tác động đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp tại công ty công nghiệp tàu thủy nha trang - Pdf 19

1
LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Mặc dù không ai muốn nhưng trên thực tế rủi ro vẫn cứ luôn song hành
trong cuộc sống nói chung và trong suốt quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
nói riêng của doanh nghiệp. Trong khi đó, mục tiêu cuối cùng của doanh nghiệp là
nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Trong điều kiện các nguồn lực của doanh nghiệp là hữu
hạn cho nên đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn cân nhắc, tính toán, lựa chọn những
giải pháp cho một vấn đề, phương án thực hiện cho một công việc dự định. Để có
lựa chọn tốt nhất, người ta sẽ phải so sánh mục tiêu mong muốn sao cho với chi phí
bỏ ra thấp nhất trong thời gian cho phép nhưng đạt được doanh thu cao nhất và lợi
nhuận thu được ở mức tối đa, tức là đồng nghĩa với việc hạn chế tới mức thấp nhất
những rủi ro có thể xảy ra.
Vấn đề đặt ra là để làm được điều này, đòi hỏi các nhà quản lý tài chính phải
thật am hiểu những vấn đề cơ bản và mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa các yếu tố:
đòn bẩy, rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính, điểm hòa vốn, độ nghiêng đòn bẩy kinh
doanh, độ nghiêng đòn bẩy tài chính, độ nghiêng đòn bẩy tổng hợp…Thông qua
phân tích tác động qua lại giữa các yếu tố trên, các nhà quản trị sẽ đánh giá đúng
đắn nhất kết quả hoạt động kinh doanh, tìm ra điểm tựa làm đòn bẩy doanh lợi lên
cao, khai thác khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp, đồng thời có biện pháp thích
hợp hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất do rủi ro mang lại.
Chính vì thế, trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp thì
vấn đề: Tác động đòn bẩy lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp đã trở thành một
vấn đề hết sức lý thú và hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm đông đảo của nhiều
người cả trong lý luận lẫn thực tiễn, đặc biệt là trong bối cảnh “con tàu” Việt Nam
đã ra biển lớn, vượt sóng hội nhập, khi nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập vào “sân
chơi” chung của toàn cầu với rất nhiều những cơ hội và thách thức to lớn đang tồn
tại đan xen nhau, bởi “lực đẩy” của cạnh tranh và hội nhập thì vấn đề: Tác động đòn
2
bẩy lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp như thế nào càng trở nên bức thiết hơn

hạn chế rủi ro tại Công ty công nghiệp tàu thủy Nha Trang.
Do thời gian có hạn và kiến thức còn hạn chế nên phạm vi nghiên cứu cũng
như việc phân tích phục vụ cho đề tài còn chưa hoàn toàn như ý, vì vậy, những đánh
giá đưa ra trong đề tài còn chưa hoàn toàn đầy đủ và chính xác. Em rất mong sự góp
ý chân thành từ thầy cô và bạn đọc.
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy Thái Ninh
cùng các thầy cô và các anh chị ở Công ty công nghiệp tàu thuỷ Nha Trang trong
suốt quá trình hoàn thành đề tài này.
Sinh viên
ĐINH THỊ THUÝ LAN
4


VÀ RỦI RO CỦA DOANH NGHIỆP

5
1.1 Tổng quan về rủi ro của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm rủi ro
Có thể hiểu rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả, rủi ro hiện diện
ở hầu hết các hoạt động của con người. Khi có rủi ro người ta sẽ không dự đoán
chính xác được kết quả, do đó sự tồn tại của rủi ro sẽ gây nên sự bất định, sự không
chắc chắn của kết quả dự đoán. Rủi ro là một khái niệm khách quan nên chúng ta có
thể đo lường được nó. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về rủi ro, nhưng cách tiếp
cận phổ biến nhất khi xem rủi ro như là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại tài
chính. Nói một cách khác, thuật ngữ rủi ro được sử dụng với ý nghĩa thay thế qua
lại lẫn nhau với thuật ngữ không chắc chắn để mô tả sự biến đổi của các tỷ suất sinh
lời liên quan đến một chứng khoán hay một tài sản nào đó. Nghĩa là rủi ro được
định nghĩa như là khả năng các dòng tiền thực tế sẽ khác hơn các dòng tiền dự báo.
Rủi ro mang lại những bất lợi lớn cho con người. Mức độ sợ rủi ro ở mỗi
người có khác nhau, nhưng nhìn chung con người rất sợ rủi ro. Do đó, họ luôn tìm
mọi cách để nhận dạng rủi ro cũng như đánh giá, đo lường mức độ ảnh hưởng của
rủi ro để từ đó họ có thể kiểm soát được rủi ro nhằm né tránh và giảm thiểu những
tác hại mà rủi ro mang đến.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp thì rủi ro và sự
bất định có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả hoạt động của mình. Vì thế, đòi hỏi
các nhà quản lý phải dùng nhiều biện pháp để hạn chế đến mức thấp nhất những tác
hại do rủi ro mang lại cho doanh nghiệp.
1.1.2 Phân loại rủi ro
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải thường xuyên
đương đầu với hàng loạt rủi ro. Tuy nhiên, hai loại rủi ro có ảnh hưởng trực tiếp đến
doanh nghiệp có thể kể đến là: Rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
1.1.2.1 Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro tiềm tàng trong bản thân hoạt động của từng

gia tăng sử dụng các số lượng nợ và cổ phần ưu đãi làm tăng các chi phí tài chính cố
định của doanh nghiệp, đến lượt mình các chi phí này lại làm tăng mức EBIT mà
7
doanh nghiệp phải đạt được để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính và duy trì hoạt động.
Lý do một doanh nghiệp chấp nhận rủi ro của tài trợ có chi phí tài chính cố định là
để tăng lợi nhuận có thể có cho các cổ đông. Như vậy, rủi ro tài chính là tính khả
biến tăng thêm của thu nhập mỗi cổ phần do việc sử dụng các nguồn vốn có chi phí
tài chính cố định. Một phần của rủi ro tài chính là có hệ thống và phần còn lại là
không hệ thống.
Những doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau phải đối diện
với mức độ đòn bẩy khác nhau, và họ có thể thay đổi phương thức sử dụng đòn bẩy
tài chính một cách hợp lý. Một cách tổng quát, những doanh nghiệp mà bản thân
phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh có khuynh hướng sử dụng nợ ít hơn những
doanh nghiệp mà rủi ro trong kinh doanh có giới hạn. Nhưng những doanh nghiệp
trong trường hợp thứ hai có thể nổ lực hướng tới rủi ro về mặt tài chính cao hơn so
với trường hợp thứ nhất.
1.2 Tác động đòn bẩy kinh doanh lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp
Trong tài chính, đòn bẩy được định nghĩa là việc doanh nghiệp sử dụng tài
sản và nợ có chi phí hoạt động cố định và chi phí tài chính cố định trong nổ lực gia
tăng lợi nhuận tiềm năng cho các cổ đông. Trước hết, ta đi tìm hiểu về đòn bẩy
kinh doanh.
1.2.1 Khái niệm đòn bẩy kinh doanh
Đòn bẩy kinh doanh phản ánh sự thay đổi của các yếu tố sản lượng tiêu thụ,
cấu trúc chi phí lên doanh lợi của doanh nghiệp. Đòn bẩy kinh doanh liên quan đến
sử dụng tài sản cố định phí. Đòn bẩy kinh doanh còn được gọi là Đòn cân định phí,
vì nó thể hiện mức chi phí cố định, được sử dụng trong các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Thông qua đòn cân định phí, các nhà quản trị có thể đánh
giá ảnh hưởng của chi phí cố định đối với doanh lợi của doanh nghiệp. Đòn cân
định phí có tác dụng tốt cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp sử dụng một cơ cấu chi
phí hợp phí của ngân quỹ và chọn được một tỉ lệ định phí thích hợp để nó tác động

này, tỷ lệ chi phí cố định chiếm trong tổng chi phí là khá lớn. Còn định phí tùy ý
(hay định phí không bắt buộc) thì chiếm một tỷ lệ thấp trong tổng định phí. Tuy
9
nhiên, trong thực tế không có ranh giới rõ ràng giữa định phí và biến phí mà có
loại chi phí bao gồm cả yếu tố khả biến và bất biến, đó là chi phí hỗn hợp. Ở
mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của
định phí. Thông thường ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản, nó thể hiện
đặc điểm của biến phí. Chi phí điện thoại là một ví dụ của chi phí hỗn hợp, trong
đó phần định phí là chi phí thuê bao, phần biến phí là chi phí tính trên thời
gian gọi.
1.2.3 Đánh giá rủi ro kinh doanh thông qua việc phân tích hòa vốn
1.2.3.1 Định nghĩa điểm hòa vốn
Điểm hòa vốn là điểm mà tại đó doanh thu chỉ bù đắp những chi phí mà
doanh nghiệp đã bỏ ra. Hay nói cách khác, điểm hòa vốn là điểm mà tại đó
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không lời cũng không lỗ (EBIT = 0).
1.2.3.2 Phân tích hòa vốn
Để hiểu được vai trò của đòn bẩy kinh doanh trong việc ấn định rủi ro
kinh doanh của một doanh nghiệp, cần triển khai các nguyên tắc cơ bản của phân
tích hòa vốn (còn gọi là phân tích chi phí – sản lượng – lợi nhuận). Phân tích
hòa vốn là phương pháp sử dụng để nghiên cứu về mối liên hệ giữa doanh thu,
các chi phí hoạt động cố định, các chi phí hoạt động biến đổi và EBIT tại nhiều
mức sản lượng khác nhau của doanh nghiệp.
Mục đích của việc phân tích hòa vốn là để xác định lợi nhuận từ kinh
doanh sẽ thay đổi như thế nào so với mức sản xuất và nhận biết mức sản xuất mà
tại đó quá trình từ lỗ sang lãi diễn ra.
Chúng ta có mối quan hệ: EBIT = Doanh thu – Tổng chi phí
Mà: Tổng chi phí = Biến phí + Định phí
Suy ra: EBIT = Doanh thu – (Biến phí + Định phí)
Tại điểm hòa vốn, thì EBIT = 0, tức:
Doanh thu hòa vốn – (Biến phí + Định phí) = 0

Thv 

Nhìn vào đồ thị dưới đây biểu diễn mối quan hệ giữa sản lượng, doanh số
(doanh thu) và chi phí, ta thấy EBIT cho các trường hợp xuất lượng khác nhau,
đường biểu diễn của doanh số và tổng chi phí gặp nhau tại một điểm, ở đó được gọi
là điểm hòa vốn, các khoản lỗ phát sinh trong phạm vi mức sản lượng nào đó, với
mức doanh thu tương ứng, với sản lượng này không đủ để bù đắp chi phí. Ứng với
sản lượng hòa vốn là doanh thu hòa vốn chỉ vừa đủ để bù đắp chi phí, không có lãi.
Khi nào tiêu thụ trên mức sản lượng hòa vốn với doanh thu hòa vốn thì sẽ có lãi.
Điểm hòa vốn nói lên tình trạng doanh thu tại điểm đó vừa đúng bằng chi phí. Khi
nào doanh thu đã bù đắp đủ chi phí thì vùng lãi sẽ xuất hiện.
11
Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa sản lượng, doanh thu và chi phí

Trong phân tích hòa vốn cũng có một vài hạn chế của nó như: Gía bán và


Chi phí12
ĐP1
thua lỗ, bằng việc phân tích độ nhạy của điểm hòa vốn đối với các yếu tố trên,
chúng ta sẽ xác định được mức độ rủi ro của từng yếu tố trên lợi nhuận của Công ty
và sẽ đánh giá được yếu tố nào quan trọng, mức độ rủi ro cho doanh nghiệp là cao
hay thấp.
1.2.3.4 Tác dụng của phân tích hòa vốn
Đánh giá khả năng tạo lãi của một phương án sản xuất sản phẩm mới:
Phân tích hòa vốn giúp ta lựa chọn được quá trình nào có tổng hợp chi phí
thấp nhất ứng với khối lượng sản phẩm yêu cầu. Lẽ tất nhiên, điểm này cũng chỉ
cho ta vùng lợi nhuận tốt nhất. Cho nên, ta có thể tập trung vào hai vấn đề: quá trình
có chi phí thấp và tổng số tiền lãi. Chỉ khi ta tập trung vào hai vấn đề này thì quyết
định về quá trình sản xuất mới đạt kết quả. Ta sẽ biểu diễn qua quá trình sản xuất để
so sánh:
BP1 BP2
ĐP3

PA 1 PA 2 PA 3
Các Công ty có quyền lựa chọn để hoạt động kinh doanh với những công
nghệ sản xuất khác nhau, các doanh nghiệp đầu tư vào những công nghệ kỹ thuật
thấp, đòi hỏi nhiều công nhân thì tài sản cố định thấp và do vậy tỷ lệ định phí thấp
trong tổng số chi phí, tức là chúng có khả năng sản xuất thấp (PA 1). Ngược lại,
những doanh nghiệp đầu tư nhiều vào kỹ thuật thì tài sản cố định rất cao và do vậy

2 Biến phí (V) 60,000

60.00

30,000

30.00

3 Số dư đảm phí (3=1-2) 40,000

40.00

70,000

70.00

4 Định phí 30,000

60,0005 EBIT (5=3-4) 10,000

10,000 - Khi doanh thu được tăng lên 10% (hay khi doanh thu bị giảm xuống 10%): - Lựa chọn những phương án kinh doanh khác nhau:

60

33,000

30

54,000

60

27,000

30

SDĐP 44,000

40

77,000

70

36,000

40

63,000

70


được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
như: giá bán đơn vị, biến phí đơn vị, định phí; Xác định được mục tiêu lợi nhuận
cho doanh nghiệp để lựa chọn các phương án kinh doanh khác nhau; Giúp cho
doanh nghiệp đánh giá được mức độ rủi ro của một dự án đầu tư hay mức độ rủi ro
của hoạt động sản xuất kinh doanh một doanh nghiệp…
1.2.4 Độ nghiêng đòn cân định phí (DOL) và mối quan hệ giữa DOL với
doanh thu
Đòn bẩy kinh doanh dùng các chi phí hoạt động cố định làm điểm tựa. Khi
một doanh nghiệp sử dụng các chi phí hoạt động cố định, một thay đổi trong doanh
thu sẽ được phóng đại thành một thay đổi tương đối lớn trong lãi trước thuế và lãi
vay (EBIT). Tác động số nhân này của việc sử dụng các chi phí hoạt động cố định
được gọi là độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (hay độ nghiêng đòn cân định
phí – DOL).
Độ nghiêng đòn bẩy kinh doanh (DOL) được định nghĩa là phần trăm thay
đổi trong EBIT do 1% thay đổi trong doanh thu. Hay nói cách khác, độ nghiêng đòn
bẩy kinh doanh của một doanh nghiệp được định nghĩa là tác động số nhân của việc
sử dụng các chi phí hoạt động cố định. Cụ thể hơn, DOL có thể được tính như phần
trăm thay đổi trong EBIT do một phần trăm thay đổi cho sẵn trong doanh thu
(sản lượng).
15

Phan traờm thay ủoồi trong EBIT
DOL taùi X =
Phan traờm thay ủoồi trong doanh thu

DOL cú th vit thnh:

Q (p-v)
Q (p-v) - F
DOL taùi X =

16
QUAN HỆ GIỮA DOL VÀ DOANH THU
Nhìn vào đồ thị ta thấy: Tại thời điểm hòa vốn (EBIT = 0), tức Q = Qhv,
DOL không xác định. Tại thời điểm này, khi doanh số thay đổi thì EBIT sẽ thay đổi
với tỷ lệ không xác định. Khi doanh số bán hàng tăng (giảm) 1% thi EBIT có
khuynh hướng tăng (giảm) DOL%. Do đó, khi sản lượng tiêu thụ tăng, DOL càng
thấp thì rủi ro trong kinh doanh càng thấp. Sản lượng tiêu thụ càng gần đến mức sản
lượng hòa vốn thì mức độ rủi ro kinh doanh càng cao. Bởi vì càng tiến gần đến mức
sản lượng hòa vốn thì độ nhạy cảm của EBIT khi doanh số thay đổi sẽ càng lớn mà

phí cũng tăng như định phí. Như vậy, nếu một doanh nghiệp có độ nghiêng đòn cân
định phí cao thì những biến đổi nhỏ của doanh số tiêu thụ sản phẩm cũng tác động
lớn vào lợi nhuận (EBIT). Lợi nhuận tăng rất nhanh trong trường hợp mở rộng bán
hàng nhưng đồng thời cũng sẽ giảm rất mạnh nếu có sự sụt giảm mức độ tiêu thụ.
Hay nói cách khác, độ nghiêng đòn cân định phí càng tăng cao thì rủi ro trong kinh
doanh càng lớn. Nhìn chung, tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng ở gần
điểm hòa vốn là càng không tốt, vì đó là tình trạng rất mạo hiểm. Để giảm bớt rủi ro
do hệ số đòn cân định phí tăng, một số doanh nghiệp thực hiện giảm định phí như
nhận gia công đặt hàng, nhận ủy thác xuất nhập khẩu, giảm đầu tư vào tài sản cố
định…Trong phân tích tài chính hiện nay, cần giữ ổn định mức độ ảnh hưởng cho
chi phí cố định vào lợi nhuận khi ta thực hiện phân tích để lập dự toán cho kỳ sau.
Sự biến động của lợi nhuận thể hiện sự mạo hiểm về kinh tế của doanh nghiệp và
thường phụ thuộc vào ba yếu tố: doanh thu, cấu trúc chi phí, mức độ ở gần điểm hòa
vốn so với mức sản lượng có thể.
1.3 Tác động của đòn bẩy tài chính lên doanh lợi và rủi ro của doanh nghiệp
1.3.1 Khái niệm đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính còn được gọi là đòn cân nợ. Đòn cân nợ là tỷ số giữa tổng
số nợ trên tổng số vốn của doanh nghiệp. Tổng số nợ bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ
dài hạn. Đòn cân nợ xác định chi phí tài chính cố định trong tổng số chi phí sử dụng
ngân quỹ của doanh nghiệp. Đòn bẩy tài chính liên quan đến sử dụng nợ (và cổ
18
phần ưu đãi) có chi phí tài chính cố định. Khi doanh nghiệp sử dụng lãi vay thì đòn
cân nợ sẽ làm thay đổi tỷ lệ sinh lời trên phần vốn chủ sở hữu.
1.3.2 Cấu trúc tài chính – Cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn được định nghĩa là sự kết hợp số lượng nợ ngắn hạn thường
xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được dùng để tài trợ cho
quyết định đầu tư ở một doanh nghiệp. Ngược lại, cấu trúc tài chính là sự kết hợp
nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi, và vốn cổ phần thường được dùng để tài
trợ cho quyết định đầu tư ở một doanh nghiệp. Như vậy, cấu trúc vốn chỉ là một
phần của cấu trúc tài chính, tiêu biểu cho các nguồn thường xuyên tài trợ của một

1.3.2.3 Các chỉ tiêu đánh giá cấu trúc vốn
Các chỉ tiêu này phản ánh mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp trong
kinh doanh, đồng thời cũng phản ánh khả năng về rủi ro tài chính có thể xảy ra đối
với doanh nghiệp, cũng như đối với các chủ nợ doanh nghiệp. Thông thường khi
đánh giá cấu trúc vốn của doanh nghiệp người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
* Tỷ số nợ:
V
N
Hn 
Trong đó: Hn: Tỷ số nợ của doanh nghiệp
N: Tổng số nợ của doanh nghiệp
V: Tổng số vốn của doanh nghiệp
Tỷ số này nói lên tình trạng góp vốn của doanh nghiệp, các chủ nợ thường
muốn tỷ số này thấp, có như vậy trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản mới
đảm bảo được khả năng thanh toán nợ. Ngược lại, tùy trường hợp mà doanh nghiệp
có thể muốn có tỷ số nợ cao vì có như thế chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC)
sẽ thấp, để làm cho tỷ suất doanh lợi của vốn chủ sở hữu tăng lên.
Tóm lại, tỷ số này càng cao thì sự biến động tỷ suất doanh lợi của vốn chủ
sở hữu càng lớn do đó rủi ro về mặt tài chính của doanh nghiệp càng tăng.
* Hệ số thanh toán lãi vay:
R
EBIT
Hi 
Với: Hi: Hệ số thanh toán lãi vay
R: Lãi vay phải trả
20
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi vay của doanh nghiệp mà mức độ
an toàn có thể đối với nhà cung cấp tín dụng, tác động chi trả lãi không giống nhau
giữa các doanh nghiệp ở các giai đoạn khác nhau, ở các chu kỳ kinh doanh khác
nhau của vòng đời doanh nghiệp.

Doanh nghiệp mà tài sản gồm phần lớn các khoản thu phải thu và hàng tồn kho mà
giá trị phụ thuộc vào sự sinh lời liên tục của doanh nghiệp thì thường sử dụng nợ
ngắn hạn.
- Thái độ của Ban Giám đốc: có ảnh hưởng đến sự lựa chọn phương thức tài
trợ là sự kiểm soát doanh nghiệp và rủi ro.
Đối với những doanh nghiệp thật lớn mà cổ phần được phân tán rộng rãi có
thể chọn dễ dàng việc phát hành thêm cổ phần. Thường vì họ không sợ mất quyền
kiểm soát doanh nghiệp do sự phát hành mới này. Ngược lại, chủ nhân các doanh
nghiệp nhỏ không thích phát hành thêm cổ phần để nắm chắc phần kiểm soát, vì họ
tin tưởng vào tình hình hoạt động của doanh nghiệp và họ sẽ hưởng lợi nhuận rất
lớn do đòn cân nợ, Giám đốc các doanh nghiệp này rất muốn có các tỷ số nợ cao.
- Thái độ của người cho vay: Mặc dù, phân tích tìm những đòn cân nợ thích
hợp cho doanh nghiệp là nhiệm vụ của Ban Giám đốc, nhưng thường thì chính thái
độ của người chủ nợ mới là yếu tố quan trọng quyết định cơ cấu tài chính. Trong đa
số trường hợp, doanh nghiệp thảo luận cơ cấu tài chính của người chủ nợ và rất tôn
trọng ý kiến của người này. Nếu Ban Giám đốc quá tin tưởng vào tương lai tốt đẹp
mà sử dụng đòn cân nợ quá tiêu chuẩn trung bình của doanh nghiệp, người chủ nợ
sẽ không chấp nhận việc cho vay thêm nợ.
1.3.3 Lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý cho doanh nghiệp
Việc lựa chọn cấu trúc vốn là vấn đề rất quan trọng trong công tác tổ chức
vốn của doanh nghiệp, trong đó chỉ tiêu quan tâm là hệ số nợ của doanh nghiệp.
Vấn đề lựa chọn cấu trúc vốn tối ưu cần phải quan tâm đầy đủ đến khả năng sinh lời
và rủi ro có thể gặp phải, phải xác định được sự phối hợp tối ưu giữa nợ phải trả và
22
vốn chủ sở hữu mà việc phối hợp đó là tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp. Khi xem
xét, lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý đối với từng doanh nghiệp, ta cần phải chú ý:
- Sự phát triển của doanh nghiệp: Nếu dự án trong tương lai có khả năng
phát triển, có thể tăng doanh thu một cách chắc chắn thì sự việc sử dụng vốn vay có
lợi nhiều hơn cho doanh nghiệp.
- Sự ổn định doanh thu: Doanh nghiệp đạt được doanh thu và lợi nhuận

phn trm thay i trong thu nhp mi c phn (EPS).

Phan traờm thay ủoồi trong EPS
DFL taùi X =
Phan traờm thay ủoồi trong EBIT

iu ny ng ý rng nu EBIT tng tng i 1% thỡ EPS tng lờn mt
khon bng DFL %. V ngc li, khi EBIT gim 1% thỡ EPS s gim mt khon
bng DFL %. DFL cũn cú th vit thnh:
- Trng hp: Cu trỳc vn gm c phn thng v n:

Q (p-v) - F
Q (p-v) - F - R
DFL taùi X =

i vi nhng doanh nghip sn xut kinh doanh nhiu loi sn phm, DFL
c tớnh nh sau:

EBIT
EBIT - R
DFL taùi X =

- Trng hp: Cu trỳc vn gm c phn thng, n, c phn u ói:
Vi: R: Chi phớ tr lói vay
T: Thu sut thu thu nhp doanh nghip
Dp: Li tc c phn u ói

Q (p-v) - F
Q (p-v) - F - R Dp/(1 - T)
DFL taùi X =
So sánh hai trường hợp biểu diễn trên đồ thị ta thấy giao điểm giữa hai
đường biểu diễn chính là điểm hòa vốn EBIT. Tại thời điểm này bất kể phương thức
tài trợ như thế nào EPS đều bằng nhau (và bằng 1). Hay nói cách khác: Điểm hòa
vốn EBIT là điểm mà tại đó bất chấp phương thức tài trợ như thế nào thì thu nhập
trên mỗi cổ phần (EPS) của doanh nghiệp vẫn không đổi.
Độ nghiêng đòn bẩy tài chính tiến đến cực đại khi doanh nghiệp tiến gần đến
hoạt động ở mức lỗ, khi EBIT = 0. Khi tất cả các yếu tố khác bằng nhau, độ nghiêng
3 2
1

500 1.000 1.500 2.000

EPS

Tài trợ bằng vốn vay

và vốn chủ sở hữu

Tài trợ bằng
vốn chủ sở hữu
Điểm hòa
v

Phaàn traêm thay ñoåi trong doanh thu

Nó cho thấy khi doanh số tăng lên 1% thì EPS tăng lên một khoản bằng
DTL %. Và ngược lại, khi doanh số giảm 1% thì EPS sẽ giả một khoản bằng DTL
%. DTL còn có thể viết thành:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status