Luận văn
Đề tài " NGHỆ THUẬT BIỂU DIỄN
CÙNG VỚI CỦA ÂM THANH "
Đề án tốt nghiệp 1 Trần Anh Tà
MỤC LỤC
Trang
PHẦN I: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT
BIỂU DIỄN CÙNG VỚI CỦA ÂM THANH TRANG5
1. Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật biểu diễn
2. Sự ra đời và phát triển của âm thanh
PHẦN II: TỔNG QUÁT VỀ ÂM THANH TRANG8
PHẦN III. PHÂN TÍCH TÁC PHẨM VÀ Ý ĐỒ THU THANH
TRANG28
Tác phẩm 1: Trời Hà Nội xanh.
Tác phẩm 2 : Lời biển hát.
PHẦN IV: KẾT LUẬN CHUNG TRANG 53
PHỤ LỤC
Bản nhạc Trời Hà Nội xanh & Lời biển hát
Đĩa CD ca khúc Trời Hà Nội xanh & Lời biển hát
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đề án tốt nghiệp 2 Trần Anh Tà
- Modern Recording Techniques.
- Audio pro home recording course
- The art of mixing - David Gibson
- Kỹ năng cơ bản âm thanh - Phạm Hoàng Dũng
- Các bái giảng của thầy giáo Phạm Hoàng Dũng, thầy giáo
Nguyễn Hồng Quân
thầy bộ môn, cùng sự chia sẻ của các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ để đồ án của em được
hoàn thiện hơn.
Đề án tốt nghiệp 4 Trần Anh Tà
PHẦN I : SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT
BIỂU DIỄN CÙNG VỚI SỰ RA ĐỜI CỦA ÂM THANH
I. Sự hình thành và phát triển của nghệ thuật sân khấu biểu diễn.
Con người sáng tạo ra nghệ thuật qua công việc lao động và sinh hoạt đời
sống hằng ngày. Nghệ thuật giống như "tấm gương phản chiếu cuộc đời". Để qua
đó tự chiêm ngưỡng mình, xem xét lại bản thân và tự đánh giá lại bản thân mình,
còn là "cuốn sách giáo khoa vĩ đại" giảng giải, hướng dẫn cho con người về cái
đẹp, cái thiện, ác, cái mới cũ, cái tiên tiến, lạc hậu tình yêu thương và lòng thù
hận.
Nghệ thuật biểu diễn là nghệ thuật tổng hợp, nó bao gồm cả: ca, múa, nhạc, họa, kịch,
thơ, triết học, mỹ học đồng hành cùng với sự thể hiện khát vọng của con người. Với những
đề tài khác nhau như ca ngợi quê hương đất nước, ca ngợi hạnh phúc lứa đôi, ca ngợi lý
tưởng yêu nước thương dân, trọn nghĩa tình, phê phán cái ác, cái xấu. Nghệ thuật biểu diễn
được thể hiện trong sự giải thích tác phẩm nghệ thuật, dẫn dắt của tác phẩm nghệ thuật nhờ
nội dung của nó, biểu diễn bằng các hình tượng nghệ thuật. Là lôi cuốn sự chú ý động viên
khả năng sáng tạo, thức tỉnh và thúc đẩy thị hiếu âm nhạc và tài năng biểu diễn của người
nghệ sỹ để tác động tới công chúng. Nó chính là sức mạnh lớn lao làm thay đổi nhận thức và
hành động của con người, mang một chuỗi sáng tạo liên tục từ người viết tác phẩm, đến đạo
diễn, diễn viên, đến những người làm kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, mỹ thuật những người
chuẩn bị đạo cụ phục vụ cho biểu diễn. Có như vậy mới diễn đạt được một cách hiệu quả về
cái đẹp, nội dung tác phẩm mà họ muốn trình bày mang lại cho khán thính giả những ý tưởng
đúng đắn và có đầy đủ giá trị.
Ở tại châu Âu, đặc biệt là thời kỳ Văn minh Hy Lạp cổ đại cách đây hàng
ngàn năm, người ta xây dựng lên sân khấu khổng lồ mà người ta gọi là diễn
trường để biểu diễn. Thời kỳ đó loại hình biểu diễn chính là kịch. Các vở hài kịch
do các tác giả thời bấy giờ sáng tác như: Ecxin, Xophoc, Arich đồng thời nơi đây
hoặc xoay tròn, làm cho việc thay đổi cảnh trí và không gian được dễ dàng hơn.
Đề án tốt nghiệp 6 Trần Anh Tà
Bắt đầu từ thời kỳ này cùng với sự phát triển các loại máy móc điện tử phục
vụ cho sân khấu biểu diễn là các kỹ sư, những người thợ chuyên nghiệp phục vụ
cho âm thanh và ánh sáng biểu diễn "Sound man" người làm âm thanh và
“lighting man" người làm ánh sáng, vai trò của những người này là rất quan trọng,
luôn gắn bó chặt chẽ đối với nghệ thuật biểu diễn và là một phần không thể thiếu
được của mọi loại hình biểu diễn nghệ thuật.
Cùng với thời gian và kinh nghiệm với sự lớn mạnh và phát triển không
ngừng của nghệ thuật sân khấu biểu diễn thì âm thanh ánh sáng cũng song song và
cùng đồng hành phát triển, đi từ không đến có, từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp.
Đội ngũ những người làm kỹ thuật âm thanh, ánh sáng, với bao khó khăn thiếu
thốn đã đúc kết thành những kinh nghiệm thành những bài học xương máu. Để
đến hôm nay chúng ta có thể tự hào đó nói đó là một "nghề" và một bộ phận
không thể thiếu được của nghệ thuật sân khấu biểu diễn.
Ta có thể tạm lấy mốc của âm thanh, ánh sáng phát triển từ năm 1955 đến
nay một khoảng thời gian khá dài đối với một đời người, nhưng với một ngành
nghề thì chưa là bao. Vậy mà chỉ mới hơn 50 năm hoạt động và sáng tạo đó, đội
ngũ những người làm kỹ thuật âm thanh, ánh sáng biểu diễn của nghệ thuật biểu
diễn nói chung. Đã đi từ không đến có đạt được những thành công lớn phục vụ
cho nghệ thuật biểu diễn, với một đội ngũ những người làm kỹ thuật đông đảo,
giàu kinh nghiệm, tâm huyết với nghề, tạo nên nhiều diện mạo cho nghệ thuật sân
khấu biểu diễn, góp thêm một bông hoa tươi đẹp cho rừng hoa nghệ thuật nước
nhà thêm tươi đẹp hơn, rực rỡ hơn.
Thiên niên kỷ trước đã khép lại, bước sang thế kỷ mới, với sự phát triển
mạnh mẽ về kinh tế, chính trị của đất nước.
Cùng với sự lớn mạnh của ngành nghệ thuật biểu diễn nói chung và sự bùng
nổ của công nghệ điện tử, viễn thông, công nghệ số Nhất định những người làm
kỹ âm thanh, ánh sáng của Việt Nam sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để hoạt động
Đề án tốt nghiệp 7 Trần Anh Tà
- Trong âm thanh kỹ thuật người ta còn sử dụng một đơn vị khác là dB
dB=20log
P
P
0
P
0
được gọi là thanh áp chuẩn, đây là mức thanh áp nhỏ nhất mà tai người
có thể cảm thụ được.
* Tốc độ truyền âm(Vận tốc âm thanh)
- Trong không khí là 340 m/s
* Tần số của âm thanh : Là số lần dao động cơ học thực hiện trong 1 giây
- Tai ta cảm nhận tần số âm thanh như là độ cao thấp của âm thanh. Ví dụ:
âm thanh sinh ra do dao động 100 lần trong 1s [100Hz] tai ta sẽ nhận biết như là
Đề án tốt nghiệp 8 Trần Anh Tà
âm trầm. Ngược lại dao động sinh ra 4000 lần trong 1s [4000Hz], tai ta cảm nhận
như là âm cao.
- Tai người có thể nghe thấy tần số âm thanh từ 16-20 KHz.
- Dải tần số đó gọi là dải âm tần.
- Âm thanh có tần số f < 16Hz - gọi là hạ âm.
- Âm thanh có tần số f > 20KHz - gọi là siêu âm. (Tai người không nghe
thấy những âm này)
Giữa Fat, Vat, λ, T có một mối quan hệ sau
V=λ . f
Với : f =
1
T
Để có khái niệm về các đại lượng này ta có thể đi từ dao động của âm
thanh.
* Phân tích một âm thanh:
Ngưỡng nghe thấy và đau tai ở mỗi người và mỗi lứa tuổi có sự khác biệt.
- Đường đẳng âm: Đó là một đặc điểm thể hiện tai người đánh giá độ to,
nhỏ của âm thanh ở các tần số khác nhau, ví dụ:f = 1KHz tai ta đánh giá một âm
thanh có mức (độ lớn) là L1(dB) thì ở tần số 2KHz vẫn âm thanh ấy tai ta cảm
nhận như là nhỏ hơn. Muốn có cảm giác về độ lớn giống như trước (ở f=1KHz) ta
phải nâng mức âm thanh lên tới L2(dB). Như vậy đường đẳng âm là đường nối tất
cả các điểm mà mức âm tai ta cảm nhận giống nhau ở các tần số khác nhau
L mức âm[dB]
Ngưỡng chói tai 130dB
Đề án tốt nghiệp 10 Trần Anh Tà
10dB
L2 0dB
L1
Ngưỡng nghe thấy 1KHz 2KHz f (Hz)
(2÷4 dB)
- Hiệu ứng nghe bằng tai ( Hiệu ứng nhị phân)
+ Khả năng cảm thụ âm thanh của tai người ở hai tai khác nhau đối với một
nguồn âm trong không gian;điều đó có thể thấy được trên hình vẽ:
M (nguồn âm)
Tai F Tai T
* Nếu nguồn âm ở bên trái thì sóng âm đi tới tai trái trước, tai phải sau. Do
đó hai tai có sự cảm nhận khác nhau về thời gian của sóng âm.
* Do quãng đường từ nguồn âm tới tai trái gần hơn tai phải nên sự suy giảm
của năng lượng âm thanh ít hơn,cộng với sự chắn của đầu người mà cường độ âm
thanh tác động vào tai trái lớn hơn là ở tai phải.
* Cũng do khoảng cách từ nguồn âm tới tai trái nhỏ hơn tới tai phải và ảnh
hưởng của sự chắn âm do đầu người gây ra nên khi âm thanh tới được tai phải sẽ
Đề án tốt nghiệp 11 Trần Anh Tà
bị hao hụt về tần số (mất tần số cao). Do vậy cảm giác về màu sắc âm thanh của
hai tai cũng khác nhau.
Trong chất rắn còn tồn tại các dạng sóng
đặc biệt như sóng uốn trong các dạng tấm Hình 2.2:Dạng truyền lan của sóng ngang
và màng mỏng, sóng xoắn trong các dây và
thanh.
Trong không khí, sóng âm lan truyền từ nguồn âm ra tất cả các hướng. Nếu
nguồn âm có kích thước nhỏ so với bước sóng thì ta có thể coi nó như một nguồn
âm điểm, và sóng âm sẽ lan toả từ một điểm đó ra không gian như những hình cầu
lớn dần. Dạng sóng âm ấy ta gọi là sóng cầu. Càng ra xa nguồn âm các mặt cầu
càng lớn và các vòm cầu càng phẳng dần, tới một giới hạn nào đó có thể coi mặt
sóng như một mặt phẳng và ta gọi đó là sóng phẳng.
a) Sóng cầu (ở trường gần)
b)Sóng phẳng(ở trường xa)
Dạng sóng ở trường gần và trường xa của một nguồn âm.
Với sóng cầu, càng ra xa nguồn âm thì cường độ càng suy giảm. Với sóng
phẳng,về lý thuyết cường độ có thể coi như không đổi trên đường lan truyền, còn
trong thực tế nó chỉ suy giảm rất ít. Điều đáng chú ý là trên đường truyền lan, sóng
âm còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác.
Đề án tốt nghiệp 13 Trần Anh Tà
2. Các đại lượng vật lý của sóng âm và trường âm.
Một môi trường vật chất mà trong đó sóng âm truyền lan được gọi là trường
âm. Cấu trúc của trường âm có thể được xác định rõ ràng bởi sự phân bố về thời
gian và không gian của một trong hai đại lượng vật lý của trường âm là áp suất
âm thanh hay thanh áp, (biểu thị bằng p) và tốc độ dao động âm (biểu thị bằng v)
Trong cuộc sống hàng ngày, trường âm không chỉ có ý nghĩa đặc biệt (nhất
là đối với công nghệ thu thanh), có cấu trúc rất phức tạp, và cũng chiếm đa số.
Trường âm không chỉ được xác định bởi:
- Đặc điểm của nguồn âm
- Tính chất vật lý của không khí
- Hình dạng và cấu tạo các mặt bao quanh của phòng và đồ vật trong phòng.
Đề án tốt nghiệp 14 Trần Anh Tà
Thanh áp chuẩn p
0
là trị số thanh áp của ngưỡng nghe và bằng 2.10
-5
N/m
2
.
Khi có tác động của sóng âm, các phân tử không khí dao động xung quanh vị
trí cân bằng của nó. Tốc độ dao động của các phân tử không khí do tác động của
âm thanh gọi là tốc độ dao động âm. Cần phân biệt tốc độ dao động với tốc độ
truyền lan của âm thanh.
Ở nhiệt độ 20
o
C và áp suất khi quyển bình thường,âm thanh truyền lan trong
không khí với tốc độ 340 m/s,còn tốc độ dao động âm thì cực nhỏ và phụ thuộc
vào cường độ âm thanh.Trong dải thanh áp từ 10
-9
đến 10
-3
átmốtphe thì tốc độ dao
động âm tương ứng từ 2,5.10
-7
đến 0,25 m/s.
Thanh áp và tốc độ dao động âm là hai đại lượng có ý nghĩa đặc biệt đối với sự
cảm thụ âm thanh(xem mục 2.1.2) cũng như đối với kỹ thuật thu thanh micrôphôn.
Trong trường gần, thanh áp biến đổi theo tỷ lệ nghịch với khoảng cách (p
~1/r) và không phụ thuộc vào tần số,còn tốc độ dao động âm lại phụ thuộc vào tần
số,ở tần số thấp nó biến đổi nhanh hơn theo khoảng cách: biến đổi theo tỷ lệ
nghịch với bình phương khoảng cách (v ~ 1/r
độ và đôi khi cả trạng thái pha của các dao động thành phần đó.
Các quá trình dao động âm tuần hoàn (periodic) chỉ bao gồm các thành phần hài bậc
cao là bội số nguyên lần cơ bản (tần số cơ bản). Các dao động âm không tuần hoàn là một
tập hợp của vô số các tần số ngẫu nhiên, nằm sát cạnh nhau không theo quy luật. Các âm
thanh dạng này điển hình như tiếng động và tất cả các quá trình xuất hiện một lần (quá trình
dao động quá độ, dao động chuyển tiếp). Các nguồn âm tự nhiên tạo nên sự pha trộn cả dao
động tuần hoàn và dao động không tuần hoàn; tiếng nói và tiếng động bao gồm chủ yếu các
dao động không tuần hoàn, âm nhạc lại bao gồm chủ yếu là các dao động tuần hoàn.
Tuỳ theo nhiệm vụ đặt ra và loại dao động âm, ta có thể áp dụng những
phương pháp phân tích cho phù hợp.Thí dụ: đối với các âm thanh ổn định ta có
thể dùng phương pháp phân tích bằng phổ kế trượt và phân tích chuỗi Fuariê hoặc
các bộ lọc đấu song song (phổ kế 1/3 ốcta và 1 ốcta); các dao động âm không ổn
định có thể dùng phổ kế dải hẹp,phổ kế 1/3 hoặc 1 ốcta. Phổ kế thời gian thực có
Đề án tốt nghiệp 16 Trần Anh Tà
thể áp dụng cho mọi phương pháp phân tích. Nó hoạt động theo nguyên lý biến
đổi Fuariê nhanh (Fast Fourier Transformation-FFT), thí dụ cứ 200 ms lại chỉ thị
một phổ âm thanh mới được tích phân từ một tín hiệu đã số hoá.Bằng phương
pháp xử lý thống kê, ta có thể thu được các kết quả đủ độ tin cậy từ các giá trị đo
tức thời theo phương pháp đo FFT ở trên.
III. TRƯỜNG ÂM
Những sự kiện âm thanh hàng ngày như tiếng động, tiếng nói và âm nhạc
thường đan xen, pha trộn với nhau trong một không gian sinh hoạt quen thuộc-
trong một phòng. Và phòng đó có thể nhỏ, có thể lớn-thậm chí rất lớn, có thể vang
và cũng có thể rất “khô”. Một không gian khép kín mà ta gọi là phòng ấy (phòng
ở, phòng họp,phòng hoà nhạc ) có một ý nghĩa đặc biệt đối với sự cảm thụ âm
thanh của con người, giống như ý nghĩa của ánh sáng đối với việc thưởng thức
một bức tranh hay một pho tượng. Không có phòng, ta không cảm nhận được đầy
đủ những hiện tượng âm thanh; cũng như không có ánh sáng, ta không cảm nhận
được hết các thông tin của hình ảnh.Vậy, phòng cũng như ánh sáng là các môi
trường, là chất xúc tác tạo nên sự cảm thụ âm thanh và hình ảnh. Chúng không
sự kiện âm thanh có thể được mô tả bằng hai cách sau đây:
Thứ nhất - một cách khách quan do đo đạc phân tích các sự kiện âm thanh
và độ biến thiên theo thời gian của nó (ÂM THANH KIẾN TRÚC) .
Thứ hai – một cách chủ quan bằng mô tả theo cảm quan thông qua phương
pháp nghe phân tích (ÂM NHẠC CHỦ QUAN) .
Cả hai phương pháp đều cần thiết và có hiệu quả cao; tuỳ theo cách đặt vấn
đề, mỗi phương pháp sẽ cho những kết luận phù hợp, ưu tiên hơn.
Đề án tốt nghiệp 18 Trần Anh Tà
Những khái niệm mang tính khách quan thuộc lĩnh vực âm thanh chủ quan
sẽ nhắc tới ở phần dưới đây cũng đã mang tính phổ cập và thống nhất.
Song mục tiêu được đặt ra ở đây là tìm hiểu mối quan hệ giữa những khái
niệm vật lý của âm thanh kiến trúc với những khái niệm tâm-sinh học của lĩnh vực
âm thanh chủ quan để bổ sung cho nhau, nhằm mô tả, đánh giá và khai thác các
đặc điểm của mỗi trường âm cho công việc thu thanh cũng như đánh giá chất
lượng các sản phẩm thu thanh.
2. Những khái niệm cơ bản về âm thanh kiến trúc.
Trong một không gian khép kín- một phòng,sóng âm từ nguồn âm một mặt
lan truyền trực tiếp tới người nghe hoặc micrôphôn - đó là TRỰC ÂM, mặt khác
nó đập vào các bề mặt giới hạn của phòng (tường, trần, nền) và các đồ vật đặt
trong phòng rồi phản xạ trở lại- đó là PHẢN ÂM.
Hiện tượng này của sóng âm không chỉ xảy ra một lần mà cứ lặp đi lặp lại,
mỗi lần gặp chướng ngại thì một phần năng lượng âm bị tiêu hao vào vật liệu cấu
tạo của vật đó - ta gọi là hiện tượng hấp thụ âm thanh, một phần bức xạ trở lại
không khí - ta gọi là hiện tượng phản xạ âm thanh. Những âm phản xạ lần thứ
nhất gọi là phản âm bậc 1, chúng thường có năng lượng lớn (chỉ nhỏ hơn trực âm)
và tách biệt thành những phản xạ rời rạc, nghĩa là có khoảng cách thời gian giữa
phản âm bậc 1 của tia này với phản âm bậc 1 của tia khác, tuỳ thuộc hình dạng và
kích thước của phòng. Phản âm bậc 1 có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự
cảm nhận không gian của phòng thu, cho dù trong thực tế ta khó có thể nghe tách
biệt chúng ra khỏi tín hiệu chung. Các phản âm bậc 2 ,bậc 3, ngày càng dầy và
thanh trong một phòng. Cảm giác không gian được tạo nên bởi những khái niệm
cơ bản như mức độ cuốn hút người nghe vào khung cảnh âm thanh, độ lớn hay
kích thước của phòng, độ vang và quang cảnh âm thanh của phòng.
Đề án tốt nghiệp 20 Trần Anh Tà
Sự thích nghi về âm thanh của một phòng cho tiếng nói có nghĩa là: thí dụ
không cần hệ trang âm điện thanh mà vẫn đảm bảo được độ rõ cho tiếng nói (thí
dụ cho diễn kịch) ở mọi vị trí trong phòng. Đánh giá về sự thích nghi âm học của
một phòng cho mục đích sử dụng nào đó (tiếng nói hay âm nhạc) được tiến hành
bằng phương pháp nghe kiểm thính. Thí dụ ta dùng các logatom (tức là các âm tiết
vô nghĩa) để kiểm tra độ rõ cho một phòng dùng để biểu diễn tiếng nói.
Độ nét hay độ trong sáng khi biểu diễn âm nhạc biểu thị khả năng phân biệt
được các nhạc khí, các nhóm nhạc khí hoặc các quãng âm của chúng, cho dù
chúng bị pha trộn với phản âm của phòng; nó tạo điều kiện cho sự cảm thụ về một
cấu trúc âm nhạc tổng thể. Độ nét thể hiện sự trong sáng của âm nhạc khi biểu
diễn trong một phòng hoà nhạc cũng tương tự như độ rõ của tiếng nói (nhất là độ
rõ của từ) khi tiếng nói được trình diễn (thí dụ kịch nói) trong một nhà hát. Trong
biểu diễn âm nhạc, các phản âm nằm trong khoảng 80 ms tính từ thời điểm bắt đầu
của sự kiện âm thanh (thí dụ một tiếng đàn pianô) có tác dụng nâng cao độ nét và
khả năng cảm nhận không gian; các phản âm đến muộn hơn lại làm giảm độ nét
của âm nhạc và làm tăng độ vang. Với tiếng nói, giới hạn này nằm trong khoảng
thời gian là 50 ms.
Cần phân biệt rõ tiếng vang (reverberation) và tiếng dội (Echo), tuy cùng là
một hiện tượng vật lý do phản xạ sóng âm tạo nên. Tiếng vang cho ta cảm giác
như một sự kiện âm kéo dài và suy giảm dần âm lượng. Tiếng dội cho ta cảm giác
như một cách nhắc lại sự kiện âm thanh, nghĩa là nghe tách rời khỏi tín hiệu gốc
(TRỰC ÂM). Với tiếng nói (vì có hình thức cấu tạo như những xung âm thanh),
các phản âm đến sau 50ms và có mức đủ lớn sẽ tạo thành tiếng dội, làm giảm độ
rõ. Âm nhạc cho phép độ trễ lớn hơn, có thể đến 80ms hoặc hơn nữa.
V. CÁC ĐẶC TÍNH VẬT LÝ CỦA TRƯỜNG ÂM
* Trường trực âm
dạng tuyến như thế sẽ tạo thành những hình ống (“viên trụ”) bức xạ vào không
Đề án tốt nghiệp 22 Trần Anh Tà
trung. Sự suy giảm năng lượng của dạng nguồn âm này nhỏ hơn: khi khoảng cách
tăng gấp đôi thì nó chỉ giảm có 3dB. Chính vì thế tiếng ồn của các dòng xe (ô tô
hay tầu hoả) thường lan truyền đi khá xa.
Các nguồn âm có dạng như một mặt phẳng ta gọi là nguồn âm diện. Trong
trường gần của các nguồn âm diện có mặt bức xạ lớn mức âm hầu như không suy
giảm theo khoảng cách, vì ở đây sóng âm có dạng gần như sóng phẳng. Ở khá xa
nguồn âm diện (với khoảng cách R >> kích thước nguồn âm d) thì mức âm mới
suy giảm dần. Hiện tượng này cũng tương tự như dạng bức xạ âm thanh của các
nhạc khí bộ kèn đồng. Trong thực tế độ suy giảm trong trường gần khoảng 4dB
mỗi khi khoảng cách tăng gấp đôi. Các nguồn âm trong thiên nhiên thường có kích
thước nhất định và do đó độ suy giảm năng lượng lại phụ thuộc tần số. Thí dụ: các
nhạc khí ở dải tần cao có thể coi là nguồn âm diện, trong khi ở dải tần thấp lại
được coi như nguồn âm điểm. Điều đó có nghĩa là tần số thấp suy giảm theo
khoảng với tốc độ nhanh hơn, tần số cao suy giảm với tốc độ chậm hơn. Hiện
tượng này càng có hiệu quả rõ rệt đối với người nghe, vì độ thính (nhạy) của tai
người ở tần số thấp kém hơn ở dải trung (và cao).
Trong các phòng bình thường, trực âm và phản âm của một nguồn âm thường
pha trộn với nhau. Chỉ trong vùng bán kính giới hạn (bán kính vang) thì trực âm
mới chiếm ưu thế. Bán kính vang không chỉ phụ thuộc vào thể tích và cách xử lý
âm thanh các mặt bao của phòng, mà còn bị chi phối bởi tính định hướng của
nguồn âm và búp hướng của micrôphôn trong kỹ thuật thu thanh.
Đề án tốt nghiệp 23 Trần Anh Tà
VI. CÁC HIỆN TƯỢNG ÂM THANH CẦN CHÚ Ý KHI THU THANH
* Phản xạ âm thanh:
Âm thanh đang lan truyền gặp vật cản, một phần sóng âm bị phản xạ trở lại.
Hiện tượng này ta thường gặp trong các phòng thu khi nguồn âm phát ra gặp phải
các tường chắn bị phản xạ trở lại gây ra các hiện tượng xấu cho thu thanh.
* Sóng đứng:
quang tính trên phim nhựa, từ tính trên băng từ và phim từ. Trong khi các thiết bị
xử lý và chuyển tải thông tin khác đã đạt được chất lượng âm thanh rất cao thì
công đoạn ghi âm luôn luôn vẫn là cái nút cổ chai. Công nghệ ghi âm Digital cũng
sử dụng đĩa, băng và phim làm phương tiện hơn trừ thông tin nhưng kỹ thuật tinh
xảo và phức tạp hơn nhiều, kích thước băng và đĩa nhỏ gọn nhưng mật độ thông
tin lớn hơn nhiều và chất lượng âm thanh rất hoàn hảo. Trong ghi âm số, bên cạnh
các thông tin chính là tín hiệu âm thanh. Trên băng và đĩa còn chứa đựng thông tin
khác như mã thời gian, tiêu đề tác phẩm cho phép tìm kiếm, xâm nhập thông tin
nhanh hơn.
Thời kỳ đổi mới không chỉ đem lại những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch
sử làm thay đổi bộ mặt của đất nước trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội mà còn tác
động mạnh mẽ đến sự phát triển tích cực của đời sống nghệ thuật. Nếu chúng ta có
được những người làm công tác phục vụ hết mình vì nghệ thuật để có được những
buổi biểu diễn phục vụ, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng cao của quần
chúng thính giả.
Đề án tốt nghiệp 25 Trần Anh Tà