Lợi thế cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới và giải pháp nâng cao lợi thế cạnh tranh doc - Pdf 19

Lợi thế cạnh tranh của hàng hoá
xuất khẩu Việt Nam trên thị trường
thế giới và giải pháp nâng cao lợi thế
cạnh tranh
1
1
MỤCLỤC
Lời mởđầu 1
Phần I: Lý luận chung về cạnh tranh 2
1. Khái quát chung về cạnh tranh 2
2. Vai trò của cạnh tranh 2
Phần II: Thực trạng và khó khăn của hàng xuất khẩu Việt Nam trong
giai đoạn hiện 4
1. Lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam trên thị trường thế giới4
2. Những nhân tố chủ yếu làm hạn chế lợi thế cạnh tranh của hàng xuất
khẩu Việt Nam 5
Phần III: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao lợi thế cạnh
tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 8
1. Một số giải pháp và kiến nghị 8
2. Liên hệ thực tế 10
Kết luận 12
2
2
LỜIMỞĐẦU
Một trong những xu thế của thời đại đang cóảnh hưởng mạnh mẽ tới tất
cả các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế thương mại
là xu thế toàn cầu hoá. Trong bối cảnh đó Việt Nam đã cam kết hội nhập
kinh tế quốc tế thông qua các hiệp định song phương( như hiệp định
thương mại Việt Nam- hoa kỳ), khu vực như (khu vực tự do ASEAN,
AFTA…) vàđang đàm phán để hội nhập đa phương, gia nhập tổ chức
thương mại thế giới (WTO). Hội nhập kinh tế góp phần tạo điều kiện mở

PHẦNTHÂN
Phần I: LÝLUẬNCHUNGVỀCẠNHTRANH.
1. Khái quát chung về cạnh tranh .
1.1 Cạnh tranh là gì ?
Theo từđiển tiếng việt cạnh tranh là sự ganh đua, giành giật để chiếm
lĩnh thị phần, thị trường và khách hàng giữa các đối thủ với nhau.
Cạnh tranh là việc sử dụng các mưu mô thủđoạn, chiến lược, chiến thuật
đểđạt được ưu thế cao hơn so với đối thủ.
1.1 Lợi thế cạnh tranh là gì ?
Theo ông Michacl Porter lợi thế cạnh tranh là nguồn lực, lợi thế của
nghành, quốc gia mà nhờ có chúng mà các doanh nghiệp kinh doanh trên
thị trường quốc tế tạo ra một sốưu thế vượt trội hơn, ưu việt hơn so với các
đối thủ cạnh tranh trực tiếp, lợi thế cạnh tranh này giúp cho nhiều doanh
nghiệp cóđược "Quyền lực thị trường " để thành công trong kinh doanh và trong
cạnh tranh.
Theo báo phát triển Châu Á- Thái Bình Dương lợi thế cạnh tranh của sản
phẩm là những thế mạnh mà sản phẩm có hoặc có thể huy động để có
thểđạt thắng lợi trong cạnh tranh. Có hai nhóm lợi thế cạnh tranh:
Lợi thế về chi phí: Tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh
tranh. Các nhân tố sản xuất nhưđất đai, vốn , lao động là nguồn lực để tạo
ra lợi thế cạnh tranh.
Lợi thế về sự khác biệt hoá: Dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng
giá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sản phẩm, hoặc nâng cao tính
hoàn thiện sản phẩm khi sử dụng sản phẩm. Lợi thế này cho phép thị
trường chấp nhận mức giá, thậm chí cao hơn đối thủ cạnh tranh. Một hàng
hoá có thể cạnh tranh thành công khi cóđược lợi thế cụ thể nào đó hơn các
hàng hoá khác. Những lợi thếđóđược biểu hiện ra bên ngoài hình thành các
tiêu chí phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
2. Vai trò của cạnh tranh.
4

5
Phần II: THỰCTRẠNGVÀKHÓKHĂNCỦAHÀNGXUẤTKHẨU VIỆT
NAMTRONGGIAIĐOẠNHIỆNNAY.
1. Lợi thế cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu Việt Nam trên thị
trường thế giới.
Trong những năm qua, thực hiện đường lối của Đảng và nhà nước nền
kinh tế của đất nước đã gặt hái được nhiều thành công. Chính sách mở cửa
hợp tác liên doanh liên kết và làm ăn với bạn bè nước ngoài đã mở ra
hướng đi mới cho hàng hoá Việt Nam, mở rộng tiêu thụ sản phẩm và góp
phần làm cho hoạt động xuất khẩu Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng
chúý. Ngoài ra các sản phẩm sản xuất ra trong nước cũng ngày càng khẳng
định được vị thế trên thị trường, thị trường xuất khẩu ngày càng được mở
rộng, người tiêu dùng dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ hàng hóa Việt Nam
một cách đa dạng hơn về chất lượng, mẫu mã…Nhiều thị trường được coi
là khó tính như Nhật Bản, Mỹ, Anh… trước đây hàng hoá của ta khó có thể
thâm nhập được vậy mà hiện nay, không những hàng hoá Việt Nam đã
thâm nhập mà còn thâm nhập sâu, chiếm tỉ trọng đáng kể trong kim nghạch
xuất khẩu của đất nước. Những con số xuất khẩu 4 tháng đầu năm 2004 dẫ
chỉ ra những dấu hiệu đáng mừng của nền kinh tế nước nhà. Tổng giá trị
xuất khẩu bốn tháng đầu năm nay đạt 7390 triệu USD trong đó riêng tháng
4 đạt 1870 triệu USD, xuất khẩu gạo tháng 4/2004 là 110 tỉ còn cà phê là
47 tỉđồng. Như vậy có thể nói rằng mức xuất khẩu hàng hoá Việt Nam ngày
càng cao với những điểm nhấn kháấn tượng. Vậy hàng hoá Việt Nam có
những lợi thế cạnh tranh gì ? những yếu tố nào có thể giúp hàng hóa Việt
Nam có những lợi thếđó?
Lợi thế thứ nhất có thể nói rằng đó là vấn đề giá cả: Giá cả hàng hoá
Việt Nam rẻ hơn nhiều so với hàng hoá xuất khẩu ở nhiều nước khác . Vì
6
6
sao lại như vậy? Thứ nhất là vì Việt Nam có khí hậu thuận lợi cho sự phát

xuất khẩu Việt Nam.
7
7
Trong giai đoạn hiện nay mặc dù có rất nhiều lợi thế cạnh tranh so với
các nước khác, tuy nhiên hàng hoá xuất khẩu Việt nam trong quá trình hội
nhập hiện nay cũng vẫn đang đối mặt với rất nhiều khó khăn thánh thức.
Nhìn một cách trực diện vào tiềm lực của Việt nam và nhu cầu của thị
trường này thì hàng hoá của nước ta vẫn còn yếu thế hơn rất nhiều so với
các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Hàng hoá của Việt nam còn nặng về
sản lượng, lấy số lượng để kéo lại kim nghạch xuất khẩu. Sản xuất lẻ loi,
phân tán giá thành cao, chất lượng không đồng đều, mất cân đối giữa hệ
thống sản xuất-chế biến-kiểm định chất lượng. Phần lớn hàng hoá xuất
khẩu là những mặt hàng thô sơ chưa qua chế biến hoặc chỉ là hàng gia công
theo các đơn đặt hàng có sẵn của các doanh nghiệp nước ngoài. Các mặt
hàng xuất khẩu như : giày dép, hay hàng điện tử… đều được sản xuất dưới
hình thức gia công, chưa có sự chủđộng cao trong việc đưa hàng hoá ra thị
trường nước ngoài, hoặc đơn đặt hàng riêng cho mình. Nói chung Việt Nam
chưa có sản phẩm công nghệ cao, có vị thế trong đàm phán nên lợi thế cạnh
tranh trên thị trường chưa vững chắc, luôn bị thách thức bởi các đối thủ
cạnh tranh mới.
Một số mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào nguồn
nguyên liệu có sẵn và nguồn nhân công dồi dào, rẻ. Đây là mặt trái của nó
trong xu thế nguồn tài nguyên đang dần cạn kiệt, giá nhân công ngày càng
gây bất lợi cho doanh nghiệp muốn dựa vào lợi thế này. Nếu không có kế
hoạch khắc phục phát triển cụ thể, tách dần sự phụ thuộc vào các lợi thế
trên thì doanh nghiệp sẽ rơi vào khó khăn trong những năm sau khi phải
cạnh tranh quyết liệt trong môi trường tự do của thế giới.
Trình độ trang thiết bị phục vụ cho sản xuất còn thấp: hầu hết các trang
thiết bị trong nước đều lạc hậu hơn so với các nước trong khu vực 2-3 thế
hệ. Có tới 70-80% trang thiết bị và máy móc đã lỗi thời hoặc hư hỏng, phần

hơn rất nhiều so với các nước tiên tiến.
Chất lượng nguyên vật liệu trong nước có chất lượng kém, không ổn
định.
Chi phí dịch vụ và chi phí kinh doanh đều quá cao so với khu vực vì các
yếu tố giáđất, giá thuê mặt bằng kinh doanh đều cao, cước điện thoại viễn
thông, phí giao thông vận tải, cảng biển, giá các sản phẩm độc quyền như
xi măng, điện, nước…cao hơn 30-50%, giáđiện cao hơn Thái lan, singapor,
Inđônexia, Lào khoảng trên 45%; chi phí vận tải đường biển container cao
hơn từ 40-50%. Các mức chi phí và lệ phí hàng hải tại các cảng Sài Gòn
còn cao hơn nhiều lần tại các cảng BangKok. Manila, Jakata.
9
9
Trước rất nhiều những khó khăn thách thức, lợi thế cạnh tranh của hàng
hoá nước ta liệu có thể tiếp tục được duy trìđược hay không, có thể tiếp tục
phát huy hết được những lợi thế vốn cóđược hay không? Điều đó còn trông
chờ vào các biện pháp giải quyết có hữu hiệu hay không để khắc phục
những khó khăn trước mắt và tạo hướng đi mới về sau cho hàng hoá xuất
khẩu nước ta.
10
10
Phần III.
MỘTSỐGIẢIPHÁPVÀKIẾNNGHỊNHẰMNÂNGCAOLỢITHẾCẠNHTRANHC
ỦAHÀNGHOÁXUẤTKHẨU VIỆT NAMTRONG
GIAIĐOẠNHIỆNNAY.
1. Một số giải pháp và kiến nghị.
Hiện nay các hoạt động xuất khẩu đã vàđang đóng góp cho nền kinh tế
của nước ta nhiều lợi ích quan trọng góp phần làm cho nền kinh tếđất nước
ngày càng thêm khởi sắc, tạo công ăn việc làmn cho người lao động, giảm
nạn thất nghiệp và từđó cũng làm giảm bớt các tệ nạn xã hội, bên cạnh đó
xuất khẩu còn góp phần giới thiệu về bản sắc con người dân tộc Việt Nam

khai thác có hiệu quả những lợi thế có sẵn trong lựa chọn sản xuất tung sản
phẩm ra thị trường với mức chi phí thấp nhất, lợi nhuận cao nhất mà vẫn
đảm bảo chất lượng. Ngoài ra cũng không quên nghiên cứu, đưa ra những
sản phẩm mới, hiện đại hoá khâu thiết kế sản phẩm , chọn lựa hệ thống
quản lý chất lượng để nâng cao uy tín cho doanh nghiệp; phát triển mạng
lưới tiêu thụ, hệ thống phân phối sản phẩm; doanh nghiệp phải luôn là
người hiểu được tâm lý, nắm bắt được kịp thời thị hiếu của khách hàng để
kịp thời những phản ứng trước các đối tượng cạnh tranh trên cùng thị
trường.
Còn một điều mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng nữa là nâng cao trình
độ nghiệp vụ, năng lực kinh doanh của người lao động. Bằng cách liên tục
mở các lớp đào tạo huấn luyện trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho người
lao động, tổ chức cho cán bộ quản lýđi cọ sát với thị trường các nước bạn
để học hỏi kinh nghiệm kinh doanh vàđiều hành quản lý doanh nghiệp để
họ quảng bá kinh doanh cho cán bộ và nghề người lao động.
1.2 Về phía nhà nước
Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết và tạo hành lang
thông thoáng và thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu, tạo cơ hội cho hàng
hoá Việt nam dễ dàng đến với bạn bè nước ngoài và góp phần nâng cao lợi
thế cạnh tranh của hàng hoá nước ta so với hàng hoá của các đối thủ cạnh
tranh khác.
Trước hết cần có chính sách toàn diện tạo điều kiện thuận lợi cho các
loại hình doanh nghiệp hoạt động bình đẳng cùng phát triển. Mở rộng
quyền tự chủ trong kinh doanh của doanh nghiệp, xoá bỏ các thủ tục hành
chính rườm rà, tạo dựng tính minh bạch gọn nhẹ cho các đơn vị tham gia
sản xuất kinh doanh. Tạo lập môi trường kinh doanh lành mạnh, hạn
chếđộc quyền của các doanh nghiệp ở một số lĩnh vực bằng các chính sách
kiểm soát giá, xác định tiêu chuẩn chất lượng tối thiểu cho các sản phẩm
12
12

Như vậy các biện pháp trên từ việc nghiên cứu những nhân tố tác động
đến lợi thế cạnh tranh thì việc đưa ra các biện pháp sẽ góp phần nâng cao
hơn nữa lợi thế sản phẩm của hàng hoá. Xuất khẩu Việt Nam trên thị
13
13
trường thế giới. Nâng cao lợi thế cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam để
cạnh tranh tốt, hội nhập có hiệu quả, khai thác triệt để các cơ hội và giảm
thiểu thách thức là con đường tất yếu phải vượt qua. Việc lộ trình đúng đắn
với những bước đi hợp lý, vững trắc, xác định và thực hiện tốt các giải
pháp là chìa khoá của thành công.
2. Liên hệ thực tế
Hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam: Lợi thế cạnh tranh xuất khẩu?
Ước tính bình quân hiện nay, kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ
(TCMN) đạt khoảng 250 triệu USD/năm, đứng hàng thứ 6 trong danh mục
các mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất cao. Anh Nguyễn Hữu Hưng, bộ phận
quan hệ nước ngoài, công ty Haprosimex Saigon, cho biết tính riêng ở công
ty, kim ngạch xuất khẩu các năm qua vẫn tăng đều, và trong năm nay ước tính
có thể đạt đến 5 triệu USD/năm. Tại công ty Haprosimex, một giải pháp đang
được kiên trì theo đuổi là phải xây dựng được thương hiệu cho hàng TCMN
Việt Nam. Theo anh Hưng, mặc dù kim ngạch xuất khẩu có tăng nhưng ấn
tượng về sản phẩm với nhãn mác made in Vietnam vẫn chưa đạt yêu cầu.
Một nỗ lực khác là không ngừng tìm kiếm thị trường mới, bạn hàng mới.
Theo các công ty xuất khẩu hàng TCMN, gần đây đã có nhiều doanh nghiệp
Việt Nam tham gia những hội chợ chuyên ngành như hội chợ Frankfurt (Đức)
đang diễn ra vào thời điểm này. Đây là một trong những cơ hội để các doanh
nghiệp Việt Nam cố gắng có mặt để giới thiệu sản phẩm, tìm thêm những mối
quan hệ mới. Khó khăn mà một số doanh nghiệp hàng TCMN đều nhìn nhận
là mẫu mã, chất lượng của nhiều mặt hàng TCMN Việt Nam còn những hạn
chế nhất định. Điều này liên quan đến quy mô tổ chức, tính liên kết trong các
làng nghề, cơ sở làm hàng TCMN. Ở nhiều làng nghề, quy mô và trình độ

trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển trở thành một trong
những con rồng Châu Á. Với tỉ lệ GDP ngày càng cao, đời sống nhân dân
ngày càng thêm ổn định, việc phát triển nền kinh tế hàng hoá theo hướng
hội nhập là một mục tiêu để phát triển hơn nữa nền kinh tế nước nhà. Một
trong những nội dung của mục tiêu đó là làm sao để thúc đẩy việc giao lưu
buôn bán với bạn bè thế giới góp phần phát triển hơn nữa nền kinh tế và
tăng thêm tình hợp tác hữu nghị với các bạn bè trên thế giới. Để thực hiện
được mục tiêu đó cần phải có những kế sách cụ thể, sựđoàn kết nhất trí từ
phía nhà nước và tất cả các thành phần kinh tế khác. Những việc cần làm
trước mắt là làm sao để nâng cao hơn nữa lợi thế cạnh tranh của hàng xuất
khẩu nước ta. Có như vậy mới tăng được độ hấp dẫn của các mặt hàng, mới
15
15
có thểđưa được hàng hoá Việt Nam với bạn bè năm châu, tăng cường hội
nhập, hiểu biết và hợp tác với nhau.
Em, một công dân của đất nước, xin hứa trong thời gian đang học tại
trường Quản Lý Kinh Doanh sẽ luôn học tập, không ngừng trau dồi kiến
thức để mai này đem lượng kiến thức đó làm hành trang vào đời và góp
phần nhỏ nhoi của mình phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước
góp phần làm cho Việt Nam vững bước phát triển đi lên cùng thời đại.
16
16
TÀILIỆUTHAMKHẢO
1. PGS.TS. Trần Văn Chu- Quản lý và nghiệp vụ kinh doanh thương mại
quốc tế- Nhà xuất bản thế giới 8/2003.
2. PGS. Vũ Hữu Tửu- Kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương- Nhà xuất bản
Giáo dục- 1998.
3. Ths. Nguyễn Mạnh Quân- Giáo trình Chiến lược kinh doanh - Khoa
quản lý doanh nghiệp - ĐH. Quản Lý Kinh doanh Hà Nội.
4. Từđiển Tiếng Việt- Nhà xuất bản Trẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status