1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỷ XXI, đất nước Việt Nam đã buớc sang một thời kỳ mới - thời
kỳ xây dựng công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Một đất nước công nghiệp hóa,
hiện đại hóa phải được xây dựng đồng thời với một nền văn minh, văn hóa
phát triển cao. Để có thể xây dựng một xã hội văn minh công nghiệp, một xã
hội có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, công tác nghiên cứu lý
luận được đặt ra như một nhiệm vụ cấp bách trong sự nghiệp đào tạo âm nhạc
nói chung và từng chuyên ngành nói riêng.
Trong nhiều luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ và các công trình nghiên
cứu cấp Bộ, cấp cơ sở, bước đầu đã có nhiều nhà khoa học đi sâu vào nghiên
cứu các khía cạnh của giáo dục học âm nhạc và tâm lý học âm nhạc.
Trên thế giới, các nghệ sỹ biểu diễn cũng như các nhà sư phạm về nghệ
thuật biểu diễn kèn Dăm kép đã có rất nhiều công trình lý luận về lĩnh vực
này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên số lượng công trình nghiên cứu
chuyên sâu về lĩnh vực này ở Việt Nam vẫn còn hạn chế. Để có thể nâng cao
chất lượng của công tác đào tạo nghệ sỹ biểu diễn, chúng ta còn cần rất nhiều
công trình nghiên cứu khác nhằm góp phần vào việc nâng cao chất lượng đào
tạo âm nhạc tại Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Đã
từ lâu, chúng ta có một quan niệm sai lầm trong việc đồng nhất “lý thuyết âm
nhạc” và “lý luận âm nhạc”. Lý luận âm nhạc bao hàm một ý nghĩa rộng lớn
hơn, trong đó lý luận về nghệ thuật biểu diễn chiếm một vị trí rất quan trọng
trong đời sống âm nhạc thế giới. Các vấn đề được đặt ra trong đầu thế kỷ XXI
như: kinh tế tri thức, học tập suốt đời, vai trò của giáo dục – đào tạo trong
việc phát triển nguồn nhân lực cho xã hội…trở thành những vấn đề bức xúc
và cấp thiết đối với Việt Nam. Chính vì những nguyên nhân nói trên, công tác
2
nghiên cứu lý luận về nghệ thuật biểu diễn, về Mỹ học âm nhạc, Tâm lý học
Luận văn cao học của Thạc sỹ Ngô Phương Đông – Giảng viên kèn
Hautbois, Phó trưởng khoa Kèn – Gõ, Học viện âm nhạc Quốc Gia Việt nam
có tiêu đề: “ Một số vấn đề về giảng dạy kèn Hautbois tại Nhạc viện Hà Nội”;
Luận án TS của tiến sĩ Ngô phương Đông “Đào tạo âm nhạc thế kỷ XX cho
kèn Hautbois tại HVANQGVN”, Luận án TS của Tiến sĩ Vũ đình Thạch –
chuyên ngành kèn Clarinet
Các tham luận tại các hội nghị, hội thảo khoa học về phương pháp diễn
tấu và phương pháp biểu hiện, về phương pháp sư phạm cũng như lịch sử
chuyên ngành của ngành Kèn – Gõ nói chung và của các chuyên ngành kèn
Dăm kép nói riêng được tổ chức tại Nhạc viện Hà Nội (nay là Học viện âm
nhạc Quốc Gia Việt nam) và Nhạc viện Thành phố Hồ Chí Minh trong những
năm qua.
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo các tài liệu, các luận án, luận văn
của các Tiến sỹ và Thạc sỹ các ngành Kèn hơi khác trong nước.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài đề cập tới một số vấn đề sau:
• Một vài nét về lịch sử chuyên ngành kèn Dăm kép.
• Sự phát triển mang tính chuyên nghiệp trong đào tạo các chuyên
ngành kèn Dăm kép từ 1956.
• Tác động của Hệ thống Xã hội chủ nghĩa đối với bước nhảy vọt
trong đào tạo chuyên ngành kèn Dăm kép (tài liệu, giáo trình, tác phẩm,
4
phương pháp giảng dạy, việc tự xây dựng giáo trình – giáo án Việt Nam, việc
xây dựng đội ngũ giảng viên cho tương lai…)
• Quá trình phát triển chuyên ngành kèn Dăm kép tại Việt Nam.
• Xây dựng nền tảng kỹ thuật trong phương pháp diễn tấu các chuyên
ngành kèn Dăm kép.
• Thế nào là xây dựng nền tảng kỹ thuật trong phương pháp diễn tấu
các chuyên ngành kèn Dăm kép?
nghệ thuật biểu diễn nói chung và nghệ thuật biểu diễn kèn Dăm kép nói
riêng. Đây là một vấn đề có một tầm quan trọng trong lĩnh vực giáo dục âm
nhạc trong nước và thế giới hiện nay và đặc biệt đối với sự nghiệp giáo dục
các chuyên ngành kèn Dăm kép tại Việt Nam.
6. Những đóng góp của luận án
Luận án sẽ có những đóng góp cụ thể sau:
• Tài liệu, giáo trình, tác phẩm các chuyên ngành kèn Dăm kép.
• Phương pháp giảng dạy các chuyên ngành kèn Dăm kép.
• Việc tự xây dựng giáo trình - giáo án tại Việt Nam.
• Tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các
chuyên ngành kèn Dăm kép tại Việt Nam…
7. Bố cục luận án
Mở đầu
Nội dung:
6
UChương 1U: Lịch sử hình thành và phát triển các chuyên ngành kèn Dăm kép
tại Việt Nam
UChương 2U : Quá trình phát triển kỹ thuật biểu diễn ở trình độ chuyên
nghiệp cao của các chuyên ngành kèn dăm kép
UChương 3U: Nâng cao chất lượng biểu diễn và giảng dạy các chuyên ngành
kèn dăm kép
Kết luận và kiến nghị
hình thành kèn Bomhart và kèn Dulcian – những tiền thân của kèn Basson.
Chính vì lý do như đã trình bày ở trên, chúng tôi đi vào nghiên cứu lĩnh
vực “ Nghệ thuật biểu diễn kèn dăm kép tại Việt Nam”, một vấn đề còn hết
sức mới mẻ trong lý luận chuyên ngành Kèn.
1.1.1. Một số đặc điểm chung
Để tìm hiểu về sự du nhập của kèn Dăm kép và để có được những tư
liệu về lịch sử kèn Dăm kép nhằm giúp cho việc đào tạo sau này, nhất là việc
mở mang thêm kiến thức về lịch sử chuyên ngành, chúng ta không thể không
nghiên cứu về quá trình ra đời và phát triển của các loại kèn Dăm kép tại
Châu Âu. Thông qua quá trình ra đời và phát triển của các loại kèn Dăm kép
tại Châu Âu, chúng ta càng hiểu rõ hơn sự du nhập của các loại kèn Dăm kép
vào Việt Nam và quá trình phát triển của nó trong nửa sau của thế kỷ XX.
8
Để có được những tư liệu chính xác, mang tính khoa học cao, chúng
tôi đã nghiên cứu và tham khảo nhiều giáo trình giảng dạy về môn Lịch sử
các chuyên ngành kèn Dăm kép. Bên cạnh đó, những cứ liệu được trích dẫn
trong cuốn “Từ điển Bách khoa âm nhạc” của Nhà xuất bản Lausanne and
Berner (Encyclopédie des sciences, art et métiers) và những tư liệu trong Thư
viện Quốc hội Mỹ (Library of Congress, Washington, DC) đã giúp cho chúng
ta có những cơ sở khoa học tin cậy nhất trong quá trình thực hiện đề tài này.
Kèn Dăm kép là những loại nhạc cụ thuộc nhóm kèn gỗ Giao hưởng.
Nhóm kèn gỗ Giao hưởng bao gồm Flute, Hautbois, Clarinette, Basson.
Trong đó ba loại kèn gỗ: Flute, Hautbois, Basson là ba chủng loại có xuất sứ
trên năm thế kỷ. Đây là những loại nhạc cụ cổ trong các loại nhạc cụ Giao
hưởng ngày nay. Chính vì vậy, âm nhạc thời kỳ Phục hưng (Renaissance) và
âm nhạc thời kỳ tiền cổ điển (Baroque) đã dành cho chúng những vị trí xứng
đáng. Cả 3 loại nhạc cụ này đã chiếm giữ vị trí quan trọng thời đó trong cả 3
dòng âm nhạc :
• Dòng âm nhạc dân gian.
ba phần tách rời nhau và được nối ráp với nhau khi sử dụng. Kèn Hautbois có
ống trong hẹp, thẳng, rộng dần và mở ra ở loa, cong như hình nón (tùy theo
nhà sản xuất khi nó được chế tạo ra để thử nghiệm). Độ dài của ống có thể
làm thay đổi số lỗ bấm từ 16 - 20 lỗ, trong đó 6 lỗ nằm trực tiếp dưới ngón tay
và các lỗ còn lại được điều khiển theo một cơ chế vô cùng tỉ mỉ, phức tạp.
Hiện nay có ít nhất 4 hệ thống phím bấm cho Hautbois.
10
Kèn Hautbois phát âm từ hai lưỡi gà làm bằng sậy ghép vào nhau, thực
ra nó là một loài cây thân thảo bán nhiệt đới Arundo donax hay Arundo sativa
gồm hai mảnh đặt đối diện nhau được buộc bằng chỉ vào ống kim loại được
làm dẹp đầu, gọi là “staple” (đó là ống đồng để buộc lưỡi gà - hay còn gọi là
cùi dăm). Dăm nối vào với thân ống kèn nhưng không gắn chặt vào thân kèn
mà nó chỉ được cắm vào thân kèn khi nào thổi. Dăm kèn là bộ phận quyết
định toàn bộ chất lượng của âm thanh. Đầu dăm được cạo mỏng và hai mảnh
sậy sẽ rung, dao động khi thổi. Sử dụng và điều khiển dăm kèn để phát ra
được những âm thanh đẹp, chuẩn xác về cao độ và có sức truyền cảm là một
trong những tổng hợp các kỹ thuật rất khó cho người chơi kèn Hautbois.
Họ hàng của Hautbois soprano hay Hautbois treble in C gồm những
thành viên tiếng trầm hơn: Hautbois d’amore, thường cũng được gọi là
mezzo-soprano; English Horn (Cor Anglais) in F, vẫn thuộc nhóm tenor mặc
dù vẫn được gọi là Alto, Hautbois baritone, cũng in C nhưng thấp hơn
Soprano một octave ( quãng tám). Vài trường hợp đã được tìm thấy tại Pháp
như Soprano Military in Bb. Các loại Hautbois lớn hơn có loa hình quả lê,
miệng loa thu nhỏ lại (liebesfuss), nhưng không thấy loa thẳng. Dựa trên cơ
sở này, vài học giả cho rằng cần phải phân nhóm riêng trong họ Hautbois theo
loại loa kèn. (Xem phụ lục 1.1.1)
Thuật ngữ tiếng Ý “oboe da caccia” (được nghiên cứu bởi Sachs và
Bessaraboff, đó là một dạng loa mở và cong của Oboe tenor với những lỗ
khoan rộng) có thể do xuất phát từ công dụng của chiếc kèn lúc đi săn bắn,
nhạc kịch Calisto. Để chơi tác phẩm này, người ta đã mời những nhạc công
Hautbois nổi tiếng từ Pháp sang, trong số đó có Paisible, de Bresmes, Guiton
và Boutet. Hai năm sau khi trình diễn vở Calsto, Etherege đã sử dụng
“hautbois Pháp” trong vở “The Man of Mode” (Người đàn ông kiểu mẫu);
12
1867 vở Horse Grenadiers (Kỵ Binh Hoàng Gia) chấp nhận Hautbois và ba
năm sau nó xuất hiện trong những tổng phổ của Purcell, Swifter, Isis, Swifter
flow. Bức họa Academy of Armoury (Kho vũ khí Hàn lâm) của Randle
Holme (1688 – Anh) nổi tiếng. Từ năm 1960 tới khi mất, Purcell đã dùng
Hautbois trong tất cả những tác phẩm lớn của ông và đã viết ít nhất ba phần
đệm cho Hautbois solo được thừa nhận đặc điểm, bản chất của kèn Hautbois –
là tính trữ tình và sôi nổi trong “come ye sons of art away” (1694), tính suy
tư biểu cảm, vượt xa người cùng thời.
Cũng cùng thời kỳ đó, ba cuốn sách tiếng Anh chỉ dẫn về Hautbois đã
ược xuất bản: đ
- Plaine và Easie Directions (Sơ đồ và những chỉ dẫn cụ thể),
- The Sprightly Companion (Sổ tay vui vẻ),
- The Art of Playing on the Hautbois (Nghệ thuật chơi Hautbois – 1697).
Với thông tin khá phong phú và rõ rệt về hình dáng và cách sử dụng
kèn Hautbois sơ khai, nhưng thật đáng tiếc khi biết quá ít về cách sử dụng
dăm, mặc dù đây là điều cần thiết phải nghiên cứu và xem xét. Cả về cấu trúc,
sự mềm mại, mảnh dẻ và vật liệu làm Dăm… Nói chung, qua những tài liệu
được minh họa, có thể thấy rằng loại Dăm thời bấy giờ, theo như chuẩn hiện
đại, phần nào giống về độ dài và khe hở (độ mở của miệng dăm). Sự mềm
mại, thư thái và êm ái trong âm sắc của kèn Hautbois được so sánh với những
âm thanh đẹp nhất của Flute. Các nhạc sỹ thời đó đã công nhận và ca ngợi kèn
Hautbois, từ đó dẫn đến sự chấp nhận rộng rãi và nhanh chóng trong khán
thính giả châu Âu.
Suốt thời kỳ này, Hautbois được chấp nhận hoàn toàn trong sự phát
- Dăm được làm theo phương pháp của Pháp (h. c);
- Dăm được làm theo phương pháp Vienna (h. d);
- Dăm được làm theo phương pháp Mỹ (h. e).
(Xem phụ lục 1.1.5)
Thế kỷ thứ XIX và sau đó, mặc dù Hautbois hai phím vẫn còn sử dụng
và vẫn còn được chế tạo đến khoảng năm 1820 (ở đây cần lưu ý là sau những
thử nghiệm ban đầu, nước Anh đi chậm hơn sau các nước lục địa). Ở thế kỷ
thứ XIX là thời kỳ cơ giới hóa Hautbois. Giữa 1800 - 1825, tám phím mới
xuất hiện, trước hết là thay thế cho những thế bấm đã được chấp nhận, hoặc
cải thiện âm chuẩn; nhưng sau đó chủ yếu là tạo sự thuận lợi cho các ngón
bấm. Hầu như, chúng ta không có những ghi chép về ngày bắt đầu sử dụng
của các phím trên, nhưng thứ tự xuất hiện của chúng như sau:
- Phím “Octave” hay “speaker” thường xuyên được tìm thấy như một sự bổ
xung hiển nhiên cho hai loại kèn phím bấm đã được ưa chuộng.
- Phím G# cho ngón út trái, phụ thêm nhưng không cần thiết thay thế lỗ kép thứ
ba.
- Một phím hổng giữa ngón 4 và ngón 5 tạo ra F#. Phím này được mở bằng
ngón út phải và mặc dù bất tiện, vẫn được dùng cho đến khoảng 1840 khi nó
được thay thế bằng khoen mở chuẩn hoặc “mắt kính” - thiết bị tự cải cách
của Boehm cho sáo và được dùng cho cả Hautbois và Clarinette.
- Một phím đóng để loại trừ thế bấm bất định C#.
- Một phím đóng F như của sáo cùng thời, được chế tạo giữa lỗ 5 và 6.
- Một phím đóng Bb ở đoạn ráp nối trên.
- Một phím đóng C# cũng ở phần ráp nối trên.
- Một phím mở hình ống dài bao bọc một trong các lỗ hổng ở loa và mở rộng
tầm âm xuống tới nốt B.
15
Với hệ thống này lỗ thứ hai ở loa thường không được sử dụng nhưng
(h.c) chuyển động của bề mặt ngón cái trong kèn Oboe Triébert; (h.d) chuyển
động của chuyển nốt si giáng và đô thăng của kèn “conservatoire-Triébert”
gồm cả mặt phẳng nửa lỗ (Xem phụ lục 1.1.8)
1.1.4. Khái quát về lịch sử phát triển kèn Basson (Pháp: Basson; Anh:
Bassoon; Đức: Fagott; Italy: Fagotto)
Basson thuộc họ kèn gỗ. Trong nhiều tư liệu về lịch sử kèn Basson, các
nhà khoa học đã khẳng định Basson có họ hàng với gia đình kèn Hautbois, có
nghĩa là thuộc họ kèn “Dăm” và còn là kèn “Dăm kép”. Trong dàn nhạc Giao
hưởng hiện nay, Basson thường nắm vị trí “nam cao” và “nam trầm” trong sự
phân bổ bè của bộ gỗ, bao gồm: Basson, Contre Basson (còn gọi là Double
Basson).
Basson là loại nhạc cụ có khả năng diễn tả rất rộng, có nhiều màu sắc
âm thanh đa dạng, phong phú; Chính vì vậy, đây là một thành viên rất “hữu
ích” trong dàn nhạc. Ngày nay, kèn Basson thường có âm vực từ contra B tới
E1 và cũng giống như Hautbois, Basson là loại nhạc cụ không phải dịch
giọng. Kèn Basson sử dụng khóa Pha & khóa Đô dòng 4 (còn gọi là khóa Đô
giọng nam trung); Đôi khi trong tác phẩm, các nhạc sỹ sáng tác những nốt ở
những âm vực cao nhất trong kèn, lúc đó người ta phải sử dụng cả khóa Sol…
Kèn Basson có họ hàng rất gần gũi với kèn Hautbois, chúng ta có thể tham
khảo những hình ảnh được trích trong “Từ điển bách khoa về Nhạc khí học”
của Đại học Havard. (Xem phụ lục 1.1.8)
Trong lịch sử phát triển Kèn Basson, sự gia tăng những phím bấm
thường thể hiện cho việc phát triển về cấu trúc của nhạc cụ. Trong hệ thống
17
kèn Basson Đức, lúc đầu chỉ có 5 phím bấm (Theo J.B de La Bordes trong
“Essai sur la Musique” – 1780). Cho đến khi hình thành loại kèn Basson kiểu
mới “Dulcian” hay còn gọi là Chorist – Fagott thì mới xuất hiện phím bấm
thứ sáu. Kèn Basson hiện đại là sự pha trộn giữa hai hệ thống Basson Đức và
Pháp. Đó là hệ thống “Heckel” của Đức và “Buffet” của Pháp. Những yếu tố
nhất là 4mm, chỗ rộng nhất là 39mm. Trên phần nối của hai ống cuối thân kèn
có một đoạn nối bằng kim loại hình chữ U. Nối với thân nhỏ nhất của kèn là
một chiếc vòi hình chữ “S” được chế tạo bằng kim loại. Một đầu vòi được
cắm vào trong thân kèn, còn đầu kia dùng để cắm dăm kèn. Khi chơi kèn,
nhạc cụ được bắt chéo qua thân, trọng lượng của kèn được đỡ bởi một chiếc
dây vòng qua cổ hoặc vai. Đôi khi trong tư thế ngồi, người ta còn có thể đeo
kèn bằng cách lồng dây đeo dưới chỗ ngồi.
Như những nhà phối khí đã từng nhận định, âm sắc của kèn Basson
thường có giọng mũi. Đó là cách hiểu theo âm sắc của Basson Pháp. Âm sắc
của Basson hệ thống Đức mềm mại, đẹp và mượt gần với âm sắc của
Violoncelle và âm sắc kèn Cor. Do cách cấu tạo của kèn, một số nhạc cụ ban
đầu có những âm nghe hơi hài hước. Đây cũng là một điều may mắn cho các
nghệ sỹ kèn Basson sau này, bởi nhiều nhạc sỹ lại muốn khai thác khía cạnh
này.
Trong những năm gần đây, một số nhà chế tác kèn Basson còn có ý
định cấu trúc thêm nốt trầm và một số các phím bấm mới phục vụ cho kỹ
thuật láy âm. Trong 50 năm gần đây, hệ thống Basson Đức đã chiếm ưu thế
trong việc sản xuất những nhạc cụ có chất lượng cao trên thế giới. Ba nhãn
hiệu kèn Basson nổi tiếng nhất thế giới hiện nay đều thuộc hệ thống các nhà
sản xuất của Đức: Heckel, Puckner và Schreiber. Sau đó mới tới sản phẩm
19
của Mỹ, đó là: Fox. Ngày nay bên cạnh những chiếc kèn Fox bằng gỗ, chúng
ta còn thấy xuất hiện cả những cây kèn bằng chất dẻo nữa. Chất lượng âm
thanh của kèn Basson phụ thuộc vào chất lượng nhạc cụ, tuy nhiên vai trò của
dăm kèn cũng rất quan trọng.
Cũng giống như kèn Hautbois, Basson cũng là loại kèn Dăm kép. Dăm
kèn Basson được chế tác từ một loại sậy có xuất sứ ở miền nam nước Pháp,
Italie và trung Mỹ. Do kết quả của sự hợp tác Việt – Pháp, tại Học viện âm
nhạc quốc gia Việt Nam đã trồng thành công khóm sậy Pháp. Đã thu hoạch
ở Hà Nội, Sài Gòn và đặc biệt còn tham gia biểu diễn âm nhạc ở hội chợ
Quốc tế tổ chức ở Paris mùa xuân năm 1931 và đã đoạt huy chương vàng liên
hoan âm nhạc bao gồm các nước thuộc địa của Pháp do Pháp tổ chức.
Các họat động của dàn nhạc kèn hơi Trung bộ:
- Năm 1922 biểu diễn ở nhà đấu sảo Hà Nội (Cung văn hóa Hữu nghị
bây giờ).
- Năm 1930 diễn ở Sài Gòn (khánh thành đường sắt).
- Năm 1931 Việt Nam có dàn nhạc kèn hơi đầu tiên đi biểu diễn quốc tế
tại hội chợ Paris – Pháp. Cũng trong năm này, dàn nhạc được đổi tên thành
dàn nhạc kèn hơi Nam triều (Musique de la Garde Impérial), do nhạc trưởng
Fournter chỉ huy. Tính từ 11 tháng 11 năm 1918 đến 9 tháng 3 năm 1945
(Ngày Nhật đảo chính Pháp), các nhạc trưởng sau đây đã chỉ huy dàn nhạc
kèn của Việt Nam:
- Traineau; Ribé; David; Colombo; Fournier Clément; Lebail và Đinh
ngọc Liên.
Sau đó dàn nhạc kèn hơi được đổi tên thành dàn nhạc kèn hơi chính
phủ Trần Trọng Kim, do Phạm Văn Minh chỉ huy.
21
Dàn nhạc kèn hơi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Thừa Thiên
- Huế. Sau cách mạng tháng Tám, dàn nhạc kèn hơi lấy tên là Ban âm nhạc
Trung bộ, chuyên biểu diễn phục vụ các buổi nghi lễ, dạ hội, phục vụ quân
đội, công an, tự vệ chiến đấu; Phục vụ các nhiệm vụ chính trị khác như: phục
vụ phong trào đẩy mạnh sản xuất cứu đói, phục vụ giảm tô, giảm tức, nam nữ
bình quyền; Tuyên truyền phổ biến âm nhạc cách mạng, xây dựng phong trào
ca múa nhạc quần chúng… Ngày 2 tháng 9 năm 1945 dàn nhạc kèn được vinh
dự phục vụ tại quốc khánh lịch sử đầu tiên tại quảng trường Ba Đình, Hà nội.
Tháng 11 năm 1946 ban nhạc kèn hơi Trung bộ chuyển ra vùng tự do đi
kháng chiến. Năm 1950 được Trung ương điều động lên chiến khu Việt Bắc
biểu diễn phục vụ các chiến sỹ bộ đội và dân công trong các chiến dịch như:
nó còn được biết đến là những nhạc cụ phương Tây có âm sắc đặc biệt để thể
hiện rất có hiệu quả các tác phẩm âm nhạc truyền thống Việt Nam.
1.2.2. Một số nét về tính chuyên nghiệp của nghệ thuật biểu diễn kèn
Dăm kép giai đoạn trước năm 1956 (Hautbois & Basson)
Về tính chuyên nghiệp của nghệ thuật biểu diễn kèn Hautbois &
Basson giai đoạn trước năm 1956 đã có nhiều nhà khoa học bàn cãi về vấn đề
này. Theo các tài liệu lịch sử có được, riêng về tài liệu học tập và giảng dạy
đã vô cùng thiếu thốn, ảnh hưởng của dàn nhạc nhà binh đối với nghệ thuật
diễn tấu kèn Hautbois & Basson cũng như các loại kèn khác là rất rõ rệt. Nói
về thời kỳ đầu của lịch sử kèn Hautbois & Basson ngày nay chúng ta cũng
không nên phân tích quá chi tiết về những yếu kém của nó. Tuy nhiên tính
không chuyên nghiệp trong biểu diễn kèn Hautbois & Basson là điều chúng ta
không thể phủ nhận.
23
Một số những điều tốt đẹp và những yếu kém mà ngày nay chúng ta có
thể kế thừa, đó là:
Những cố gắng phát âm chuẩn xác về cao độ, (chúng ta cũng phải thừa
nhận rằng các ông thầy nhà binh Pháp thời đó tuy không có những tính
chuyên nghiệp cao nhưng cũng đã được thừa kế phương pháp sư phạm của
nền âm nhạc Pháp).
Những cố gắng có được sự chính xác về nhịp điệu và tiết tấu trong mỗi
một bản nhạc. Điều này chúng ta có thể thấy rõ hơn trong các ngành kèn phổ
cập hơn như kèn Trompette, Clarinette Các “Cụ” thường dạy bảo con cháu
bằng roi vọt khi chúng không chơi chính xác nhịp điệu và tiết tấu của bản
nhạc. Sự nghiêm khắc này có trái với nguyên tắc sư phạm của chúng ta ngày
nay, tuy nhiên, những điều các cụ dạy thường được người đời sau “khắc cốt-
ghi xương”.
Nhìn chung so với âm sắc của các nghệ sỹ kèn Hautbois & Basson
ngày nay, âm sắc của thời kỳ đó mang nhiều tính quân nhạc, cứng rắn, thiếu
ngành kèn Dăm kép
Mặc dù kèn Hautbois & Basson đã được du nhập vào Việt Nam từ đầu
thế kỷ XX nhưng yếu tố chuyên nghiệp trong nghệ thuật diễn tấu xuất hiện
muộn hơn. Ngày nay chúng ta càng hiểu rõ rằng trong thời kỳ đầu, mặc dù
các nhạc công kèn Hautbois & Basson đã có nhiều cố gắng, tuy nhiên yếu tố
giáo trình, chương trình, sự đào tạo đồng bộ các môn kiến thức âm nhạc còn
nhiều hạn chế. Số lượng giảng viên tốt nghiệp trình độ cao từ các Nhạc viện
nổi tiếng ở Châu Âu cũng chưa có. Chính những điều này đã khiến cho mức
25
độ thành đạt của ngành kèn Hautbois & Basson mới chỉ dừng ở trình độ
nghiệp dư hoặc bán chuyên nghiệp.
Bước sang nửa sau của thế kỷ XX, nhất là từ năm 1956, khi Trường âm
nhạc Việt Nam được thành lập, ngành kèn Hautbois & Basson nói riêng và
các nhạc cụ giao hưởng khác mới thực sự bước vào thời kỳ phát triển chuyên
nghiệp. Đây là một bước ngoặt lịch sử đưa nền âm nhạc Việt Nam trên nền
tảng của một đất nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên tiếp cận được với các
quốc gia có nền Công nghiệp phát triển. Đó cũng là lý do tại sao ngày nay,
chúng ta có một nền âm nhạc giao hưởng vào loại mạnh nhất trong khu vực
Đông Nam châu Á.
Năm 1956, Trường âm nhạc Việt Nam được thành lập, đây là một sự
kiện lịch sử trọng đại đối với quá trình phát triển của nền âm nhạc Việt Nam.
Ngày nay, trên khắp mọi miền của đất nước ta, có rất nhiều các Giáo sư, Tiến
sỹ, các Nghệ sỹ và giảng viên đầu ngành của nhiều chuyên ngành âm nhạc, từ
sáng tác, lý luận, Chỉ huy tới các nghệ sỹ biểu diễn, từ nhà nghiên cứu tới các
cán bộ quản lý, làm công tác đào tạo rất nhiều người đều có xuất xứ từ mái
trường thân yêu đó. Nhiều cán bộ, học sinh miền Nam tập kết ra Bắc cũng đã
trưởng thành từ mái trường Xã hội Chủ nghĩa này như (GS - TS - NSND
Quang Hải, PGS - NS Ca Lê Thuần, PGS - NS Thế Bảo, Cố PGS - TS Trần
Tấn Lộc, Cố GS - NSƯT Bích Ngọc ).