Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 1
1
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 2
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU
Nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn tăng trưởng và hội nhập mạnh
mẽ với nền kinh tế thế giới. Năm 2007 vừa qua Việt Nam đã là thành viên
chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương Mại thế giới (WTO). Hội nhập là cơ
hội để chúng ta có thể tiếp cận những nền khoa học công nghệ hiện đại,
những nền kinh tế phát triển trên thế giới, cơ hội để kinh tế nước ta có thể
sánh vai cùng các cường quốc Năm châu.
Ngân hàng là một lĩnh vực vô cùng nhạy cảm trong nền kinh tế. Ngành
ngân hàng của nước ta còn tồn tại nhiều bất cập, đây chính là vấn đề gây khó
khăn nhất cho chúng ta trong quá trình đàm phán gia nhập WTO. Tuy nhiên
đây cũng chính là vấn đề nóng nhất khi sức mạnh hội nhập lan toả trên toàn
bộ nền kinh tế nước ta.
Sức cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng thương mại trong
nước với nhau mà còn cả các ngân hàng nước ngoài, các định chế tài chính
khác như công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư, các tập đoàn tài chính…khác nữa.
2
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 3
Muốn tồn tại và phát triển trong nền kinh tế năng động đó, mỗi ngân hàng
cần phải xác định cho mình con đường đi phù hợp và hiệu quả nhất. Nâng cao
vị thế trên thị trường, nâng cao uy tín và hiệu quả hoạt động luôn là vấn đề cốt
lõi. Đó chính là việc xác định lượng vốn huy động được và vấn đề sử dụng
vốn đó như thế nào của các ngân hàng thương mại. Huy động vốn là cơ sở để
bạn.
4
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 5
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHTM VÀ
HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NHTM
1.1. Một số vấn đề cơ bản về NHTM
1.1.1. Khái niệm về NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) là một tổ chức tài chính quan trọng
trong nền kinh tế. Đây là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất bởi lẽ các cá nhân,
tổ chức hay doanh nghiệp đều gửi tiền tại đây, nguốn vốn của họ phần lớn
xuất phát từ đây. Các cá nhân gửi tiền với mục đích tăng thu nhập. thêm lợi
nhuận, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội gửi phục vụ thanh toán, chi tiêu,
trả lương…Ngân hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội.
Bên cạnh đó ngân hàng còn là tổ chức cho vay chủ yếu đối với doanh
nghiệp, cá nhân và có thể là cả nhà nước nữa. Cho vay tiêu dùng , cho vay để
đầu tư, cho vay để phục vụ sản xuất, cho vay để xây dựng cơ sở hạ tầng…
phần lớn các nguồn vay ấy đếu được thực hiện tại ngân hàng.
Mặt khác Ngân hàng còn là một trung gian tài chính quan trọng nhất
trong nền kinh tế, ngân hàng là trung gian cho người dư thừa vốn gặp những
người đang cần vốn và tạo điều kiện đem lại lợi ích cho họ. Chính sách tiền tệ
là bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế trong mỗi quốc gia và ngân hàng
đóng vai trò quyết định chính sách ấy.
Như vậy có thể nói ngân hàng là một tổ chức tài chính cung cấp một
danh mục các sản phẩm dịch vụ đa dạng nhất, thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2005 Nước CHXHCN Việt Nam đã chỉ
rõ: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân
hàng với nội dung thường xuyên là nhận tièn gửi và sử dụng số tiền này để
cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ tiền tệ”.
6
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 7
động thanh toán, chuyển tiền nào. Ta đã biết mục đích của doanh nghiệp luôn
là tối đa hoá giá trị tài sản của họ, doanh nghiệp hoạt động được là phải có
vốn. Vốn để mua sắm trang thiết bị, vốn đẻ tiến hành sản xuất. Ngân hàng là
tổ chức luôn đáp ứng được tốt nhất nhu cầu đó, là đơn vị thu chi và thanh toán
hộ cho doanh nghiệp. Hơn ai hết để làm được điều này ngân hàng luôn có đầy
đủ thông tin về tài chính, về môi trường kinh doanh, về tình hình trong và
ngoài nước để phục vụ tốt nhất nhu cầu của doanh nghiệp- khách hàng của
họ. Ngân hàng luôn là điểm tựa vững chắc cho doanh nghiệp. Bên cạnh đó
ngân hàng cũng chính là trung gian thanh toán cho các cá nhân và tổ chức
trong nền kinh tế.
1.1.3. Hoạt động của NHTM
a. Hoạt động huy động vốn
Huy động vốn (HĐV) là các hoạt động nhằm tạo vốn cho ngân hàng,
hình thành tài sản nợ cho ngân hàng. Huy động vốn là hoạt động nền tảng cho
sự hoạt động và phát triển của ngân hàng. Ngân hàng dùng nhiều hình thức
huy động vốn khác nhau:
Huy động tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi thanh toán
Huy động tiền gửi có kỳ hạn hay còn gọi là tiền gửi tiết kiệm
Vay từ Ngân hàng trung ương (NHTW) và các tổ chức tín dụng (TCTD)
Phát hành kỳ phiếu hoặc trái phiếu
Huy động thêm vốn chủ sở hữu
Huy động theo các nguồn khác
Hiên nay các ngân hàng thương mại đang đưa ra nhiều chương trình,
nhiều biện pháp để đẩy mạnh huy động vốn.
7
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 9
vào thị trưòng tài chính, tham gia chi phối nền kinh tế hoàn thành mục tiêu
cuả mình.
c. Hoạt động trung gian khác
Đây là hoạt động cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Nền kinh tế càng phát
triển nhu cầu tiêu dùng và sử dụng các dịch vụ của ngân hàng càng đựơc quan
tâm và đòi hỏi một sự phát triển cao hơn. Các hoạt động thanh toán không
dùng tiền mặt, thanh toán qua phát hàng Sec, thẻ tín dụng… ngày càng được
ưu tiên.
Bên cạnh đó ngân hàng còn thực hiên các nghiệp vụ như uỷ nhiệm thu,
uỷ nhiệm chi, thanh toán bằng thư tín dụng…Các hoạt động này bên cạnh
việc đem lại nguồn thu nhập lơn cho ngân hàng còn góp phần nâng cao vị thế
của ngân hàng trên thương trường.
1.2 Nguồn vốn và hoạt động huy động vốn của NHTM
1.2.1 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại
Vốn là cơ sở và nền tảng cho mọi hoạt động của ngân hàng. Đây là biểu
hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản có của ngân hàng, nó được xác định
từ nhiều nguồn khác nhau. Để thuận lợi cho mọi quá trình vận hành và xác
định người ta đã chia ra thành hai loại vốn cơ bản đó là vốn chủ sở hữu và
vốn vay.
1.2.1.1 Vốn chủ sở hữu
Ngân hàng hay bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào muốn thành lập và
hoạt động được phải có một lượng vốn nhất định. Vốn này có vai trò quyết
định trong quá trình tiến hành đăng kí kinh doanh, quá trình thành lập hay quá
trình hình thành nên tài sản, trang thiết bị, nhà xưởng, hay máy móc thiết bị…
cho mỗi tổ chức. Ngân hàng thương mại cũng vậy, nguồn vốn chủ sở hữu là
điều kiện tiên quyết cho mọi vấn đề. Nguồn vốn chủ sở hữu của ngân hàng
được cụ thể thành các loại như sau:
a. Nguồn vốn hình thành ban đầu
9
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 11
hướng gia tăng vốn của chủ bằng cách chuyển một phần thu nhập ròng thành
vốn đầu tư, tỷ lệ tích luỹ bao nhiêu tuỳ thuộc vào cách xác định và phương
hướng kinh doanh của từng ngân hàng. Nguồn vốn này có chi phí thấp và
mang lại hiệu quả cao nên luôn được các ngân hàng sử dụng va cân nhắc
trước hết.
- Nguồn vốn bổ sung bằng cách phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp
thêm…để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để đổi mới trang thiết bị, hoặc để
đáp ứng nhu cầu gia tăng thêm vốn chủ sở hữu theo quy định của ngân hàng
nhà nước. Khi đó NHTM sẽ yêu cầu các cổ đông đóng góp hoặc đi xin được
cấp thêm…Tuy vậy cách huy động nguồn vốn này thường phức tạp, khó khăn
và không đem lại hiệu quả cao, chỉ những khi quá cần thiết thì ngân hàng mới
áp dụng.
c. Các quỹ
Ngân hàng hay bất kỳ một tổ chức nào hoạt động đều phải có các quỹ
riêng: quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ giám đốc, quỹ dự phòng,…Bên
cạng đấy ngân hàng kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ - một lĩnh vực nhạy cảm
nên các quỹ của nó cũng mang nhiều đặc thù riêng.
- Quỹ dự phòng tổn thất: Loại quỹ này đựơc trích lập hàng năm, dùng để
bù đắp những tổn thất xảy ra. Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng là rất lớn,
nguồn quỹ này rất được chú trọng và quan tâm, Ngân hàng Trung ương ở mỗi
quốc gia thường phải đặt ra một tỷ lệ cố định cho việc trích lập dự phòng này.
Theo quy định của Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam thì quỹ dự phòng tổn thất
của các ngân hàng tại Việt nam bao gồm hai loại quỹ đó là quỹ dự phòng để
xử lý rủi ro và quỹ dự phòng tài chính.
- Quỹ bảo toàn vốn là loại quỹ được hình thành nhằm bù đắp hao mòn
của vốn dưới tác động của lạm phát.
11
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
b. Tiền vay
Ngoài nghiệp vụ tiền gửi, khi cần thêm vốn để phục vụ kinh doanh hay
vì một mục đích nào đó NHTM có thể chủ động đi vay. Hoạt động này chủ
yếu được thực hiện để đáp ứng nhu cầu chi trả khi mà nguồn huy động bị hạn
chế. Nghiệp vụ đi vay không đơn giản và dễ dàng như nghiệp vụ nhận tiền
gửi, khi đi vay ngân hàng còn phải tính đến mọi phí tổn cũng như phương án
trả nợ hợp lý nhất. NHTM cũng sử dụng nhiều hình thức đi vay là:
- Vay NHTW :
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong việc chi trả
của NHTM. Như ta đã được biết, NHTW là người cho vay cuối cùng, là nơi
cuối cùng mà ngân hàng thương mại có thể đến vay. Tại đây hình thức cho
vay chủ yếu là tái chiết khấu hay còn gọi là tái cấp vốn. Các thương phiếu
trên thị trường đã được ngân hàng thương mại chiết khấu hoặc tái chiết khấu
sẽ trở thành tài sản của họ. Khi nhu cầu vốn cấp bách NHTM đến NHTW vay
bằng hình thức đem các thương phiếu đã chiết khấu ấy đến NHTW tái chiết
khấu. Tuy nhiên không phải bất kỳ thương phiếu nào cũng được NHTW chiết
khấu, chỉ những thương phiếu có chất lượng tốt, có thời gian đáo hạn ngắn,
khả năng trả nợ cao thì NHTW mới đồng ý tái chiết khấu.
- Vay các tổ chức tín dụng khác:
Đây là nguồn mà các ngân hàng thương mại vay muợn của lẫn nhau và
vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên nhân hàng. Khi ngân
hàng đang thiếu hụt về dự trữ, hay đang phải đáp ứng nhu cầu chi trả cấp bách
trong khi nguồn vốn của họ không đủ, họ phải ngay lập tức vay mượn để kịp
thời chi trả. Bên cạnh đó lại có những ngân hàng khác , các tổ chức tín dụng
khác như công ty bảo Hiểm, công ty Tài chính…đang có dự trữ vượt yêu cầu
do kết số dư tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ
có thể sẵn sàng cho vay để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn. Và thế là họ gặp
13
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 14
cho họ những lợi ích đáng kể.
- Vốn trong thanh toán:
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, thanh toán uỷ nhiệm thu,
uỷ nhiệm chi, thanh toán bằng thư tín dụng, thanh toán qua phát hành Sec…
đã vô hình chung tạo nên cho ngân hàng một luồng vốn quan trọng và ngân
hàng cỏ thể sử dụng với mục đích sinh lời.
1.2.2 Hoạt động huy động vốn của NHTM
Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản của NHTM nhằm tạo lập và duy trì
nguồn vốn kinh doanh cho NH. Huy động vốn là các hình thức hoạt động
khác nhau của ngân hàng nhằm thu hút vốn từ các tổ chức, cá nhân, các thành
phần khác trong nền kinh tế để phục vụ mục đích kinh doanh của mình.
1.2.2.1 Các hình thức huy động vốn
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà ta có thể chia hoạt động huy động
vốn theo các hình thức khác nhau,sau đây là một vài tiêu chí cơ bản hay được
quan tâm:
a. Huy động vốn theo thời gian
- Vốn ngắn hạn
Đây là loại vốn có thời gian huy động dưới 12 tháng. Để thoả mãn nhu
cầu của khách hàng thì ngân hàng có thể chia ra nhiều kỳ hạn nhỏ: Dưới 1
tháng, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, hoặc khách hàng có thể rút
ra bất kỳ khi nào nếu họ cần. Nguồn này mang tính chất nhạy cảm cao nhưng
lại luôn thu hút được nhiều vì nó phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Tuy
vậy chi phí cho nguồn này cũng lớn, nguồn huy động này chủ yếu để cho vay
ngắn hạn., nếu muốn cho vay dài hơn thì ngân hàng thường phải chuyển đổi
kỳ hạn tương ứng.
- Vốn trung hạn
15
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 16
Vốn trung hạn là nguồn vốn có thời hạn lớn hơn 12 tháng và đến 5năm.
Các tổ chức kinh tế có luồng tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình kinh
doanh, quá trình luân chuyển vốn, Ngân hàng sẽ sẵn sàng làm két sắt cho họ,
hay tạm thời giữ vốn cho họ, và đây cũng là cơ hội cho ngân hàng thu lợi
nhuận trên chính đồng vốn đó. Đây là nguồn vốn lớn và lại có chi phí thấp,
nếu tăng cường các biện pháp thu hút và quản lý nguồn này tốt thì sẽ mang lại
cho ngân hàng một kết quả tốt.
Các tổ chức trong nước có thể là doanh nghiệp, các tổ chức, và cũng cỏ
thể là cá tổ chức tín dụng. Ngân hàng có thể huy động bằng cách đi vay các tổ
chức tín dụng khác trên thị trường, nó sẽ giải quyết khi ngân hàng có nhu cầu
cấp bách mặc dù chi phí hơi cao.
- Huy động vốn từ các tổ chức nước ngoài
Ngân hàng tham gia liên kết với các tổ chức, các doanh nghiệp nước
ngoài, hay cũng có thể làm trung gian, làm đại lý cho họ. Giữ vốn cho công
trình đầu tư, giữ vốn uỷ thác, vốn để thanh toán hộ cho họ. Nghiệp vụ này tuy
không sôi nổi nhưng nó cũng có thể huy động được số vốn khá lớn mặc dù nó
không phải là nguồn vốn ổn đinh.
c. Huy động vốn theo phương thức huy động
- Huy động qua tiền gửi
Tiền gửi là nguồn tiền chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân
hàng. Từ trước đến nay ngân hàng đã sử dụng nhiều biện pháp để gia tăng
nguồn tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau, cụ thể là:
+ Tiền gửi thanh toán:
Đây là một trong những dich vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng
cung cấp là nhận tiền gửi để thực hiện thanh toán cho hộ cho khách hàng. Cá
nhân hay doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng với mục đích nhờ ngân hàng
giữ hộ và thanh toán hộ. Khi khách hàng có nhu cầu, ngân hàng mở cho họ
17
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 18
một tài khoản tiền gửi thanh toán, trên tài khoản này, tất cả các nghiệp vụ thu
dân cư, họ gửi vào đây với mục đích bảo toàn và sinh lời. Tận dụng cơ hội
này, các ngân hàng chuyển đổi kỳ hạn, tích tụ và tập trung vốn lại và đem cho
vay. Như vậy ngân hàng đã thực hiện được vai trò trung gian của mình, là cầu
nối giữa những người thiếu vốn và những người thừa vốn, là trung gian biến
tiết kiệm thành đầu tư.
Tuỳ theo thời hạn sử dụng mà ngân hàng có thể đưa ra nhiều hình thức
lãi suất khác nhau như lãi tuần, lãi 1 tháng, lãi 3 tháng, lãi 6 tháng, lãi bậc
thang… và vì thế khách hàng có thể lựa chọn các hình thức phù hợp nhất với
họ. Nguồn tiền gửi này mang tính chất ổn định, chắc chắn, chủ động mặc dù
lãi suất và chi phí cao hơn. Tuy nhiên các ngân hàng luôn xác định đây là
nguồn an toàn nhất, đảm bảo nhất và cũng là chủ đạo nhất đối với nguồn vốn
của họ.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác:
Cùng tồn tại trong một nền kinh tế, cùng chịu ảnh hưởng của cơ chế thị
trường đặc biệt cùng kinh doanh trên lĩnh vực nhạy cảm nhất của nền kinh tế,
các NHTM cùng địa bàn không thể tách rời nhau mà họ cùng nhau hợp tác,
trao đổi và liên kết với nhau. Họ có thể vay mượn lẫn nhau,thanh toán hộ cho
nhau hay bù trừ cho nhau. Để quá trình ấy diễn ra mang lại hiệu quả cao, các
ngân hàng thường mở cho họ một tài kkhoản tại ngân hàng bạn, khi co nhu
cầu thanh toán với khách hàng họ có thể bù trừ cho nhau một cách nhanh gọn
và thuận tiện nhất. Đây chính là một biện pháp tăng vốn hữu hiệu nhất cho
ngân hàng.
- Huy động bằng cách phát hành giấy tờ có giá
+ Trái phiếu ngân hàng: Là việc ngân hàng phát hành ra công chúng một
loại công cụ nợ dài hạn thường là 5 đến 10 năm. Trên trái phiếu sẽ ghi rõ
mệnh giá, lãi suất, thời gian đáo hạn. Lãi suất trái phiếu ngân hàng thường cao
19
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 20
hơn hoặc ngang bằng trái phiếu Chính Phủ. Nguồn huy động này mang tính
có thể huy động vốn qua các hoạt động kinh doanh, các hợp đồng uỷ thác, các
hình thức thanh toán. Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ, hình thức này càng được chú ý và đem lại hiệu quả lớn.
d. Huy động vốn theo loại tiền:
Ngân hàng có thể huy động vốn theo loại tiền, ngoài hình thức phổ biến
và chủ đạo là tiền của quốc gia, Ngân hàng có thể thu hút thêm các loại ngoại
tệ khác, USD, EURO,…Nguồn này xuât phát từ đặc điểm kinh tế của từng
quốc gia mà có quy định khác nhau.Tuy nhiên phương thức huy động như thế
nào còn phải tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế của từng thời kỳ. Các ngân hàng
thương mại nước ta thường chia làm 2 mảng đó là:
- Tiền gửi bằng VNĐ
- Tiền gửi bằng ngoại tệ
Trên cơ sở xác định mức phí ngân hàng sẽ đưa ra lãi suất và kỳ hạn hợp
lý với từng loại tiền.
1.2.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá huy động vốn
- Quy mô huy động vốn
Câu hỏi đầu tiên khi giới thiệu về một doanh nghiệp dù hoạt động trong bất
kỳ một lĩnh vực nào cũng đều là: Quy mô hoạt động như thế nào? Nhắc đến
ngân hàng thì quy mô đó chính là quy mô về vốn. Mục đích cuối cùng của họ
là tối đa hoá lợi nhuận, tối đa hoá giá trị tài sản, mà để làm được điều đó thì
phải mở rộng kinh doanh, nâng cao hiệu quả và chất lượng huy động vốn.
Mỗi ngân hàng có một quy mô và tốc độ thay đổi quy mô vốn khác nhau. Các
ngân hàng lớn có quy mô nguồn vốn lớn nhưng tốc độ tăng nguồn thường
không cao như các ngân hàng nhỏ. Những ngân hàng ở trung tâm hoạt động
tiền tệ tín dụng thường có quy mô và tốc độ tăng vốn cũng khác.
- Cơ cấu huy động vốn
21
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 22
Gia tăng nguồn vốn theo chuẩn mực nào đó là một chỉ tiêu phản ánh
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân
hàng. Ở đây ta có thể chia thành hai nhóm nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt
động huy động vốn của NHTM đó là:
1.3.1 Nhân tố khách quan
1.3.1.1 Môi trường pháp lý:
Là một doanh nghiệp kinh doanh, NHTM chịu sự quản lý của các cơ
quan có thẩm quyền, hoạt động theo quy định của pháp luật, chịu sư chi phối
và điều tiết của NHTW nước sở tại. Hoạt động huy động vốn của ngân hàng
thương mại ngoài việc tuân thủ theo quy định về tỷ lệ lãi suất theo quy đinh,
tỷ lệ vốn huy động của pháp luật trong nước ma còn chịu tác động của nhiều
diều lệ quốc tế. Ngoài ra, lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực có nhân tố quyết
định đến toàn bộ nền kinh tế, hoạt động dưới sự chi phối của chính sách tiền
tệ quốc gia, tuỳ từng thời kỳ mà NHTW đưa ra các biên pháp và chính sách
nới lỏng hay thắt chặt tiền tệ quốc gia. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tình
hình và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng thương mại.
1.3.1.2 Môi trường kinh tế:
Tồn tại và phát triển trong một môi trường kinh tế năng động là cơ sở để
ngân hàng vươn lên, cơ hội để ngân hàng có thể triển khai các hoạt động của
mình, cơ hội để nắm trong tay những công nghệ hiện đại và là cơ hội để hội
nhập với nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên nó cũng đi đôi với những khó khăn
như khó khăn về cạnh tranh, khó khăn về khách hàng…
Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuân lợi cho hoạt động tạo vốn của
NH, hoạt động kinh doanh cũng được tiến hành thuận lợi hơn, có khả năng
phát triển cao hơn và ổn định hơn. Khi đó thu nhập cũng như tài sản mà người
lao đọng nắm giữ cũng sẽ lớn hơn, họ sẽ có nhiều tiền hơn đẻ gửi vào ngân
hàng và đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ thu hút được nhiều vốn hơn.
23
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp 24
Và ngược lại khi nền kinh tế gặp phải nhiều vấn đề, tình hình lạm phát
Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng phong phú và đa dạng sẽ
góp phần khuyến khích khách hàng tham gia vào các dịch vụ của họ. Ngân
hàng càng đi sâu vào nghiên cứu nhu cầu cũng như tâm lý của khách hàng thì
càng có cơ hội phát triển thêm những công cụ mà họ cần.
Các NHTM nước ta hiện nay có danh mục các sản phẩm huy động là
khá đa dạng: tiền gửi có nhiều loại như tiết kiệm có ký hạn trả trước, tiết kiệm
có kỳ hạn trả sau, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm bậc thang,
tiết kiệm tiêu dùng…
Bên cạnh đó ngân hàng còn đưa ra nhiều hình thức khuyến mại, dự
thưởng thu hút sự quan tâm của khách hàng. Hình thức và kỳ hạn lãi phong
phú như lãi tuần, lãi tháng, lãi năm… được triển khai liên tục và rất được
người dân và các tổ chức quan tâm. Ngoài ra trong lĩnh vực tiền gửi thanh
toán hay tiền gửi giao dịch cũng được nghiên cứu và bổ sung nhiều hình thức
phù hợp hơn.
1.3.2.2 Chính sách lãi suất huy động
Người dân gửi tiền vào ngân hàng bên cạnh mục đích cất trữ an toàn thì
lợi nhuận thu được lại là điều đầu tiên, là nhân tố quyết định. Ngân hàng nào
lãi suất cao, hấp dẫn thì vốn sẽ chảy vào đó. Khung lãi suất ngân hàng đưa ra
phụ thuộc vào mức lãi suất trần, lãi suất sàn theo quy định của NHTW và nó
được điều chỉnh theo chế độ của chính ngân hàng ấy. Lãi suất huy động còn
phải căn cứ và dựa trên lãi suất của nguồn sử dụng, hay cụ thể hơn đó là lãi
suất cho vay hay lãi suất đầu tư. Nhiều ngân hàng sử dụng nhiều hình thức lãi
suất khác nhau. Nhưng cạnh tranh theo lãi suất là loại hình cạnh tranh có
nhiều rủi ro và thường có giới hạn nên việc lựa chọn mức lãi suất phù hợp là
yêu cầu đòi hỏi đối với từng ngân hàng.
Tuy nhiên để thu hút được lượng khách hàng lớn và duy trì đựơc mối
quan hệ lâu dài với họ thì ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất có tính chất
25
Sv: Lê Thị Dần Lớp Ngân Hàng 46A