợ thay cho bên đi vay, khi bên đi vay không trả được nợ theo thoả thuận ghi
trong hợp đồng tín dụng. Bên thứ ba gọi là bên bảo lãnh, và chỉ được phép bảo lãnh bằng
tài sản thuộc sở hữu của chính mình hoặc bằng giá trị quyền sử dụng đất, đối với doanh
nghiệp Nhà nước thì tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của doanh nghiệp đó. Bên bảo
lãnh là ngân hàng thì thực hiện bảo lãnh theo qui định của Luật các tổ chức tín dụng và qui
định của NHNN VN.
Ngân hàng và bên bảo lãnh sẽ thoả thuận theo hình thức thế chấp hay cầm cố để
bảo đảm tiền vay. Theo phương thức này khi khách hàng vay vốn không trả được nợ (gốc,
lãi và chi phí khác nếu có) khi đến hạn thanh toán thì bên thứ ba sẽ đứng ra thanh toán
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
18
Luận văn tốt nghiệp
thay. Trong trường hợp nếu bên thứ ba từ chối không thực hiện cam kết như trong hợp
đồng bảo đảm thì ngân hàng được phép bán tài sản của bên thứ ba để thu hồi nợ theo qui
định của pháp luật, bên bảo lãnh có quyền được nhận lại giấy tờ, tài sản đã đem thế chấp
hay cầm cố khi hợp đồng bảo lãnh chấm dứt, có quyền yêu cầu bên được bảo lãnh trả
khoản nợ mà mình đã trả nợ thay.
Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba được thực hiện dưới hình thức thế chấp hay
cầm cố nên ngân hàng áp dụng mức cho vay như trong trường hợp bảo đảm tiền vay bằng
Quản lý TSBĐ
19
Luận văn tốt nghiệp
- Có khả năng tài chính và các nguồn thu nhập hợp pháp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
- Dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả hoặc có dự án đầu
tư, phương án phục vụ đời sống khả thi phù hợp với qui định của pháp luật.
- Có mức vốn tự có tham gia vào dự án đầu tư và giá trị tài sản bảo đảm tiền vay bằng
các biện pháp cầm cố, thế chấp tối thiểu bằng 15% vốn đầu tư của dự án hoặc phương án
đó.
Các tài sản này phải đáp ứng được về quyền sở hữu, sử dụng, được phép giao dịch,
phải xác định được giá trị, số lượng, dễ bán, dễ chuyển nhượng, ít bị mất giá. Tài sản là vật
tư, hàng hoá ngân hàng phải quản lý, giám sát được tài sản bảo đảm trong quá trình hình
thành và sau khi hình thành. Đối với tài sản mà pháp luật qui định phải mua bảo hiểm, thì
khách hàng vay phải cam kết mua bảo hiểm trong suốt thời hạn vay vốn khi tài sản đã
được hình thành đưa vào sử dụng.
Hình thức này hạn chế được người vay bán tài sản được hình thành từ vốn vay, tuy
nhiên cũng mang lại cho ngân hàng rủi ro khi người vay không trả được nợ, thì phần lớn
tài sản này khi khách hàng sử dụng cho sản xuất kinh doanh một phần bị hao mòn, giảm
giá, không bảo đảm cho ngân hàng thu đủ cả gốc và lãi.
1.3.3 Quy trình cho vay có bảo đảm bằng tài sản
Quy trình cho vay có bảo đảm bằng tài sản như sau :
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
Đến hạn trả
20
Luận văn tốt nghiệp
• Nhận và kiểm tra hồ sơ tài sản bảo đảm :
Cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm hướng dẫn, giải thích cụ thể để khách hàng vay
hoặc bên bảo lãnh có thể hiểu đầy đủ các trách nhiệm và nghĩa vụ cơ bản của bên vay đối
với TSBĐ. Kiểm tra kỹ lưỡng nhằm bảo đảm giấy tờ đầy đủ, hợp lý hợp lệ.
• Thẩm định và xác định giá trị TSBĐ :
bán, chuyển nhượng tại thời điểm định giá.
- Giá trị tài sản bảo đảm được xác định bao gồm cả hoa lợi, lợi tức và các quyền phát sinh
từ tài sản đó. Trường hợp tài sản thế chấp là toàn bộ bất động sản có vật phụ thì giá trị vật
phụ cũng thuộc tài sản thế chấp
Việc định giá phải căn cứ vào các cơ sở pháp lý hoặc cơ sở thực tế, bảo đảm tính
khách quan, minh bạch, cán bộ thẩm định không được đánh giá TSĐB trái với qui định của
pháp luật và của NHCT.
Xác định giá trị tài sản bảo đảm không phải là quyền sử dụng đất :
Đối với TSBĐ là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải thì xác định giá trị theo giá
mua bán thực tế hoặc theo giá trị còn lại (đã trừ khấu hao) dựa vào hoá đơn, hợp đồng mua
bán (đối với tài sản mới mua) hoặc giá trị còn lại trên sổ sách kế toán (tài sản cũ) nhưng
không vượt quá giá có thể mua bán thực tế trên thị trường.
Đối với TSBĐ là hàng hoá, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu thì xác định giá trị
bằng giá mà khách hàng vay, bên bảo lãnh mua dựa vào các hoá đơn, hợp đồng mua bán
nhưng không vượt quá giá có thể mua bán thực tế trên thị trường.
Đối với sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, cổ phiếu, tín phiếu, kỳ phiếu thì xác định
giá trị theo mệnh giá của sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu, kì phiếu đó.Với sổ tiết
kiệm, chứng chỉ tiền gửi do chính ngân hàng phát hành thì ngoài việc xác định giá trị theo
mệnh giá còn có thể cộng thêm phần lãi mà khách hàng vay, bên bảo lãnh có thể nhận
được tính đến thời điểm trả nợ cuối cùng trong hợp đồng tín dụng trừ đi phần lãi mà khách
hàng vay, bên bảo lãnh đã nhận…
Xác định giá trị tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất :
Về nguyên tắc giá trị tài sản là quyền sử dụng đất được định giá theo giá thoả thuận
nhưng không vượt quá khung giá do uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, các cấp có thẩm
quyền của Nhà nước ban hành để xác định giá trị của TSBĐ, gồm các loại sau :
- Đất mà hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp
Đất do Nhà nước giao có thu tiền đối với các tổ chức kinh tế
- Đất mà tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
22
tài sản, tình hình sử dụng và bảo quản, các trường hợp vi phạm hợp đồng bảo đảm của
khách hàng, bên thứ ba.
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
23
Luận văn tốt nghiệp
Trường hợp tài sản bảo đảm do chính ngân hàng quản lý. Đối với giấy tờ có giá thì
sau khi nhận bàn giao giấy tờ có giá từ khách hàng thì cán bộ thẩm định tiến hành thủ tục
bàn giao và bảo quản giấy tờ có giá tại phòng ngân quỹ của chi nhánh. Cán bộ tín dụng nên
giữ bản sao toàn bộ các giấy tờ có giá gửi lưu giữ tại phòng ngân quỹ để tiện cho quá trình
làm việc, tránh tình trạng cán bộ tín dụng lấy lại, xem lại giấy tờ có giá nhiều lần. Còn đối
với các tài sản bảo đảm khác như là nhà cửa, Ô tô, hàng hoá…ngân hàng buộc phải trực
tiếp quản lý và bảo quản, trong trường hợp này ngân hàng nên thuê bên thứ ba bảo quản
hộ nếu ngân hàng không có kho riêng hoặc không có nhân sự có chuyên môn.
• Thanh lý hợp đồng:
Khi đến hạn thanh toán, nếu khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của
mình thì ngân hàng sẽ tiến hành giải chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm được
thanh lý hoàn toàn, còn nếu trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiện được nghĩa vụ
trả nợ thì ngân hàng sẽ xử lý TSBĐ của khách hàng để thu hồi nợ.
TSBĐ tiền vay được xử lý theo phương thức đã thoả thuận trong hợp đồng bảo đảm
tiền vay giữa bên bảo đảm và ngân hàng. Nếu không xử lý được theo phương thức thoả
thuận thì ngân hàng có quyền : bán, ngân hàng có thể nhận chính TSBĐ để thay thế cho
việc thực hiện nghĩa vụ bảo đảm chuyển nhượng tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, yêu cầu
bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, nếu bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng nghĩa vụ thì xử lý tài sản của bên bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh.
Ngân hàng có quyền xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ trong những trường hợp
sau :
- Sau thời hạn 60 ngày kể từ khi đến hạn trả nợ, mà TSBĐ tiền vay chưa được xử lý
theo thoả thuận.
- Khách hàng vay phải thực hiện trả nợ trước hạn theo qui định của pháp luật,
mua tài sản, chi phí phải trả để hình thành là cơ sở để xác định giá trị tài sản, giá trị này
không được vượt dự toán được duyệt và giá trị tài sản thoả thuận ghi trên hợp đồng mua
bán đã ký. Khi tài sản đã hình thành thì việc xác định giá trị tài sản được thực hiện như
việc xác định giá trị tài sản trong trường hợp thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba
nhưng không được vượt giá trị được quyết toán.
Định kỳ, ngân hàng phải tiến hành đánh giá lại giá trị tài sản bảo đảm nhằm tránh
những rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra. Việc đánh giá được tiến hành trong những trường hợp
như : Khi hết thời hạn 06 tháng đối với động sản và 01 năm đối với động sản kể từ lần định
giá gần nhất, giá trị tài sản bị giảm hư hỏng, lạc hậu, mất mát, thực hiện gia hạn nợ, điều
chỉnh kỳ hạn nợ, xử lý để thu hồi nợ, giá trị thị trường của tài sản có biến động giảm so với
lần định giá gần nhất…Cán bộ tín dụng chịu trách nhiệm thường xuyên theo dõi để xác
định và đề nghị thời điểm cần đánh giá lại giá trị tài sản bảo đảm.
SVTH: Lê Thị Hải Yến - Lớp: Tài chính 46Q
25
Luận văn tốt nghiệp
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác bảo đảm tiền vay bằng tài sản
1.3.4.1 Yếu tố thuộc về khách hàng
Để bảo đảm hoạt động an toàn và sinh lợi ngân hàng thường cho vay khi xét thấy
khách hàng vay có hoạt động kinh doanh đạt hiệu quả, có tài sản bảo đảm đáp ứng được
các yêu cầu của ngân hàng. Tuy nhiên có những nguyên nhân chủ quan thuộc về khách
hàng vay vốn, ngân hàng là nơi đứng ra cấp vốn nhưng khách hàng lại là người trực tiếp sử
dụng vốn, do vậy ngân hàng không thể kiểm soát được khách hàng một cách toàn diện.
Trình độ yếu kém của khách hàng vay vốn trong dự đoán các vấn đề kinh doanh,
yếu kém trong công tác quản lý, công tác marketing, tiếp thị sản phẩm. Hay có nhiều khách
hàng thiếu vốn hoặc tỷ trọng vốn vay quá lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động, khả năng tự
chủ về tài chính thấp, bị động trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên đến hạn nợ không
thể xử lý kịp thời thanh toán cho ngân hàng, công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lượng sản
phẩm thấp chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ sản phẩm
của doanh nghiệp. Dẫn đến kinh doanh không hiệu quả, khả năng trả nợ kém khiến hiệu
quả của công tác bảo đảm tiền vay bị giảm sút.