1
Luận văn
1
2
Đề tài: “tăng cường hoạt động đầu tư của
ngân hàng công thương Việt Nam trên thị
trường chứng khoán”MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.
Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế. Sự
ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế thị trường là một
tất yếu. Việc phát triển thị trường chứng khoán còn liên quan đến tiến trình cổ phần
hóa đang diễn ra sôi động hiện nay. Tuy nhiên từ sau khi ra đời, kết quả hoạt động
của thị trường chứng khoán không như mong đợi, một phần là do sự tham gia hỗ trợ
rất hạn chế của các ngân hàng thương mại. Hơn nữa hoạt động huy động vốn và cho
vay truyền thống của các ngân hàng thương mại đã không còn đáp ứng kịp thời nhu
cầu vốn cho nền kinh tế. Vì vậy việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hai chủ thể trên
đồng thời tìm ra giải pháp để thúc đẩy sự tham gia của các ngân hàng thương mại
trên thị trường chứng khoán, hỗ trợ cho sự phát triển của thị trường chứng khoán là
cần thiết.
Việc lựa chọn đề tài nghiên cứu “tăng cường hoạt động đầu tư của ngân hàng
công thương Việt Nam trên thị trường chứng khoán”, một mặt tìm ra giải pháp đổi
mới củng cố hoạt động của ngân hàng công thương Việt Nam, thành ngân hàng đa
năng hiện đại với những hoạt động đa dạng, đồng thời giúp cho thị trường chứng khoán
trở nên sôi động hơn, thực sự phát huy vai trò kênh dẫn vốn mới cho nền kinh tế.
2
3
2. Mục đích nghiên cứu.
- Nghiên cứu mối quan hệ giữa ngân hàng thương mại và thị trường chứng
khoán , vai trò của ngân hàng thương mại đối với hoạt động của thị trường
chứng khoán , từ đó chỉ ra lợi ích của ngân hàng thương mại cũng như của
4
5
CHƯƠNG 1
HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1. Sự ra đời và quan niệm về NHTM
Ngân hàng là một loại hình tổ chức có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế.
Vai trò của nó là biến các khoản tiết kiệm thành đầu tư thông qua dòng tài chính
gián tiếp. Có rất nhiều cách định nghĩa về Ngân hàng, đó là theo chức năng hay các
dịch vụ mà chúng thực hiện trong nền kinh tế.
Theo quan niệm cổ điển, Ngân hàng là tổ chức nhận tiền gửi và cho vay tiền.
Tuy nhiên cách định nghĩa trên không phân biệt được Ngân hàng với một số tổ chức
tài chính khác. Vì vậy có một cách tiếp cận mới đầy đủ hơn về Ngân hàng, đó là
dựa trên các dịch vụ mà nó cung cấp: Ngân hàng là một loại hình tổ chức tài chính
cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết
kiệm và các dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với
bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp
phần thực hiện các mục tiêu kinh tế của Nhà nước.
Như vậy, về bản chất, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc thù,
tính chất đặc thù thể hiện ở chỗ đối tượng tác nghiệp là tiền tệ. Ngân hàng thương
mại không trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất như các doanh nghiệp thuộc lĩnh
vực sản xuất – kinh doanh nhưng tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình sản xuất, lưu
thông và phân phối sản phẩm xã hội bằng cách cung ứng vốn tín dụng, vốn đầu tư
cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế mở rộng kinh doanh, góp phần tăng nhanh
tốc độ phát triển kinh tế.
5
6
Hoạt động nhận tiền gửi và cho vay đối với các khách hàng đã hình thành
chức năng tạo tiền của ngân hàng, tham gia vào quá trình mở rộng lượng tiền cung
ứng, góp phần tác động vào sự hình thành lãi suất, ảnh hưởng đến hoạt động của thị
trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng.
Tiếp theo đó là hoạt động đầu tư, một hoạt động tuy có quy mô và chiếm tỷ
trọng nhỏ song cũng có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc tạo điều kiện cho các
NHTM thâm nhập sâu vào nền kinh tế.
Hoạt động quan trọng khác bên cạnh cho vay và đầu tư là chiết khấu, cầm cố
các giấy tờ có giá. Ngay từ thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu thương phiếu
mà thực tế là cho vay đối với các doanh nhân địa phương, những người bán các
khoản phải thu cho ngân hàng để lấy tiền mặt.
Ngoài ra bên tài sản của NHTM còn có khoản mục ngân quỹ, trong đó có dự
trữ bắt buộc và dự trữ vượt quá. Đó là số tiền các NHTM trước khi tiến hành cho
vay và đầu tư phải dự trữ một phần nguồn vốn của mình để đảm bảo sự an toàn
trong hoạt động kinh doanh. Khoản mục dự trữ bắt buộc sẽ gửi tại NHTW, phần
còn lại được giữ tại ngân hàng trong tài khoản thanh toán. Đây chính là tồn quỹ
nghiệp vụ của ngân hàng, những khoản sinh lời rất thấp nhưng lại có tính lỏng cao
nhằm đảm bảo cho khả năng thanh toán và sự an toàn trong các hoạt động kinh
doanh khác của Ngân hàng.
Các hoạt động sử dụng vốn còn lại của NHTM bao gồm: mua sắm tài sản cố
định, thực hiện các hoạt động tài trợ, quảng cáo….chiếm tỷ trọng nhỏ và không trực
tiếp mang lại lợi nhuận cho ngân hàng nhưng góp phần phát triển và quảng bá các
hoạt động ngân hàng.
Hoạt động trung gian tài chính hay hoạt động tài trợ ngoại bảng của ngân
hàng thương mại
Đây là những hoạt động rất cơ bản và chính là những hoạt động đầu tiên của
một ngân hàng thương mại sơ khai.
Thực hiện trao đổi ngoại tệ: Lịch sử cho thấy một trong những dịch vụ ngân
hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi ngoại tệ, đó là việc một ngân hàng đứng ra
mua bán một loại tiền này để lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Sự trao
8
9
Nguồn vốn của NHTM đa năng vẫn bao gồm các khoản mục cơ bản như:
vốn chủ sở hữu, vốn huy động và vốn vay nhưng cơ cấu vốn và phương thức huy
động vốn đã có nhiều thay đổi. Các công cụ để huy động vốn đa dạng, phong phú
hơn và đã chú trọng rất nhiều đến lợi ích khách hàng. Đặc biệt, các NHTM đã mở
rộng và tăng cường huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán bằng cách phát
hành cổ phiếu, trái phiếu với các kỳ hạn khác nhau.
Chức năng cơ bản của hệ thống ngân hàng ngày nay là tạo ra và cung cấp các
dịch vụ tài chính mà thị trường có nhu cầu. Trước đây, một trong những dịch vụ
quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn nhất là cho vay. Ngày nay các ngân hàng đã thực
hiện được những khoản cho vay tài trợ đối với hoạt động đầu tư của các hãng kinh
doanh hay tài trợ cho chi tiêu của các thành viên trong xã hội. NHTM đã mở rộng
đối tượng cho vay từ chỗ chỉ ưu tiên cho các doanh nghiệp vay vốn để phục vụ sản
xuất sang cho vay tiêu dùng. Những khoản vay này tạo ra công ăn việc làm và thu
nhập cho hàng ngàn người. Mặc dù không phải tất cả những người này đều vay vốn
ngân hàng nhưng chắc chắn họ là những người được hưởng lợi gián tiếp từ hoạt
động cho vay. Các ngân hàng thương mại cũng có thể cho vay lẫn nhau. Tuy nhiên
ngân hàng không thể sử dụng toàn bộ số vốn huy động để cho vay. Một mặt, hầu
hết các khoản cho vay có tính thanh khoản thấp, ngân hàng không thể bán chúng
trên thị trường một cách dễ dàng để đáp ứng nhu cầu tiền mặt. Một vấn đề khác nữa
là những khoản cho vay thuộc nhóm tài sản của ngân hàng có mức rủi ro cao nhất
như rủi ro do vỡ nợ cao nhất.
Vì tất cả những lý do trên, các ngân hàng đã phân chia danh mục tài sản của
mình vào một số loại hình tài sản sinh lời khác: đầu tư chứng khoán, kinh doanh
ngoại tệ, kinh doanh bất động sản . Ngân hàng chủ yếu đầu tư vào các loại chứng
khoán sau: tín phiếu và trái phiếu chính phủ, tín phiếu và trái phiếu công ty, các loại
chứng khoán nợ khác và một số loại cổ phiếu được pháp luật cho phép.
Về hoạt động trung gian, trước hết là tư vấn tài chính. Các NHTM thường
được khách hàng yêu cầu thực hiện hoạt động tư vấn tài chính, đặc biệt là về tiết
11
Để phục vụ cho nhu cầu tăng vốn dài hạn, ngoài hình thức huy động các loại
tiền gửi, vay NHTM khác trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng… ngân hàng thương
mại có thể huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu (đối với các ngân hàng
thương mại cổ phần là tăng vốn điều lệ) và trái phiếu để vay tiền từ nền kinh tế.
Việc các NHTM phát hành cổ phiếu, trái phiếu có ý nghĩa quan trọng: Một mặt nó
góp phần tăng cung hàng hoá cho thị trường chứng khoán, là động lực giúp cho thị
trường phát triển. Mặt khác nó là một kênh dẫn vốn quan trọng cho các NHTM để
phục vụ mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.
1.1.3.2 Đầu tư và kinh doanh chứng khoán
Với tiềm lực tài chính mạnh và khả năng sử dụng vốn ngắn hạn đầu tư dài
hạn, các NHTM ngày nay không chỉ thực hiện vai trò là một trung gian tài chính -
sử dụng nguồn vốn để cho vay hay biến các khoản tiết kiệm trong dân cư thành các
khoản đầu tư của ngân hàng nhằm mục đích sinh lợi- mà còn tham gia trên TTCK
với vai trò là nhà đầu tư trực tiếp. Hầu hết các NHTM đầu tư trên thị trường trái
phiếu, đặc biệt là đối với trái phiếu Chính phủ, vốn đòi hỏi tầm nhìn đầu tư trung và
dài hạn. Hoạt động đầu tư nhằm mục đích tăng thu nhập cho chính bản thân ngân
hàng. Trên thực tế, một số lượng lớn trái phiếu chính phủ và công trái là NHTM
mua. Thêm nữa, các ngân hàng còn thực hiện kinh doanh chứng khoán theo sự ủy
thác của khách hàng. Song song với các hoạt động đầu tư là đầu cơ chứng khoán
trên thị trường: tiến hành mua chứng khoán để bán chứng khoán tại các thời điểm
khác nhau khi có sự biến động của thị giá chứng khoán.
Các hoạt động kinh doanh chứng khoán trực tiếp nói trên ngày càng được
các ngân hàng chú trọng hơn vì chúng mang lại nhiều khoản thu nhập lớn cho ngân
hàng. Khi đưa ra quyết định đầu tư vào các loại chứng khoán tại những thời điểm
thích hợp, ngân hàng là người có lợi thế hơn bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào khác
vì có đầy đủ các cơ sở thông tin về doanh nghiệp phát hành chứng khoán, khả năng
chuyên môn về phân tích thông tin, thẩm định năng lực tài chính tốt.
1.1.3.3 Bảo lãnh phát hành chứng khoán
11
hoàn trả vốn vay cùng lãi cho NHTM. Trường hợp khách hàng không trả được nợ,
NHTM có quyền bán chứng khoán cầm cố để thu hồi khoản vay.
Trong hoạt động cho vay cầm cố, rủi ro xảy ra đối với NHTM là chứng
khoán cầm cố có thể bị giảm giá tới mức giá trị của chúng thấp hơn giá trị khoản
vay cầm cố. Vì thế khi cho vay, NHTM phải có những nguyên tắc riêng để đảm bảo
thu hồi vốn và tránh tập trung cho vay quá mức vào một khách hàng hay một loại
chứng khoán nhất định. Hoạt động này thường đi kèm với hoạt động môi giới và hỗ
trợ hoạt động môi giới của NHTM.
* Quản lý thu nhập từ chứng khoán cho khách hàng
Xuất phát từ hoạt động lưu ký chứng khoán, NHTM tổ chức theo dõi tình
hình thu lãi chứng khoán khi đến hạn rồi gửi thông báo cho khách hàng. Tuy nhiên
trên thực tế, các NHTM thường không trực tiếp quản lý thu nhập chứng khoán mà
việc trả lãi chứng khoán do các tổ chức phát hành tự động chuyển thành chứng
khoán tại trung tâm lưu ký chứng khoán thuộc sở giao dịch chứng khoán.
Ngoài việc quản lý thu nhập từ chứng khoán cho khách hàng, các NHTM
còn quản lý số tiền đầu tư chứng khoán cho các nhà đầu tư chứng khoán.
* Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn góp của những người đầu
tư, được uỷ thác cho các công ty quản lý quỹ đầu tư để quản lý và đầu tư vào chứng
khoán nhằm mục đích phục vụ lợi ích cho những người đầu tư vào quỹ. Để hình
thành một quỹ đầu tư chứng khoán, phải có một công ty quản lý quỹ đầu tư đứng ra
thành lập quỹ huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ quỹ đâu tư. Khi
quỹ đã được thành lập, công ty quản lý quỹ có thể sử dụng số tiền thu được từ việc
phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư vào các loại chứng khoán trên thị trường theo điều
lệ của quỹ đầu tư chứng khoán. Trong hoạt động quản lý đầu tư, công ty quản lý
quỹ phải tách bạch các tài sản của công ty với tài sản của quỹ. Để thực hiện tốt việc
này, phải có một ngân hàng giám sát đứng ra quản lý tiền và lưu ký chứng khoán
của quỹ. Công ty quản lý quỹ có trách nhiệm thực hiện kinh doanh chứng khoán do
13
14
Ngoài ra, các ngân hàng thương mại cũng gián tiếp tham gia vào quá trình
tạo hàng hoá cho thị trường chứng khoán thông qua các hoạt động trên thị trường sơ
cấp bằng việc cung cấp các dịch vụ về tư vấn cho các doanh nghiệp phát hành
chứng khoán, làm đại lý hoặc bảo lãnh phát hành trái phiếu chính phủ, chứng khoán
doanh nghiệp.
Như vậy ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng đối với việc tạo ra
lượng hàng hoá đa dạng, phong phú cho thị trường chứng khoán.
1.1.4.2. Trên thị trường thứ cấp
NHTM có vai trò quan trọng trên thị trường thứ cấp như sau:
a. Đối với các chủ thể khác nhau tham gia trên thị trường
Hoạt động trên thị trường thứ cấp tuân theo ba nguyên tắc cơ bản là: Nguyên
tắc trung gian, nguyên tắc đấu giá và nguyên tắc công khai. Trong đó, nguyên tắc
trung gian đòi hỏi “những người muốn mua hay bán chứng khoán không tiến hành
giao dịch trực tiếp với nhau mà phải thông qua các nhà trung gian môi giới”. Vì
vậy, các NHTM, đặc biệt là các CTCK của NHTM là cầu nối giữa khách hàng hay
các nhà đầu tư với các nhà phát hành trên TTCK. Thông qua các trung gian tài
chính như NHTM, CTCK, hoạt động của TTCK sẽ đảm bảo đúng mục đích: ổn
định, lành mạnh, hợp pháp, các chứng khoán giao dịch được đảm bảo là chứng
khoán thực, bảo vệ lợi ích cho nhà đầu tư.
Ngoài ra, với nghiệp vụ môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư cho
khách hàng, NHTM có vai trò giúp khách hàng lựa chọn chứng khoán để đầu tư
một cách hiệu quả nhât.
Ngân hàng do có những quan hệ khách hàng lâu dài nên hệ thống thông tin
của ngân hàng cũng vô cùng quan trọng, đây chính là cơ sở để tham chiếu tính
chính xác, trung thực về thông tin liên quan đến các công ty niêm yết, đảm bảo
nguyên tắc công khai, minh bạch của TTCK. Đồng thời, việc ngân hàng thương mại
tham gia sẽ tiết kiệm chi phí trong việc thu thập và xử lý thông tin cho nhà đầu tư.
b.Đối với việc xác định giá cả trên thị trường.
15
16
biệt là hệ thống thông tin mà ngân hàng nắm giữ, các phân tích về khả năng tài
chính của các doanh nghiệp niêm yết, đây là điều khó khăn và tốn nhiều chi phí nếu
nhà đầu tư cá nhân muốn có được. Bởi vậy, hoạt động đầu tư chứng khoán của các
NHTM là hoạt động có chất lượng đầu tư cao, độ rủi ro thấp…
Quy mô đầu tư lớn, danh mục đầu tư linh hoạt và đa dạng
Hoạt động đầu tư chứng khoán của NHTM ngày càng lớn do vai trò ngày
càng quan trọng của nó trong hoạt động của NHTM, do sự tăng trưởng, phát triển
của NHTM trên quy mô tài sản, nguồn vốn, do áp lực cạnh tranh ngày càng khốc
liệt…Để đảm bảo được yêu cầu về việc đáp ứng khả năng thanh khoản khi cần
thiết, khả năng sinh lợi…NHTM thực hiện đầu tư vào một danh mục chứng khoán
linh hoạt và đa dạng. Sự linh hoạt và đa dạng thể hiện ở các loại chứng khoán khác
nhau, thời gian đáo hạn khác nhau, mức độ rủi ro, sinh lời khác nhau, khả năng
chuyển đổi thành tiền khác nhau…
Hoạt động đầu tư bị kiểm soát
Cũng giống như các hoạt động sử dụng vốn khác của NHTM, hoạt động đầu
tư chứng khoán bị kiểm soát chặt chẽ bởi chính bản thân ngân hàng và của Nhà
nước. Hoạt động đầu tư của NHTM thường được quy định chi tiết trong Luật các
TCTD, các quy định của NHNN và điều lệ của NHTM. Mục đích của việc kiểm
soát của bản thân các ngân hàng là nhằm đáp ứng yêu cầu về tính an toàn trong
hoạt động và đảm bảo lợi ích của người gửi tiền.
Phạm vi đầu tư lớn, đa dạng
Hoạt động của các NHTM thường bao trùm lên hầu hết các ngành nghề, khu
vực của nền kinh tế quốc dân, do đó các NHTM nắm được nhiều thông tin, cơ hội
đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau. Tận dụng những cơ hội này trong
hoạt động đầu tư chứng khoán, các NHTM có được phạm vi đầu tư lớn và đa dạng.
* Phân loại hoạt động đầu tư
a. Theo mục đích đầu tư
Đầu tư ngân quỹ : Là việc NHTM đầu tư những khoản rất ngắn hạn vào các
chứng khoán có tính thanh khoản cao với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán,
17
Thiết lập mục tiêu đầu tư
Thiết lập chiến lược đầu tư
Xây dựng danh mục
Giám sát, đo lường và đánh giá kết quả hoạt động
19
đầu tư vào các loại trái phiếu: trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, trái phiếu
kho bạc…
Đầu tư cổ phiếu : Đầu tư vào cổ phiếu là việc các NHTM thực hiện mua một
loại cổ phiếu hay một danh mục cổ phiếu với nhiều mục đích khác nhau như hưởng
lợi, nắm quyền kiểm soát…
1.2.2. Quy trình đầu tư chứng khoán của Ngân hàng thương mại
Sơ đồ 1.3: Các bước quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Thiết lập mục tiêu đầu tư: Đây là bước đầu tiên và cũng là bước có ý nghĩa
quyết định đến các khâu tiếp theo. Thông thường, mục tiêu đầu tư bao gồm: Mức
sinh lời kỳ vọng trong một thời kỳ nhất định; Mức rủi ro tối đa có thể chấp nhận
được; Thời gian đầu tư làm cơ sở cho việc đánh giá kết quả của hoạt động đầu tư.
Như vậy, 2 khía cạnh quan trọng nhất của mục tiêu đầu tư là lợi nhuận và rủi
ro.
Thiết lập chiến lược đầu tư: Việc thiết lập chiến lược đầu tư nhằm đáp ứng
cao nhất những mục tiêu đầu tư đã đặt ra. Để làm được điều này nhà quản lý danh
mục đầu tư phải tìm hiểu kỹ các điều kiện kinh tế, tài chính hiện tại và dự báo được
những xu thế sẽ diễn ra trong tương lai, từ đó kết hợp những dự báo về thị trường
19
20
với nhu cầu đầu tư để lập ra chiến lược thích hợp. Thông thường các nhà quản lý
danh mục đầu tư sẽ lựa chọn giữa chiến lược quản lý danh mục chủ động và chiến
lược quản lý danh mục thụ động hoặc là kết hợp giữa các chiến lược này.
Xây dựng danh mục: Căn cứ vào lược đầu tư đã được thiết lập, người quản lý
danh mục sẽ cụ thể hoá chiến lược đó, đưa ra quyết định về việc phân bổ cho các
chứng khoán khác nhau, theo đó sẽ đưa ra quyết định cụ thể là sẽ đầu tư vào những
hơn. Đa dạng hoá danh mục đầu tư bằng cách đa dạng hoá về loại chứng khoán,
đầu tư vào nhiều loại công cụ - chứng khoán có mức độ rủi ro khác nhau như cổ
phiếu, trái phiếu, tham gia các quỹ đầu tư…; trong từng loại chứng khoán đầu tư
vào nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác nhau qua đó giảm thiểu tác động từ những rủi
ro cụ thể của các ngành nhất định. Đa dạng hoá danh mục đầu tư là biện pháp quan
trọng nhất giúp cho việc đạt được các mục tiêu tài chính dài hạn trong khi giảm
thiểu được rủi ro. Tuy nhiên đa dạng hoá không đảm bảo chắc chắn mọi rủi ro sẽ
được loại bỏ hết và hoàn toàn không có khả năng thua lỗ, mà đa dạng hoá chỉ có
thể loại bỏ một phần hoặc toàn bộ rủi ro phi hệ thống, còn không thể loại bỏ được
rủi ro hệ thống.
* Vai trò của danh mục đầu tư chứng khoán
Việc nắm giữ các chứng khoán có vai trò quan trọng đối với danh mục tài
sản của ngân hàng như đem lại thu nhập, nâng cao tính thanh khoản, tăng cường
mức độ đa dạng hoá, hạn chế rủi ro và ít nhất một phần thu nhập của ngân hàng
không phải chịu thuế. Khoản mục đầu tư cũng có vai trò ổn định thu nhập của ngân
hàng, tạo ra thu nhập bổ sung khi các nguồn thu khác (đặc biệt là nguồn thu từ lãi
cho vay) suy giảm.
1.3. Điều kiện để NHTM đầu tư trên TTCK
Để tham gia hoạt động cũng như đầu tư trên thị trường chứng khoán, các
NHTM cũng phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về cơ sở pháp lý, quy mô hoạt
động, uy tín, trình độ công nghệ ngân hàng và tuân thủ nghiêm túc các quy định
của thị trường.
21
22
1.3.1. Cơ sở pháp lý:
Có ba quan điểm về sự tham gia của các ngân hàng trên trên thị trường
chứng khoán bao gồm: các ngân hàng có thể tự do tham gia kinh doanh trên TTCK;
các ngân hàng muốn kinh doanh trên thị trường chứng khoán thì phải thành lập
công ty chứng khoán riêng; các ngân hàng thương mại không được hoặc chỉ tham
gia một cách hạn chế vào hoạt động của thị trường chứng khoán, được thể hiện qua
theo đạo luật Glass – Steagall ở Mỹ và đạo luật về chứng khoán ở Nhật, các Ngân
hàng thương mại ngày càng tham gia nhiều hơn vào hoạt động chứng khoán và có
xu hướng tiến gần tới một kiểu ngân hàng đa năng phong cách Anh.
Như vậy, tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng nước mà các ngân hàng thương
mại có được tham gia vào thị trường chứng khoán hay không và nếu được tham gia
thì sẽ phải tổ chức hoạt động như thế nào, ở mức độ nào. Với các nước phát triển,
trên cơ sở các điều kiện thuận lợi về hạ tầng kỹ thuật, môi trường pháp lý, kinh
nghiệm tổ chức quản lý, trình độ nhận thức cũng như thu nhập của công chúng ở
mức cao, có thể áp dụng mô hình ngân hàng đa năng toàn phần . Song đối với các
nước đang phát triển, mô hình đa năng hạn chế kiểu Anh sẽ đảm bảo sự an toàn cần
thiết cho các hoạt động của các ngân hàng và của thị trường chứng khoán.
Ngoài ra, để hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại trên thị trường
chứng khoán có thể phát triển, đòi hỏi phải có một hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động đầu tư chứng khoán. Khung
pháp lý phải đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, tạo được các cơ sở pháp lý cơ bản
cho hoạt động đầu tư chứng khoán. Đồng thời các quy định phải liên tục được hoàn
thiện nhằm đáp ứng thực tiễn của hoạt động đầu tư chứng khoán. Hiện nay các
NHTM sẽ không thể thực hiện được hoạt động tạo lập thị trường do các quy định
của pháp luật hiện hành không cho phép các NHTM thực hiện chức năng môi giới
chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán.
23
24
Khung pháp lý quy định cụ thể quyền hạn của nhà đầu tư, đảm bảo công
bằng và lợi ích cho nhà đầu tư, khuyến khích nhà đầu tư tham gia vào thị trường
chứng khoán
1.3.2. Uy tín của ngân hàng
Uy tín của ngân hàng được đánh giá qua quy mô hoạt động, năng lực tài
chính và an toàn trong hoạt động.
Trước hết ngân hàng phải có nguồn vốn đủ lớn và cơ cấu vốn thích hợp.
- Vốn điều lệ: Quy mô của vốn điều lệ, quỹ dự trữ vốn điều lệ ảnh hưởng rất
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian,
theo đó khách hàng không được thực hiện việc mua bán chứng khoán trực tiếp mà
phải thông qua một tổ chức trung gian tài chính được phép hoạt động trên TTCK.
Thứ nhất, chỉ có những ngân hàng có uy tín, đáp ứng đủ điều kiện mới được tham
gia vào thị trường chứng khoán. Thứ hai, xét từ giác độ nhà đầu tư, những người
muốn đầu tư nhưng lại thiếu kiến thức về đầu tư chứng khoán, đều muốn tìm cho
mình một đại diện có uy tín để có thể thực hiện đầu tư theo ý muốn của mình. Còn
đối với người phát hành chứng khoán, một ngân hàng có uy tín lớn là điều kiện
hàng đầu để thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh và làm đại lý phát hành. Các loại
chứng khoán được các ngân hàng có uy tín bảo lãnh phát hành sẽ dễ dàng được
công chúng ưu tiên khi lựa chọn.
1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật Ngân hàng
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng, nó trợ giúp cho các
NHTM trong quá trình thẩm định, quyết định, thực hiện hoạt động đầu tư. Bên cạnh
đó, cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến hiện đại giúp các NHTM tổ chức quản lý, giám
sát hoạt động đầu tư chứng khoán một cách có hiệu quả, cho phép các NHTM đầu
tư vào rất nhiều loại cổ phiếu, trái phiếu với các thời hạn khác nhau, phương thức
25