Tiểu luận quản trị doanh nghiệp - Pdf 19

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
Tiểu luận quản trị doanh
nghiệp
1
MỤC LỤC
LỜIMỞĐẦU 1
NỘIDUNG 2
I. Cơ sở lý thuyết về quản lý và khoa học quản lý 2
1. Quản lý là gì? 2
2. Khoa học quản lý là gì? 2
3. Cách quản lý là 1 khoa học vừa là 1 nghệ thuật 3
3.1. Quản lý là một khoa học 3
3.2. Quản lý là một nghệ thuật 4
II. Tính khoa học của quản lý thể hiện ở: 4
1. Biết sử dụng các phương pháp khoa học và kỹ thuật quản lý 4
1.1. Cách tiếp cận toán học hoặc “KHQL” 4
1.2. Biết sử dụng kỹ thuật quản lý 4
2. Quản lýđòi hỏi phải tiếp cận hệ thống. 5
3. Quản lýđòi hỏi phải tiếp cận theo tình huống hoặc theo điều kiện 5
III. Các nguyên tắc của KHQL 6
1. Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế 6
1.1. Nội dung cụ thể của lãnh đạo chính trị 6
1.2. Nội dung cụ thể của lãnh đạo kinh tế 6
2. Nguyên tắc tập trung dân chủ 7
2.1. Tập trung trong quản lý 8
2.2. Dân chủ trong quản lý 8
3. Nguyên tắc kết hợp các lợi ích kinh tế 8
3.1. Lợi ích kinh tế cá nhân 8
3.2. Lợi ích tập thể 9
3.3. Lợi ích toàn xã hội 9

quản lý một cách liên tục, có tổ chức, liên kết các thành viên trong tổ chức
hành động nhằm đạt tới mục tiêu với kết quả tốt nhất.
Quản lý nền sản xuất - xã hội là loại hình quản lýđặc biệt phát sinh từ
tính chất tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thìít nhiều cũng đều cần đến
một sự chỉđạo đểđiều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức
năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của
những khách quan độc lập của nó: “Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều
khiển lấy mình, còn 1 giàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng”.
Các nhà lý luận quản lý quốc tế như Frederic Wiliam Taylor (1856-
1915), Hemi Fayol (1841-1925) Pháp, Max Weber (1864-1920) Đức đãđều
khẳng định: Quản lý là khoa học vàđồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát
triển xã hội.
Như vậy, quản lý là sự tác động chủ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá
trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đãđề
ra.
2. Khoa học quản lý là gì?
Khoa học là 1 kiến thức được tổ chức. Nét căn bản của mọi khoa học là
sựáp dụng phương pháp khoa học để phát triển kiến thức trong lĩnh vực đó mà
khoa học quản lý là hệ thống được tạo ra trên các lĩnh vực kiến thức có tổ
chức khác.
Tính khoa học của quản lý là hiểu biết sâu sắc các quy luật khác quan
trên cơ sở lý luận của triết học, dựa trên các nguyên tắc quản lý.Biết sử dụng
các phương pháp khoa học và các kỹ thuật quản lý, dựa trên định hướng cụ
thểđồng thời có sự nghiên cứu toàn diện, đồng bộ các mục tiêu hoạt động.
4
3. Cách quản lý là 1 khoa học vừa là 1 nghệ thuật
3.1. Quản lý là một khoa học
QLKD là một loại laođộng tríóc đặc thù nhằm tổ chức, điều khiển và
phối hợp các hoạt động mà doanh nghiệp phải thực hiện đểđạt mục tiêu kinh
doanh. Nó không chỉ dựa trên kinh nghiệm mà phải có cơ sở khoa học mà nó

quả nhất các phương pháp, các tiềm năng, các cơ hội, kinh nghiệm được tích
lũy trong kinh doanh nhằm đạt được mục tiêu đề ra của doanh nghiệp. Nói
cách khác, nghệ thuật quản lý kinh doanh là tổng hợp những “bí quyết”,
những “thủđoạn” trong kinh doanh đểđạt được mục tiêu mong muốn với hiệu
quả cao.
II. TÍNHKHOAHỌCCỦAQUẢNLÝTHỂHIỆNỞ:
1. Biết sử dụng các phương pháp khoa học và kỹ thuật quản lý
1.1. Cách tiếp cận toán học hoặc “KHQL”
Có những nhà lý thuyết xem xét công việc quản lý trước hết là một sự
sử dụng các quá trình, khái niệm, ký hiệu và mô hình toán học.Có lẽđược biét
một cách rộng rãi hơn cả về các nhà lý thuyết này là các nhà nghiên cứu tác vụ
(vận trù học), mà nhiều người trong số họ tự gọi mình là “nhà KHQL”. Nhóm
này tin rằng nếu như việc quản lý hoặc xây dựng tổ chức hoặc lập kế hoạch
hay ra quyết định là 1 quá trình logic, thì nó có thể biểu thịđược theo các ký
hiệu và các quan hệ toán học. Tiêu điểm chính của trường phái này là mô hình
toán học.Thông qua phương tiện này, các vấn đề có thểđược biểu thị dưới
dạng gợi ý về một quyết định về cái tốt nhất phải thực hiện. Toán học thường
có một sự hấp dẫn hầu như hoàn toàn và một số thành viên của trường phái
này thậm chíđã có quan niệm thái quá rằng: “Nếu bạn không thể biểu thị nó
dưới dạng toán học thì nó không đáng biểu thị”. Trước hết việc phân tích toán
học buộc chúng ta xác định vấn đề và cho phép chúng ta sử dụng các ký hiệu
cho các đại lượng chưa biết. Toán học cũng cho ta một công cụ mạnh mẽvà
6
logic đểđơn giản hóa và giải quyết nhiều vấn đề phức tạp. Nhưng khó có thể
xem toán học như là một cách tiếp cận tách biệt trong quản lý.
1.2. Biết sử dụng kỹ thuật quản lý
Về căn bản kỹ thuật là những cách thực hiện các công việc, là những
phương pháp trong việc thực hiện một kết quảđịnh trước. Trong mọi lĩnh vực
thực hành chúng đều quan trọng, chắc chắn chúng trong trọng trong quản lý,
dẫu rằng mới cóít kỹ thuật quản lý thật sự quan trọng được phát minh ra.

dựa trên quan điểm rõ ràng. Còn những cái đóđược áp dụng như thế nào trong
thực tiễn thì còn tùy thuộc vào tình huống. Chúng ta không chờđợi các kỹ sư
thiết kế các xe ô tô theo cách mà họ thiết kế các máy bay dù cho bằng cách
dùng những nguyên tắc cơ bản của vật lý và luyện kim, cũng không chờđợi
các nhà khoa học sử dụng cùng 1 công thức mà họđã có thể dùng cho dược
phẩm để pha trộn bột giặt.
Cũng như vậy, việc quản lý có hiệu quả luôn luôn xử lý quản lýtheođiều
kiện hoặc theo tình huống cho phù hợp.
III. CÁCNGUYÊNTẮCCỦA KHQL
1. Nguyên tắc thống nhất lãnh đạo chính trị và kinh tế
Ởđây, ta hiểu chính trị là toàn bộ hoạt động của nhà nước hướng vào
việc thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụđối nối vàđối ngoại mà nhà nước
vạch ra bằng những luật lệ, những chính sách.Những mục tiêu và biện pháp cụ
thểđể tựhc hiện đường lối, nhiệm vụ phát triển đất nước trong những giai đoạn
nhất định.
Kinh tế là tổng hợp các quan hệ sản xuất xã hội phù hợp với từng giai
đoạn phát triển của lực lượng sản xuất.
1.1. Nội dung cụ thể của lãnh đạo chính trị
Lãnh đạo chính trị là việc định hướng cho sự phát triển toàn xã hội
trong giai đoạn dài và cho từng giai đoạn phát triển cụ thểđến năm 2000 và
2010, 2020.
8
Đảng và Nhà nước ta đãđịnh ra đường lối phát triển toàn diện đất nước
đến năm 2020 nhằm mục tiêu chủ yếu là: công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Các mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội trong báo cáo chính trị tại Đại
hội VIII của Đảng ta đã thể hiện sự thống nhất lãnh đạo giữa chính trị và kinh
tế.
1.2. Nội dung cụ thể của lãnh đạo kinh tế
Sự lãnh đạo kinh tế thể hiện ở chỗ: vạch ra được các chỉ tiêu kinh tế -
kỹ thuật cụ thể cho từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất.

khoa học nền sản xuất xã hội nói chung, với việc phân cấp quản lý cụ thể, hợp
lý từng cấp, từng khâu, từng bộ phận.
2.1. Tập trung trong quản lý
Đểđiều hành cấp lãnh đạo trung ương phải có bộ máy chỉđạo vói quyền
lực được quy định cụ thể bằng văn bản.Quyền lực thể hiện ở sự phục tùng
chấp hàn của cấp dưới.
Cấp cơ sở, nguyên tắc tập trung lãnh đạo được thể hiện thông qua chếđộ
1 thủ tướng. Người thủ tướng là người chịu trách nhiệm trước cấp trên cũng
như trước tập thể cán bộ, công nhân viên toàn đơn vị về toàn bộ hoạt động của
đơn vị mình.
2.2. Dân chủ trong quản lý
Dân chủ trong quản lý là sự huy động trí lực của mọi người để tiến hành
quản lý. Dân chủ thể hiện ở chỗ: các chỉ tiêu, phương án hành động được tập
thể tham gia bàn bạc, kiến nghị các biện pháp thực thi trước khi quyết định.
Ý kiến dân chủ của quần chúng trong việc xây dựng các phương án và
biện pháp kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt đối với vấn đề quản lý. Vì chính
quần chúng đông đảo là người thực hiện các phương án, bảo đảm tính khả thi
các phương án.
Hiện nay, ở nước ta, tại đơn vi cơ sở, thường hay vi phạm nguyên tắc
này. Nóđược thể hiện ở chỗvi phạm vì quyền lợi cục bộđơn vị mình mà lãnh
10
đạo và quần chúng đồng tình làm sai quy chế quản lý vi phạm pháp luật (như
trốn lậu thuế ).
3. Nguyên tắc kết hợp các lợi ích kinh tế
Lợi ích kinh tế là quyền lợi được hưởng thụ của người laođộng, tập
thểđơn vị sau khi đã hoàn thành kế hoạch và nghĩa vụđối với nhà nước. Nó
không chỉđược thể hiện bằng giá trị vật chất, mà cả các giá trị tinh thần, văn
hóa, xã hội.
3.1. Lợi ích kinh tế cá nhân:
Thể hiện cụ thể bằng các khỏan thu nhập bằng tiền, quyền lợi về nhàở,

trong uản lý vì nóđáp ứng các đòi hỏi cụ thể về quyền lợi.
Kết hợp hài hòa các lợi ích kinh tế, nhằm khắc phục những hạn chế nảy
sinh, trước hết, phải giải quyết đúng đắn các lợi ích, xác định vị trí quan tọng
của từng lợi ích trong toàn xã hội.
4. Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả kinh tế cao nhất
Tiết kiệm là hạn chế chi phíđến mức tối thiểu mà vẫn đảm bảo được
hiệu quả tối đa. Trong sản xuất - kinh doanh bao giờ cũng đòi hỏi phải tiết
kiệm chi phí tiền vốn, vật liệu, sức lao động, thời gian còn hiệu quả là kết
quả cuối cùng của hoạt động được đo bằng giá trị (vật chất và tinh thần), thời
gian (khoảng thời gian có giá trị), tác động (tác dụng tạo ra được các hoạt
động tiếp theo như: công ăn, việc làm v.v ).
Tiết kiệm và hiệu quả là 2 yếu tố quan trọng cần quan tâm của hoạt
động kinh tế và luôn đi đôi với nhau nên nó cũng là thước đo đểđánh giá kết
quả cuối cùng của quản lý; nó thể hiện tính khoa học của hoạt động quản lý.
Vì vậy, cần sử dụng phương thức quản lý tiên tiến nhất thì mới tiết kiệm được
mọi chi phí vàđem lại hiệu quả cao nhất.
Việc vận dụng nguyên tắc này tại đơn vị cơ sở phải có tầm nhìn và vì
lợi ích lâu dài của toàn xã hội, không vì cục bộđơn vị cơ sở mà làm phương
hại đến lợi ích chung. Ví dụ: muốn đạt được chỉ tiêu khai thác khối lượng gỗ
lớn, phải quan tâm đến môi trường, môi sinh, hệ sinh thái, tránh gây tình trạng
12
đất hoang, đồi núi trọc, cạn kiệt rừng đầu nguồn dẫn đến hạn hạn, lũ lụt
chấp nhận có sự cạnh tranh trong cơ chế kinh tế thị trường nhưng giữa các
doanh nghiệp với nhau không được gây hậu quả làm rối loạn thị trường, vô
chính phủ, thiêt hại tài sản của xã hội.
IV. MINHHỌABẰNGVÍDỤTHỰCTIỄNCỦADOANHNGHIỆP:
Nghệ thuật sử dụng nguồn nhân lực của Tổng công ty xây dựng công
trình Hoàng Thắng
Với tư cách pháp nhân và có số vốn riêng, sốlaođộng của công ty luôn
thay đổi. Trong năm 2001, công ty tiến hành sắp xếp, bố trí lại lao động một

công ty. Hàng năm, Công ty tạo điều kiện cho cán bộđi học và tổ chức các lớp
học ngắn hạn cho laođộng trực tiếp.
Tóm lại việc hoạt động kinh doanh của bất cứ một doanh nghiệp nào
đều phụ thuộc vào quá trình quản lý doanh nghiệp theo một phương pháp (hay
nghệ thuật) nói chung và việc sử dụng nguồn nhân lực của Công ty xây dựng
công trình Hoàng Thắng nói riêng. Trên đây, những vấn đề về việc sử dụng
con người (nguồn nhân lực) của công ty.Đó cũng là sự quản lýtheo khoa học
mà hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam áp dụng để mang lại sự thành công
của công ty mình.
14
KẾTLUẬN
Tính khoa học quản lý có vai tròđặc biệt quan trọng trong việc quản lý
của doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế của Việt Nam nói chung. Nó giúp
các doanh nghiệp cóđược công cụ sử dụng để quản lý linh hoạt và sắn bén và
có hiệu quả kinh tế cao nhất.
Có thể nói, khoa học quản lý là những nguyên tắc có thểáp dụng một
cách khách quan và cóđịnh hướng trong doanh nghiệp tùy theo tình thuốgn
vàđiều kiện của mỗi doanh nghiệp đểđưa ra một lộ trình phù hợp. Tuy nhiên,
để có thể sử dụng được các phương pháp khoa học và kỹ thuật quản lý là phải
có tính nghệ thuật và “bí quyết” đồng thời phải có sự hiểu biết sâu sắc về khoa
học kỹ thuật và xã hội một cách hợp lý. Muốn cóđược quản lý tốt và phát triển
phải có sự chuẩn bị kỹ càng về cơ sở khoa học quản lý và phải dựa trên các
nguyên tắc quản lý.
Trong nền kinh tế Việt Nam cũng như trong doanh nghiệp của ta đang
đứng trước nhiều khó khăn và thử thách về kỹ thuật cũng như về quản lý con
người.Một doanh nghiệp mà không có sự quản lý tốt và hiệu quả kinh tế cao
sẽ không đảm bảo được những ảnh hưởng mạnh mẽ từ những điều kiện bên
ngoài. Hơn nữa, sau 20 năm đổi mới và những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh
vực quản lýđang dần được hình thành, hứa hẹn một khả năng chắc chắn cho sự
chuyển đổi cơ chế quản lý trong doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status