Đề tài “ Lợi thế cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới và giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh” - Pdf 19

Đề tài
“ Lợi thế cạnh tranh của hàng hóa
xuất khẩu Việt Nam trên thị trường
thế giới và giải pháp nâng cao lợi thế
cạnh tranh”
MỤCLỤC
Trang
LỜIMỞĐẦU 1
I. Lợi thế cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam trên
thị trường thế giới.
2
1. Khái quát chung về việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam
trong những năm gần đây (2000 - 2006)
2
1.1. Số lượng và tính đa dạng của hàng xuất khẩu Việt Nam 2
1.2. Thị trường xuất khẩu rộng lớn, sự vượt trội về xuất khẩu 4
2. Lợi thế cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam 5
2.1. Số lượng, chất lượng hàng hóa 6
2.2. Giá thành sản phẩm 6
II. Những giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh 7
1. Nâng cao chất lượng hàng hóa 7
2. Cải tiến mẫu mã, giá thành phù hợp 8
3. Dịch vụ sau bán hàng 9
4. Tiếp thị, quảng cáo 10
KẾTLUẬN 11
LỜIMỞĐẦU
Với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh, vượt qua
đói nghèo và vươn lên thành một nước công nghiệp phát triển, hiện
đại hoá và công nghiệp hoá, trong nhiều năm qua Việt Nam đã
vàđang đẩy mạnh việc xuất khẩu hàng hoá nhằm mang lại nhiều
ngoại tệ, làm giàu cho đất nước, thực hiện mục tiêu của mình. Đúc

xuất khẩu hạt tiêu đứng đầu thế giới, sản lượng gạo xuất khẩu luôn tăng
trưởng và giữ vững vị trí thứ hai với mức 5,2 triệu tấn năm 2005. Với lợi
thếổn định của đất nước, giá thành sản xuất rẻ, giá nhân công thấp, chất lượng
hàng hoá ngày một nâng cao nên gạo xuất khẩu đã thu được 1,4 tỷ USD năm
2005 .
Gạo xuất khẩu Đơn vị 2001 2002 2003 2004 2005
Sản lượng 1.000 tấn 3.729 3.241 3.613 4.060 5.204
Giá xuất khẩu USD/ tấn 168 224 189 234 269
Nguồn: Báo Điện tử - Thời báo Kinh tế Việt nam (23/5/2006)
Ngoài sản lượng gạo xuất khẩu cao, các mặt hàng khác cũng có sản
lượng xuất khẩu đáng kể trên thị trường thế giới trong đó phải kểđến hàng dệt
may, giày dép với vốn đầu tư thấp, sử dụng lực lượng nhân công dồi dào hay
hàng thuỷ sản, cà phê tận dụng được diện tích sông hồ, kênh rạch miền Nam,
sản phẩm phụ của nhà máy xay xát gạo xuất khẩu, đất đỏ bazan của vùng Tây
Nguyên mà không mấy đất nước trên thế giới cóđược cũng như nguồn tài
nguyên xuất khẩu quý giá khai thác trên biển và từ trong lòng đất như than đá,
dầu thô vàđặc biệt sản phẩm công nghiệp như máy tính, hàng thủ công mỹ
nghệ, sản phẩm gỗ là những mặt hàng chứng tỏ sự phát triển của công nghiệp
Việt nam. Sự khởi sắc của công nghệ cao đồng thời nói lên tính đa dạng của
hàng hoá xuất khẩu, chúng không chỉ bó hẹp trong các mặt hàng nông thủy
sản và khoáng sản truyền thống …
THỐNGKÊXUẤTKHẨUNĂM 2003
Cộng cả năm 2003 So với năm 2002 ( % )
Lượng
( nghìn tấn )
Trị giá
( triệu USD )
Lượng Trị giá
TỔNGTRỊGIÁ
19.880 119,0

Bản. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã bắt đầu khai thác thành công thị
trường mới đầy tiềm năng châu Phi với hơn 800 triệu dân ( VNECONOMY cập
nhật 04/04/2006 & 09/05/2006).
Gạo Việt Nam giành được các thị trường truyền thống của Thái Lan, vượt
qua 3 đối thủ là Thái Lan, Mỹ và Trung Quốc, giành hợp đồng xuất khẩu
440.000 tấn gạo sang Philippin vốn là thị trường truyền thống của Thái Lan
và dự kiến Việt Nam sẽ xuất khẩu sang Philippin khoảng 782.500 gạo trong
năm 2006.
Kể từđầu năm đến nay, Việt Nam đã xuất khẩu được 3 triệu tấn gạo sang
các thị trường như Singapo, Malaixia, Inđônêxia và Nhật Bản. Tương lai, gạo
Việt nam có thể với tới những thị trường tiềm năng như Trung Đông, Châu
Phi và MỹLatinh .
Hàng xuất khẩu của Việt nam tăng trưởng cao được thể hiện ở nhiều mặt,
đó là qui mô xuất khẩu khá cao, 4 tháng đầu năm 2006 đạt 12.110 triệu USD,
tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước, cao gấp trên ba lần tốc độ tăng của
GDP, tăng trưởng ở nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu. Dệt may tăng 487
triệu USD, dầu thô tăng 355 triệu USD, giày dép tăng 188 triệu USD, thuỷ
sản tăng 155 triệu USD…
Hàng dệt may tăng 38,7 %, trong đó xuất khẩu sang Mỹ tăng 41,8 %,
sang Anh tăng 97,4 %, sang Nhật Bản tăng 3,7 %… Hàng cao su tăng rất cao,
trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm tới 70,8 % lượng xuất khẩu và
xuất khẩu năm 2006 hướng đến mục tiêu 38,4 tỷUSD, tăng 18,5% so với mức
thực hiện năm 2005.
Cho nên, theo đánh giá của Hiệp hội Cao su Thế giới, Việt Nam hiện
đứng thứ 6 về sản xuất vàđứng thứ 4 về xuất khẩu cao su trên thế giới, sau
Thái Lan, Inđônêxia và Malaixia với tổng diện tích cây cao su 450.000 ha và
tổng sản lượng khai thác chế biến đạt 400.000 tấn/năm, trong đó trên 80% sản
lượng dùng để xuất khẩu, ( VNECONOMY cập nhật 01/03 & 03/05/2006, 21/11/2004 )
và hàng hoá xuất khẩu của Việt nam vào các nước ASEAN năm 2004 đạt 14,3
% tổng số lượng hàng hoá xuất khẩu của Việt nam trên thị trường thế giới

biến vào thị trường Nhật. ( VNECONOMY cập nhật 10/03/2006 ).
Về số lượng, hàng than xuất khẩu Việt Nam cũng gia tăng sang thị trường
Trung Quốc ( 5 triệu tấn than trong vòng 3-5 năm tới - VNECONOMYcập nhật
06/03/2006) hoặc kim ngạch xuất khẩu có thểđạt 750 triệu USD sang Hàn
Quốc năm 2005 với các mặt hàng thuỷ sản, dệt may, da giày và nông sản. Tỷ lệ
hồ tiêu Việt Nam đạt tiêu chuẩncủa Hiệp hội kinh doanh các loại hạt của Mỹ và hồ tiêu trắng đã
chiếm 35,41 % tổng sản lượng xuất khẩu hồ tiêu năm 2005 của Việt nam và Việt Nam trở thành
nước xuất khẩu hồ tiêu hàng đầu thế giới với sản lượng trung bình 100.000 tấn năm, chiếm 50%
tổng sản lượng toàn cầu.
2.2. Giá thành sản phẩm
Trong kết cấu giá thành, ngoài các chỉ tiêu khác, hàng hoá Việt Nam có cùng
chất lượng, có chi phí nguyên vật liệu và nhân công rẻ hơn so với các nước
khác. Lấy nuôi trồng thuỷ sản làm ví dụ, ta có thể thấy lợi thế rộng lớn vàđa
dạng về sông ngòi ao hồở miền Nam làm nơi nuôi cá, nguồn thức ăn tận dụng
từ sản phẩm dẫn xuất của lúa gạo, cám xay xát, chăn nuôi gia súc cùng với
lực lượng nhân công hùng hậu có mức thu nhập bình quân một tháng theo khu
vực và ngành nghề chưa được cao
II. NHỮNGGIẢIPHÁPNÂNGCAOLỢITHẾCẠNHTRANH
1. Nâng cao chất lượng hàng hoá
Trên các trang thông tin thương mại thế giới, lúc này lúc kia còn có những
tin thất thiệt về hàm lượng độc tố trong tôm xuất khẩu, trong nước mắm Chin-
su của Việt nam hay tỷ lệ tấm trong gạo còn cao ảnh hưởng đến giá bán và sự
cạnh tranh của Việt Nam. Vì vậy, để nâng cao lợi thế cạnh tranh bằng chất
lượng hàng hoá cao là một điều sống còn.Để làm được điều đó, có nhiều giải
pháp tuỳ thuộc loại hàng hoặc quy môđầu tư, chẳng hạn cần chọn lọc giống
tôm tốt, khả năng sinh sản cao, chóng lớn và cần tăng cường xem xét ngăn
ngừa các giống tôm nhập ngoại hay bị nhiễm một số bệnh không cóở Việt
nam ( như tôm chân trắng có nguồn gốc từ Nam Mỹ ). Đồng thời luôn đặt vấn
đề an toàn thực phẩm lên hàng đầu bởi vì không chỉ các thị trường tiêu thụ
thuỷ sản lớn như EU, Mỹ, Nhật …quan tâm mà cả người Việt nam cũng rất

là trên thị trường thế giới . Một điều nữa là tính sáng tạo trong mẫu mã, tránh
rườm rà và nên có hướng dẫn cụ thể bằng một số thứ tiếng, nhất là có tiếng
bản địa của nước ta muốn thâm nhập và có bản sắc Việt Nam đặc trưng. Qua
thực tế ta thấy, cà phê Capuchino gần đây rất nổi tiếng bởi hương vị cà phê
kem và nhất là khi phát âm, ta thấy âm hưởng tiếng Ý rất rõ cũng như sữa “
Cô gái Hà Lan” không thể thiếu hình ảnh bộ quần áo truyền thống cùng chiếc
cối xay gió, biểu trưng của đất nước Hà Lan …
Đồng thời doanh nghiệp cũng cần có những chiến lược kinh doanh phù hợp,
nghiên cứu cắt giảm chi phí không hợp lýở một số khâu trong quá trình sản
xuất kinh doanh nhằm hạ giá thành vàthu hút khách hàng. Giáo trình tài chính
doanh nghiệp của trường đại học quản lý kinh doanh HN ( tr 37 ) cóđưa ra
một số biện pháp khả thi nhằm hạ giá thành sản phẩm như sau :
- Đầu tưđổi mới thiết bị và công nghệ sẽ làm giảm định mức tiêu hao vật tư,
nguyên liệu trong một đơn vị sản phẩm.
- Quản lý nhân lực, sử dụng laođộng nhằm nâng cao năng suất lao động và
hiệu quả công việc sản xuất kinh doanh.
- Tổ chức quản lý sản xuất và quản lý tài chính. Việc bố trí hợp lý các khâu
trong sản xuất có thể hạn chế sự lãng phí nguyên liệu, giảm thấp tỷ lệ sản
phẩm hỏng. Việc quản lý tài chính tốt ( tổ chức sử dụng vốn hợp lý, tiết kiệm
và hiệu quả ) sẽ tránh được những tổn thất cho sản xuất do thiếu vật tư,
nguyên liệu phải ngừng sản xuất.
Ngoài ra, cũng cần tham khảo giá quốc tếđểđưa ra giá cạnh tranh đối với
hàng hoá Việt Nam ví dụ bằng cách tham khảo giá than nhập khẩu của Nhật,
là nước có nhu cầu lớn về than đểđưa ra giá bán cạnh tranh của than Việt
Nam, tương tự như vậy, ta có thể tham khảo giá dầu của các nước Ả rập, lạc
nhân Xuđăng, cam Ma rốc…để có chiến lược giá xuất khẩu đối với hàng Việt
Nam…Tuy nhiên, chúng ta cũng cần chúýđể tránh việc bị kiện với lý do phá
giá, điều này cũng đã từng xảy ra với một số doanh nghiệp của ta khi xuất
khẩu tôm và cá basa.
3. Dịch vụ sau bán hàng

cầu nối trung gian ( Ví dụẤn độ ) mua lại hàng ( hồ tiêu ) của Việt nam rồi tái
xuất với giá cao …
Để nâng cao lợi thế cạnh tranh, doanh nghiệp cũng cần phải có chiến lược
kinh doanh thông qua nghiên cứu thị trường từ kết quả của việc tham gia Hội
chợ, mở các gian hàng triển lãm giới thiệu sản phẩm, trưng bày hàng mẫu,
phát các tờ rơi …. tại chính thị trường mà Việt nam cần thâm nhập, đánh vào
thị hiếu người tiêu dùng, ví dụ như gạo sấy đối với Ấn Độ, cá mực đối với
người Hàn Quốc, bạch tuộc đối với người Nhật, tránh mùi vị quáđặc trưng
( nước mắm ) đối với người Châu Âu …
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải lưu ýđến hợp đồng, tranh chấp, các
qui định về pháp luật, các điều khoản về số lượng, chất lượng hàng hoá, xuất
xứ … nếu không lợi thế cũng như sức cạnh tranh về hàng hoá sẽ bị giảm sút.
Việc sử dụng ngôn ngữ, bản quyền, sở hữu hàng hoá, bảo hiểm, vận chuyển
quốc tế, giám định hàng, tiêu chuẩn vệ sinh, thời vụ cũng phải rà soát lại theo
luật pháp và tập quán quốc tế nhằm tránh tranh chấp, mất cơ hội và giảm giá
trị thương hiệu, giá thành hàng hoá.
KẾTLUẬN
Qua các số liệu tham khảo nêu trên, ta thấy lợi thế cạnh tranh của hàng
hoá xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới quá rõ ràng, lợi thế cạnh tranh
thể hiện ở số lượng xuất khẩu lớn, hàng xuất khẩu đa dạng về chủng loại, chất
lượng ngày càng cao, mẫu mã ngày càng cải tiến, giá thành tương đối rẻ, đã
từng bước thâm nhập được vào các thị trường “ khó tính” đòi hỏi chất lượng
cao về các mặt.
Để phát huy những lợi thế cạnh tranh hơn nữa của hàng hoá xuất khẩu Việt
nam trên thị trường thế giới như phân tích nêu trên, doanh nghiệp Việt nam
cần phát huy và thực hiện những giải pháp nhất định để nâng cao hơn nữa
những lợi thếđó. Việc thực hiện giải pháp cần đồng bộ, lựa chọn các giải pháp
tối ưu hoặc kết hợp với các ưu thế vượt trội của từng doanh nghiệp cụ thể
cũng như các thời cơ kinh doanh đểđạt hiệu quả cao nhất cho các lợi thếđó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status