Website: Email : Tel : 0918.775.368
đại học quốc gia Hà Nội
Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Khoa Đông phương học
báo cáo khoa học
Kinh kịch - nét văn hoá truyền thống
của dân tộc trung hoa
Lời nói đầu
Trung Quốc là nước có nền văn minh cổ xưa phương Đông. Dân tộc Trung
Hoa trải qua mấy nghìn năm tôi luyện và hoà hợp, kết tụ và phát triển đã thu hút
được muôn phương mà lại có phong thái độc đáo, hình thành nên nền văn hoá
Trung Hoa rực rỡ muôn màu, đa nguyên nhất thể, rộng lớn sâu lắng mà lại mộc
mạc tươi đẹp. Nghiên cứu về văn hoá Trung Quốc mà không lật lại tìm hiểu các
loại hình hí khúc, đặc biệt là Kinh kịch thì quả là một thiếu sót lớn. Bởi lẽ Kinh
kịch là một loại hình đẹp trội, rất độc đáo của Trung Hoa. Tuy có lịch sử ra đời và
phát triển chưa dài (khoảng 200 năm) nhưng Kinh kịch đã đi vào đời sống tâm hồn
của người Trung Quốc nói chung, người Bắc Kinh nói riêng như một phần không
thể thiếu. Kinh kịch là một loại hình kịch chủng tiêu biểu nhất trong nghệ thuật hí
khúc Trung Quốc nên thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Các học giả Trung Quốc có tiếng nghiên cứu về Kinh kịch có thể kể đến như: Lý
Hiểu, Chương Di Hoà, Hồ Hồng Khánh… ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu
về Kinh kịch không nhiều. Các nhà nghiên cứu Việt Nam hầu như đặt Kinh kịch
vào trong hệ thống nghiên cứu về văn hoá Trung Hoa nên những dòng viết về Kinh
kịch chỉ là những nét phác thảo lướt qua, các thông tin được đưa ra nhỏ lẻ và bị
phân tán. Do vậy trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo các tài liệu, các tác phẩm điện
2
ảnh có liên quan, tập hợp bổ sung thông tin và đi sâu nghiên cứu hơn một chút là
việc làm hết sức cần thiết. Trong khuôn khổ của một báo cáo khoa học, bài viết sẽ
cố gắng cung cấp những khái niệm cơ bản, những thông tin đầy đủ, chi tiết nhất, từ
loại hình riêng của hí khúc Trung Quốc.
2. Một loại hình hí khúc được mến mộ: Kinh kịch ra đời.
Từ trong cái nôi hí khúc đang nở rộ, Kinh kịch bước ra một cách thuận lợi
nhưng lại mang một dáng vẻ mới, đẹp trội hơn hẳn vì nó kế thừa một cách tập trung
truyền thống lịch sử lâu đời của hí khúc, tích luỹ đầy đặn các ngón nghề cao siêu.
Kinh kịch nổi tiếng trong làng nghệ thuật thế giới là “ca kịch của Bắc Kinh”. Như
vậy, có thể thấy được cái nôi ra đời và phát triển của Kinh kịch là thủ đô Bắc Kinh
của Trung Quốc. Kinh kịch có tên gọi cũ là Bì hoàng hí, đầu thế kỉ XX, người
Thượng Hải gọi là Kinh hí, người Bắc Kinh gọi là Bình kịch. Kinh kịch được hình
thành qua diễn biến dần dần trực tiếp trên cơ sở “Huy ban tiến kinh”. Năm Càn
Long thứ 55 (1790), Huy ban - đoàn kịch An Huy “Tam Khánh” của Dương Châu
được triệu vào kinh diễn xuất mừng lễ bát tuần đại điển của Càn Long, đã nhanh
chóng độc chiếm sân khấu kinh đô. Chẳng bao lâu, ba đoàn kịch An Huy khác là
“Tứ hỉ”, “Xuân đài” và “Hoà xuân” lần lượt vào kinh. Đó chính là sự kiện lừng
danh trong lịch sử hí khúc Trung Quốc cuối thế kỉ XVIII, gọi là “Tứ đại Huy ban
tiến kinh”. Sau khi vào kinh, Huy ban đã hấp thu hai làn kinh, tần, đặc biệt là điệu
Tần xoang (điệu hát theo nhịp mõ). Từ đó đưa đến sự ra đời của Bì hoàng hí mà
sau này người Bắc Kinh gọi là Kinh kịch. Đến năm Quang Đạo thứ tám (1828), các
nghệ sĩ nổi danh ở Hồ Bắc như Vương Hồng Quý, Dư Tam Thắng… vào kinh,
mang theo Hán điệu. Hán điệu vào kinh bắt vào diễn xuất của Huy ban, đưa đến sự
4
kết hợp của hai làn điệu Huy Hán. Từ đó, Huy ban trở thành gánh hát chuyên biểu
diễn kịch Bì Hoàng, cắm rễ nơi kinh đô.
Trình độ nghệ thuật kịch Bì Hoàng được nâng cao nhanh chóng bởi sự thúc
đẩy của các nghệ nhân giỏi, gây được sự thích thú trong hoàng thất triều đình nhà
Thanh. Cuối thời Hàm Phong (1851 –1861) các gánh hát được đưa vào biểu diễn
trong cung. Một cơ quan có tên là “Thanh bình nha” chuyên quản lý việc các gánh
hát ra vào biểu diễn trong cung. Lúc đầu mới chỉ là biểu diễn nơi hội quán trà lầu,
nay được vời vào cung phục vụ vua chúa và trăm quan trong triều, trong bối cảnh
đặc thù đó, Kinh kịch đã đem cái “chân quê” trong dân gian hoà nhập vào thú vui
hình thức thể hiện, Hải phái đã học tập tham khảo nhiều thủ pháp tat thực chủ nghĩa
của kịch nói và điện ảnh, làm giàu thêm lối biểu diễn sinh hoạt hoá. Sự chung sống
và phát triển của hai phái Kinh – Hải đã dẫn đến một thời kì phồn vinh của Kinh
kịch.
Sự phồn vinh ấy còn thể hiện tập trung ở việc xuất hiện hàng loạt các nghệ sĩ
tên tuổi. Từ đầu thời kì Dân Quốc đến những năm 30, 40, trong Kinh kịch đã xuất
hiện hàng loạt nhân tài. Trong đó tiêu biểu là bốn diễn viên Kinh kịch có bề dày
kinh nghiệm, biết thể hiện phong cách trường phái trong nghệ thuật hát, gọi là
“bốn danh kép lớn”, đó là: Mai Lan Phương (1894 - 1961), Thượng Tiểu Vân
(1900 - 1976), Trình Nghiên Thu, Tuần Huệ Sinh (1900 - 1968). Mai, Thượng,
Trình, Tuần, mỗi người hùng cứ một sân khấu, giọng hát đạt trình độ điêu luyện
với phong cách biểu diễn độc đáo, hình thành các trường phái khác nhau.
Với Kinh kịch trường phái Thượng Hải, nhân vật tiêu biểu lên sân khấu biểu
diễn hát kịch từ lúc mới bảy tuổi, với nghệ danh “thất linh đồng” nổi tiếng khắp
vùng nam bắc Trường Giang, đó là Chu Tín Phương (1895 - 1975). Ông có phong
6
cách biểu diễn nghệ thuật tự nhiên, chân thực, tuỳ hứng ứng tác. Hình tượng nghệ
thuật mà ông tạo dựng có xương, có thịt khiến người xem khó quên.
4. Kinh kịch những thập kỉ 50, 60, 70
Bước vào những năm 50, cùng với chế độ xã hội mới được xác lập toàn diện,
Kinh kịch cũng như các loại hình hí khúc khác, các đoàn biểu diễn, các gánh hát,
các nghệ nhân được quy tụ trong ngành quản lý văn hoá của chính phủ. Các tiết
mục, vở diễn được chấp nhận theo sự chỉ đạo một cách có tổ chức và kế hoạch.
Nhà nước nêu cao phương châm sáng tác văn nghệ là đồng loạt thực hiện “chỉnh lý
cải biên kịch truyền thống, sáng tác mới kịch lịch sử và kịch hiện đại”
1
. Đứng
trước tình hình hàng ngàn, hàng vạn vở kịch truyền thống có khả năng bị thất
truyền, một số nhà soạn kịch có trình độ văn hoá cao kết hợp với nghệ nhân đã kiên
trì việc khai thác và chỉnh lý đối với một số tiết mục truyền thống và đã đưa tới một
tiện thông tin và hình thức giải trí bùng nổ, Kinh kịch cũng như các loại hình văn
hóa truyền thống dường như bị lãng quên. Người Trung Quốc, đặc biệt là giới trẻ
không còn thú vui “xem hát” như xưa. Kinh kịch - một loại hình hí khúc phát triển
rực rỡ, ngời sáng một thời - lùi vào hàng ngũ nghệ thuật truyền thống cần được bảo
tồn của văn hoá dân tộc. Chính phủ Trung Quốc có nhiều biện pháp để bảo lưu loại
hình nghệ thuật này, như tổ chức các buổi lưu diễn Kinh kịch ở Trung Quốc đại
lục, ở Đài Loan, ở Hồng Kông….Tuy không thường xuyên nhưng cũng đủ để xác
lập vị trí tồn tại của Kinh kịch trong xã hội hiện đại Trung Quốc và góp phần lay
động tâm thức giới trẻ về nền văn hoá truyền thống đa dạng, đặc sắc.
Chương II
Vai diễn trong Kinh kịch.
1. Phân vai trên sân khấu Kinh kịch.
Các nhân vật xuất hiện trên sân khấu Kinh kịch, căn cứ vào thuộc tính tự
nhiên (tuổi tác, giới tính), thuộc tính xã hội (nghề nghiệp, tính cách, khí chất), năng
2
Nguyễn Huy Quý - Nước CHND Trung Hoa (1949-1999)
8
khiếu kỹ thuật, phong cách biểu diễn, dựa vào trang phục, hoá trang và sự biểu diễn
được cường điệu về nghệ thuật rồi tổng hợp phân loại chia thành các vai diễn khác
nhau gọi là phân vai. Kinh kịch ngay từ buổi đầu hình thành đã đi vào cung đình,
nên sự phát triển nghệ thuật không giống như các hí khúc địa phương. Lĩnh vực đời
sống đòi hỏi nó phải biểu hiện rộng hơn, loại hình nhân vật xây dựng phải nhiều
hơn, hoàn chỉnh và toàn diện hơn. Đặc trưng này cũng phản ánh trong việc phân
công các nhân vật thành những nhóm nghề diễn. Chế độ nhóm nghề của Kinh kịch
xưa kia có người nói là 10 nhóm hay 7 nhóm nhưng hiện nay thường có 4 loại hình
cơ bản: Sinh, Đán, Tịnh, Sửu. Mỗi loại hình này lại chia nhiều phân chi, dưới phân
chi lại có các mục nhỏ, mỗi loại có nhân vật diễn và đặc sắc biểu diễn cơ bản của
nó.
1.1. Vai sinh:
Vai sinh là kép chính trong vở diễn. Người đảm nhiện vai này là nam giới.
Lão đán là các vai nữ ở tuổi già. Khi thoại sử dụng giọng thật, khi hát sử
dụng giọng gần giống lão sinh nhưng mang sự uyển chuyển của nữ giới.
Đao mã đán là một chi của vai đán, thường đóng vai nữ giỏi võ nghệ. Dựa
theo nhân thân và kỹ thuật biểu diễn của nhân vật, đao mã đán còn chia làm hai
loại: loại thứ nhất nai nịt gọn gàng, cưỡi ngựa, sử dụng binh khí cán dài, nặng về kỹ
thuật thân hình, tư thế; loại thứ hai mặc quần áo chẽn, nặng về biểu diễn nhào lộn,
hay đóng vai quỷ thần.
1.3. Vai tịnh
Vai tịnh là một trong những loại hình phân vai chính của sân khấu Kinh kịch.
Các vai tịnh có khuôn mặt được hoá trang bằng nhiều màu sắc với các kiểu hoa văn
tạo thành mặt nạ nổi bật của nam diễn viên có tính cách, phong thái, tướng mạo
khác thường như ngay thẳng ngang tàng, nóng nảy hay nham hiểm, độc ác hoặc lỗ
10
mãng nhưng thật thà. Khi biểu diễn, vai tịnh phải có tiếng hát trầm vang, động tác
đàng hoàng, dứt khoát, chuyển giọng rõ nét tạo nên tính cách độc đáo trên sân khấu
Kinh kịch. Vai tịnh có nhiều chi nhỏ.
Tịnh chính là một chi trong phân vai tịnh. Trong các vở diễn, đây là nhân vật
có địa vị cao sang trong xã hội, phần lớn là mệnh quan triều đình, cử chỉ đĩnh đạc,
phong thái ung dung, động tác biểu diễn mạnh mẽ, dứt khoát.
Phó tịnh là một chi trong phân vai tịnh. Phó tịnh phần lớn là các vai đóng
nhân vật chính diện, dũng mãnh, hào phóng.
Võ tịnh là một chi trong phân vai tịnh. Đây là phân vai thiên về đánh đấm,
lấy động tác ngã, vồ, nhoài làm chính, không nặng về hát đọc.
Tịnh mao cũng là một chi trong phân vai tịnh. Vai tịnh mao thường tạo hình
bằng cách độn ngực, độn mông, dáng dấp kỳ cục nặng nề, khi múa thể hình thô
kệch nhưng hay làm dáng làm điệu.
1.4. Vai sửu
Vai sửu là một trong loại hình phân vai chủ yếu trong biểu diễn Kinh kịch,
đóng vai hài. Trước đây trong vai sửu, nhân vật được đóng khá đa dạng, nhưng đến
thời cận đại vai sửu thường là những anh hề. Trong biểu diễn, vai sửu không nặng
nho nhã, phong lưu; nữ hoa bì là kiểu áo chùng, cài khuy giữa song hai tay có thêm
một đoạn ống rất dài, mềm, màu trắng, là trang phục của các vai nữ trẻ thướt tha…
Y phục bên võ thì có đại kháo, tiễn y, bão y, đả y…. Ngoài ra còn có các loại áo,
váy, xiêm của các vai nữ. áo hát Kinh kịch truyền thống có rất nhiều loại, nhiều
kiểu cách, được thêu thùa khác nhau dựa theo các tuyến nhân vật, nhưng xét về
hình thức cơ bản thì có khoảng trên dưới 20 loại cơ bản.
Trong hệ thống phục trang có một thứ luôn làm người xem thích thú, ấn
tượng, đó là các bộ râu giả. Râu giả, thuật ngữ gọi là “nhiêm khẩu”, là tên gọi
12
chung của các loại râu sử dụng trong các vai diễn của Kinh kịch. Không phải vai
diễn nào cũng đeo râu giả. Thường thì các vai tịnh sử dụng râu giả nhiều nhất. Vai
tịnh là vai diễn có gương mặt được hoá trang bằng nhiều màu sắc, do vậy bộ râu
giả sẽ phối hợp phát huy tác dụng trong việc thể hiện tình cảm và tính cách nhân
vật. Màu sắc của râu thường có ba loại: đen, xám, trắng để phân biệt tuổi tác của
vai diễn. Tuy nhiên một số ít vai diễn có tính cách nóng nảy hoặc vai quỷ thần quái
dị thì đeo râu màu đỏ, màu tím và màu xanh lam.
Các tuyến nhân vật mang phục trang một cách có hệ thống, như: nam đội
mão, cân, quan và đeo nhiêm khẩu (râu giả); nữ đội khăn, đầu cài trâm, thiếp phiến,
trang sức dùng điểm thuý, thuỷ siêm, ngân phao, vô cùng sặc sỡ, diêm dúa. Cách
trang điểm này cũng được định rõ tuỳ theo cấp bậc và thân phận của nhân vật. Với
mỗi một hòm trang phục, gánh hát và các diễn viên Kinh kịch có thể đi bất cứ nơi
nào muốn và biểu diễn được tất cả những chuyện xưa tích cũ trên dưới mấy nghìn
năm.
2.2. Nghệ thuật hoá trang mặt các vai diễn Kinh kịch.
Khi thưởng thức Kinh kịch, người xem có thể nhìn thấy rất nhiều nhân vật vẽ
mặt, dùng các thứ màu sắc, đường nét bôi vẽ một cách khoa trương tạo thành các
hình tượng diện mạo đủ kiểu, đó là nghệ thuật hoá trang độc đáo của Kinh kịch - vẽ
mặt, thuật ngữ gọi là “kiểm phả”. Kiểm phả cũng được coi là tượng trưng của Kinh
kịch Trung Quốc.
Nghệ thuật kiểm phả không phải chỉ là của riêng Kinh kịch, các loại hình hí
trán để màu da hoặc xát lên cho đỏ, hoặc vẽ đỏ, hai thái dương bôi trắng, giống như
hình thỏi bạc. Mặt này thường dùng cho nhân vật lớp dưới trong xã hội.
Mặt lệch là kiểu mặt mà màu sắc và hình vẽ đều không đối xứng, hình tượng
kiểm phả lệch lạc, xiên xẹo, cường điệu sự khác thường và xấu xí của nhân vật.
14
Mặt vỡ là loại mặt mà trên đó cơ bản dùng màu, hoa văn, đường nét vẽ cho
vỡ ra, có ý nghĩa bao biếm khen chê. Mặt vỡ phần nhiều phác hoạ nhân vật có tính
cách xấu.
Nghệ thuật kiểm phả của Kinh kịch mang tính quy phạm cao nhưng lại hàm
chứa một sức sáng tạo rất lớn. Các vai diễn Kinh kịch tuỳ theo thân phận, hoàn
cảnh, tính cách mà bước ra sân khấu với bộ mặt được hoá trang phù hợp. Kiểm
phả Kinh kịch chứa đựng ý nghĩa văn hoá dân tộc sâu sắc, dựa trên nguyên tắc
thẩm mĩ truyền thống mà thể hiện rõ màu sắc đặc biệt của văn hóa Trung Hoa.
2.3. Màu sắc thể hiện tính cách nhân vật.
Trong nghệ thuật hoá trang mặt nhân vật của Kinh kịch, có một nét nổi bật,
tiêu biểu, hấp dẫn người xem, đó là cách sử dụng các loại màu. Khi một diễn viên
đã hoá trang bước ra sân khấu, người xem có thể thông qua màu sắc hóa trang của
diễn viên đó mà đoán định được phẩm chất của nhân vật là tốt hay xấu, trung hay
nịnh, hào phóng, cao thượng hay ti tiện, nhỏ nhen…. Có được điều này là do màu
sắc được sử dụng trong việc hoá trang nhân vật của sân khấu Kinh kịch có tính
tượng trưng cao. Màu dùng để hoá trang rất phong phú, gồm các loại màu chính
như: màu đỏ, màu đen, màu trắng, màu vàng, màu xanh, màu tím, màu bạc….
Trong đó mỗi màu mang một tính tượng trưng nhất định cho phẩm chất, tính cách
và khí chất của nhân vật: màu đỏ tượng trưng cho lòng dũng cảm, chính trực, trung
thành; màu đen tượng trưng cho sự thẳng thắn, nghiêm khắc; màu trắng diễn tả sự
gian trá, nham hiểm, quỷ quyệt; màu vàng biểu lộ sự thông minh, đôi khi mang
đậm tính láu cá; màu xanh, màu tím thể hiện sự dữ tợn, tinh quái của những kẻ độc
ác, yêu tà hoặc lục lâm trộm cướp; màu bạc là gương mặt của thần thánh, tiên phật
mang vẻ quái dị. Màu sắc có sự tích luỹ của thẩm mĩ truyền thống, qui ước mãi
thành quen, không thể lẫn lộn được. Các màu sắc được sử dụng một cách linh hoạt,
khấu Kinh kịch được chia làm các loại: giọng trữ tình, giọng tự sự và giọng hát
mang tính kịch. Giọng trữ tình có đặc điểm là lời ít, thanh nhiều, đòi hỏi nhiều ở
giai điệu, mạnh về bộc lộ tình cảm nội tâm. Giọng tự sự thì có đặc điểm là lời
nhiều, thanh ít, nặng về ngâm nga, phù hợp với những lúc cần tự thuật, đối đáp.
Giọng hát mang tính kịch nặng về nhịp phách tự do, tiết tấu co giãn rất linh hoạt,
thường thể hiện khi tình cảm lên cao trào, mãnh liệt. Trong hát Kinh kịch phải chú
trọng giữa lời và thanh, giữa thanh và tình. Hát cho rõ, chính xác lời và nghĩa, là
yêu cầu số một đối với kỹ thuật hát, trên cơ sở đó tạo ra hàng loạt phương pháp và
kỹ xảo trong hát. Khi hát bao gồm thực hiện một loạt phương pháp như phát âm,
nhả chữ, lấy hơi, giả giọng… nhằm mục đích thể hiện tư tưởng tình cảm của nhân
vật trong vở diễn.
Nói là ngôn ngữ trên sân khấu đã được âm nhạc hóa, chẳng những phải có
âm điệu, tiết tấu giòn giã mà còn chú trọng ngũ âm tứ hô đều có vận vị. Trong Kinh
kịch, có nhiều hình thức thoại (nói) như thoại vần, thoại kinh, thoại phương ngôn
đều là sự kết hợp ở mức độ khác nhau giữa ngôn ngữ và âm nhạc. Hát và nói là hai
kỹ thuật cơ bản tạo nên sức hấp dẫn của vở diễn.
1.2. Kỹ thuật “diễn”
Trên sân khấu Kinh kịch, không chỉ có ngôn ngữ mới được âm nhạc hoá mà
các động tác về hình thể cũng được nâng lên như múa và được gọi là “diễn”. Khi
lên sân khấu, mọi hành động, tư thế, thân hình của diễn viên không thể là những
hành động tự nhiên của cuộc sống, bởi mỗi động tác của cơ thể phải lột tả hết được
cái “thần” của nhân vật, như biểu hiện cảm xúc, nội tâm…. Tất cả những “đường
cong thân hình”, động tác múa đều là sự sáng tạo tổng kết, tích luỹ hình thành hàng
loạt động tác theo qui trình mang tích cách điệu, thể hiện tính quy phạm, tính cố
định của các nghệ sĩ Kinh kịch. Mỗi động tác tay, mỗi bước đi của nhân vật đều
phải mang một sắc thái riêng, được bao bọc bởi âm nhạc và được vũ đạo hoá cao.
Các vật dụng hoá trang trang phục như ống tay áo, khăn tay, quạt, đuôi tóc… đều
17
trở thành đạo cụ múa, những trợ thủ đắc lực giúp diễn viên “diễn” thành công. Như
vậy, một diễn viên thành thục “diễn” thì phải giàu kinh nghiệm trong việc xử lý các
4
Đặc kỹ là những động tác khó, yêu cầu về kỹ thuật cao trong biểu diễn Kinh
kịch. Sử dụng trong vở diễn đặc biệt hay bối cảnh đặc biệt, đặc kỹ thể hiện nội tâm
nhân vật, tạo bầu không khí cho vở diễn, là phương tiện nghệ thuật đặc biệt để tạo
hiệu quả sân khấu.
2.1. Đặc kỹ thay đổi khuôn mặt
Thay đổi khuôn mặt trước đây là kỹ xảo đặc biệt của Xuyên kịch (một loại
hình hí khúc). Sau đó Kinh kịch tiếp thu, chắt lọc tinh hoa, sáng tạo và phát triển
thêm tạo thành một đặc kỹ tuyệt chiêu của mình. Việc thay đổi khuôn mặt thể hiện
sự thay đổi đột ngột của nhân vật về trạng thái tinh thần, tình cảm như hoảng hốt,
sợ hãi hoặc giận giữ trong tuyệt vọng. Có hai thủ pháp thay đổi khuôn mặt. Một là,
thay đổi khuôn mặt bằng cách thổi bụi tro. Diễn viên dấu tro đen trong lòng bàn tay
hoặc trong bát rượu rồi thổi phù để tro bám lên mặt. Hai là, thay đổi khuôn mặt
bằng cách bôi màu. Diễn viên phải dấu màu bôi trong tay hoặc trên mi mắt, hốc
mắt, sống mũi, chân tóc mai, thoáng một cái bằng động tác vuốt nhẹ thật nhanh là
thay đổi khuôn mặt. Để thực hiện được kĩ xảo này một cách thành công, yêu cầu
động tác của diễn viên phải thật mau lẹ, chính xác, biết lợi dụng tư thế để thực hiện
như tư thế quay đầu vào trong hay tư thế cúi mặt, gục ngã….
2.2. Đặc kỹ lửa màu
Lửa màu là tên gọi chung cho các kỹ xảo đặc biệt thể hiện lửa khói trên sân
khấu. Lửa màu trong Kinh kịch có hai loại, là “tung lửa màu” và “phun lửa màu”.
Tung lửa màu Kinh kịch rất công phu. Trước hết phải chuẩn bị giấy gấp mồi lửa,
lúc sắp thả phải kẹp giữa các ngón tay, dùng để bắt mồi hương mạt. Tất cả đều
trông vào sự khéo léo của mấy ngón tay. Những màn biểu diễn phun lửa màu thì
4
Chương Di Hoà, Hí khúc Trung Quốc.
19
mang vẻ bí hiểm, li kì. Phun lửa màu được chia làm hai loại là thổi đốm lửa và
phun lửa. Thổi đốm lửa tức là miệng diễn viên ngậm ống thổi lửa, hai đầu có lỗ,
trong ống chứa đầy “than giấy”, từ từ dùng sức mạnh thổi ra. Đặc kỹ phun lửa là
các thế hệ nghệ sĩ xuất sắc cũng như sự phong phú của các vai kịch, nó cũng không
hổ thẹn là “tập đại thành” của nghệ thuật hý khúc Trung Quốc. Đó là kho báu của
nghệ thuật hí khúc Trung Quốc, là hạt ngọc sáng ngời của nghệ thuật phương
Đông, có sức quyến rũ kì diệu mãi mãi trên sân khấu thế giới. Tìm hiểu một loại
hình nghệ thuật hí kịch đẹp trội nhất phương Đông cũng là một cách để mở rộng
tầm mắt và nâng cao tri thức về lịch sử văn hoá văn minh của nhân loại. Trong xã
hội hiện đại ngày nay, “ôn cố tri tân” giúp mỗi người nuôi dưỡng tâm hồn, trân
trọng, bảo vệ và gìn giữ những nét đẹp của quá khứ.
Với kinh nghiệm nghiên cứu và khả năng còn hạn chế của một sinh viên,
chắc chắn bản báo cáo này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong được sự
chỉ bảo và thông cảm của người đọc.
Em xin chân thành cảm ơn!
21
Tài liệu tham khảo
1. Chương Di Hoà (chủ biên), ngd Nguyễn Xuân Bích. Hý khúc Trung Quốc. NXB
Thế giới, Hà Nội 2002.
2. Lê Giảng. Trung Quốc xưa và nay. NXB Thanh niên, 1999.
3. Mao Mao, ngd Lê Bầu. Cha tôi – Đặng Tiểu Bình những năm tháng
cách mạng văn hoá. NXB Thế giới 2001.
4. Lý Duy Côn. Trung Quốc nhất tuyệt. NXB Văn hoá thông tin, 1997.
5. Clio Whit Taker, ngd Trần Văn Huân. Văn hoá phương Đông những
huyền thoại. NXB Mỹ thuật, 2001.
6. Ngọc Phương. Kể chuyện văn hoá truyền thống Trung Quốc. NXB Thế
giới, 2003.
7. Lý Vĩnh. Mười năm đại cách mạng văn hoá Trung Quốc. NXB Tp Hồ Chí
Minh, 1997.
8. Nguyễn Huy Quý. Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa chặng đường lịch sử
nửa thế kỉ (1949 – 1999). NXB Chính trị Quốc gia, 1999.
9. Cao Thu Huân (chủ biên), bs Hồng Vĩnh Bình, ngd Nguyễn Liên Hoàn. Pháp
quy và cơ cấu văn hoá Trung Quốc. NXB Thế giới 2002.
11
2.2. Nghệ thuật hoá trang mặt các vai diễn Kinh kịch
13
1.3. Màu sắc thể hiện tính cách nhân vật
14
Chương 3: Nghệ thuật biểu diễn trên sân khấu
Kinh kịch
16
1. Các kỹ thuật cơ bản
16
1.1. Kỹ thuật “hát - nói”
16
1.2. Kỹ thuật “diễn”
17
1.3. Kỹ thuật “đánh”
18
2. Đặc kỹ “tuyệt chiêu làm mê hồn người”
19
2.1. Đặc kỹ thay đổi khuôn mặt
19
2.2. Đặc kỹ nửa màu
19
2.3. Đặc kỹ “chết đứng”
20
2.4. Đặc kỹ “đánh lên tay”, còn gọi là “đá lên tay”
20
Kết luận 21
Tài liệu tham khảo
MỤC LỤC
Lời nói đầu 2
24
Kết luận 20
Tài liệu tham khảo 22
25