BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
“Vốn kinh doanh và một số giải pháp chủ
yếu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh
doanh ở công ty Điện tử công nghiệp”
1
1
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt động sản xuất
kinh doanh đều phải có một lượng vốn nhất định, vốn là yếu tố không thể
thiếu. Có vốn doanh nghiệp mới có điều kiện đầu tư mua sắm máy móc
thiết bị, nguyên vật liệu, thuê nhân công…tiến hành sản xuất kinh doanh.
Nhưng chỉ có vốn thôi thì chưa đủ. Nền kinh tế thị trường với những quy
luật khắc nghiệt của nó ảnh hưởng rất lớn tới sự tồn tại và phát triển của
các doanh nghiệp. Do đó, một doanh nghiệp muốn đứng vững và khẳng
2
2
định vị trí của mình trên thị trường thì doanh nghiệp đó phải hoạt động đạt
hiệu quả cao. Muốn như vậy thì trước hết doanh nghiệp phải tổ chức quản
lý và sử dụng vốn đó sao cho hiệu quả để vừa bảo toàn được vốn, đồng thời
vừa phát triển vốn mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp.
Tuy nhiên, trên thực tế rất nhiều doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là
các doanh nghiệp Nhà nước đang sử dụng vốn kém hiệu quả, gây thất thoát
vốn, thậm chí dẫn đến giải thế, phá sản doanh nghiệp, làm giảm khả năng
cạnh tranh trên thị trường; từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc tổ chức quản lý và sử
dụng vốn một cách hiệu quả đang là vấn đề cấp bách đặt ra không chỉ đối
với mỗi doanh nghiệp mà còn đối với cả Nhà nước và toàn bộ nền kinh tế;
đặc biệt là khi nước ta đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức
WTO.
QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. Vốn kinh doanh:
1.1.1. Khái niệm về vốn kinh doanh:
1.1.1.1. Khái niệm vốn kinh doanh:
Để tiến hành bất kỳ một quá trình sản xuất kinh doanh nào cũng cần
phải có vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết, có ý nghĩa quyết định tới các bước
tiếp theo của quá trình sản xuất kinh doanh.
Theo định nghĩa cuả nhiều nhà kinh tế học thì vốn kinh doanh trong
các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt. Ở đây cần có sự phân biệt
giữa tiền và vốn. Tiền được coi là vốn phải đồng thời thỏa mãn những điều
kiện sau đây:
- Thứ nhất: Tiền phải đại diện cho một lượng hàng hóa nhất định ( tiền
phải được đảm bảo bằng một lượng tài sản có thực )
- Thứ hai: Tiền phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất
định, đủ sức để đầu tư cho một dự án kinh doanh.
- Thứ ba: Khi đã đủ về số lượng, tiền phải được vận động nhằm mục
đích sinh lời.
Sự vận động của quỹ tiền tệ này trong sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được biểu diễn theo sơ đồ sau:
TLSX
T- H ….SX….H’ – T’
SLĐ
Doanh nghiệp sẽ dùng vốn để mua sắm các yếu tố của quá trình sản
xuất kinh doanh như sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động.
5
5
Do sự tác động của lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao
động mà hàng hóa dịch vụ được tạo ra và tiêu thụ trên thị trường. Cuối
thay đổi hình thái biểu hiện, nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của
vòng tuần hoàn phải là giá trị - là tiền, đồng tiền phải quay về nơi xuất phát
có giá trị lớn hơn.
Thứ ba: Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một loại hàng hóa đặc
biệt. Nói vốn là một loại hàng hóa vì nó có giá trị, giá trị sử dụng như mọi
loại hàng hóa khác. Giá trị sử dụng của vốn là để sinh lời. Khác với những
hàng hóa khác, quyền sử hữu vốn và quyền sử dụng vốn có thể được gắn
với nhau nhưng cũng có thể được tách rời nhau.
Thứ tư: Vốn phải được tích tụ, tập trung đến một lượng nhất định
mới có thể phát huy được tác dụng. Do đó các doanh nghiệp không chỉ có
nhiệm vụ khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút các
nguồn vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Thứ năm: Vốn phải có giá trị về mặt thời gian. Điều này có ý nghĩa
khi bỏ vốn vào đầu tư phải xét tính hiệu quả của đồng vốn mang lại. Trong
nền kinh tế thị trường, do ảnh hưởng của giá cả, lạm phát và lãi suất nên
sức mua của đồng tiền ở thời điểm khác nhau cũng khác nhau.
Thứ sáu: Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định và phải được
quản lý chặt chẽ. Nếu không xác định được chủ sở hữu thì việc sử dụng
vốn và tài sản sẽ gây lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả.
• Vai trò của vốn kinh doanh:
Vốn là điều kiện tiền đề để doanh nghiệp có thể tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh của mình. Mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu tiến hành sản
xuất đều phải cần đến vốn. Nếu không có vốn doanh nghiệp sẽ không thể
mua sắm tài sản cố định, thuê mướn nhân công để phục vụ cho hoạt động
sản xuất kinh doanh.
Vốn là điều kiện duy trì sản xuất, đổi mới thiết bị công nghệ, mở
rộng sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm cho người
lao động. Từ đó tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng trên
7
7
8
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Song ngược lại những đặc điểm kinh tế
của TSCĐ trong quá trình sử dụng lại có ảnh hưởng quyết định, chi phối
đặc điểm tuần hoàn và chu chuyển của VCĐ. Do đó, VCĐ và TSCĐ là hai
phạm trù độc lập nhưng nằm trong một thể thống nhất. Vì vậy, để có thể
hiểu chi tiết về VCĐ, trước hết ta cần tìm hiểu về TSCĐ.
TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu có
giá trị lớn tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, còn giá trị của nó thì được
dịch chuyển dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ sản xuất.
Thông thường một tư liệu lao động được coi là TSCĐ phải đồng thời thỏa
mãn hai tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Một là phải có thời gian sử dụng tối thiểu, thường từ một năm trở
lên.
- Hai là phải đạt giá trị tối thiểu ở mức quy định. Tiêu chuẩn này được
quy định đối với từng nước và có thể được điều chỉnh cho phù hợp với mức
giá cả của từng thời kỳ.
Ở Việt Nam hiện nay tiêu chuẩn về mặt giá trị theo QĐ206/2003 của
Bộ Tài Chính ban hành ngày 12/12/2003 là từ 10 triệu đồng trở lên.
Ngoài hai tiêu chuẩn trên thì theo QĐ206 thì tài sản là TSCĐ phải
thỏa mãn thêm hai điều kiện nữa là:
- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài
sản đó
- Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy.
Đặc điểm chung của TSCĐ trong doanh nghiệp là tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất sản phẩm với vai trò là tư liệu lao động. Trong quá
trình đó hình thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của TSCĐ là không
thay đổi. Song giá trị của nó lại được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị
sản phẩm sản xuất ra. Bộ phận giá trị chuyển dịch này cấu thành một yếu tố
chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và được bù đắp mỗi khi sản
phẩm được tiêu thụ. Để giúp cho công tác quản lý và sử dụng có hiệu quả
trước về TSCĐ mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần
10
10
trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi TSCĐ
hết thời gian sử dụng.
1.1.2.2. Vốn lưu động:
Vốn lưu động là một bộ phận của vốn kinh doanh được ứng ra để
hình thành nên TSLĐ của doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục.
Là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ nên đặc điểm vận động của vốn lưu động
luôn chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của TSLĐ. Trong các doanh
nghiệp thường chia TSLĐ thành hai loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu
thông.
TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng
thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang…đang trong quá trình dựu trữ
sản xuất hoặc sản xuất chế biến. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản
phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong
thanh tóan, các khoản chi phí chờ kết chuyển….Trong quá trình sản xuất
kinh doanh các TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận động, thay thế
và chuyển hóa lẫn nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được
tiến hành liên tục.
Phù hợp với các đặc điểm của TSLĐ, vốn lưu độngcủa doanh nghiệp
cũng không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: Dự
trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và
thường xuyên lặp lại theo chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu
chuyển của vốn lưu động. Qua mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh vốn
lưu động lại thay đổi hình thái biểu hiện, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu
sang hình thái vốn vật tư hàng hóa dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại
trở về với hình thái vốn tiền tệ. Sau mỗi chu kỳ tái sản xuất, vốn lưu động
hoàn thành một vòng chu chuyển.
trình họat động, nguồn vốn chủ sở hữu được bổ sung từ kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nguồn vốn liên doanh, liên kết. Vốn
chủ sở hữu được xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh
12
12
nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả.
- Nợ phải trả: là nguồn vốn mà doanh nghiệp khai thác, huy động từ
các chủ thể khác qua vay nợ, thuê mua, ứng trước tiền hàng…Doanh
nghiệp được quyền sử dụng tạm thời trong một thời gian sau đó phải hoàn
trả cho chủ nợ. Bao gồm: vay ngắn hạn, vay dài hạn, phải trả cho người
bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp Nhà nước, phải
trả công nhân viên, phải trả nội bộ…
Ta có: Tổng tài sản của DN = Nguồn vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả
Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn
nói trên để đảm bảo nhu cầu vốn cho họat động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Sự kết hợp giữa hai nguồn vốn này được xem là hợp lý phụ
thuộc vào đặc điểm mà doanh nghiệp đang hoạt động, tình hình phát triển
của nền kinh tế cũng như tình hình thực tế của doanh nghiệp.
* Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể chia nguồn
vốn của doanh nghiệp thành hai loại:
- Nguồn vốn thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định, dài
hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng. Nguồn vốn này được dành cho việc
đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ tối thiểu thường xuyên cần
thiết cho họat động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường
xuyên được xác định như sau:
Nguồn vốn thường xuyên = Nợ dài hạn + Nguồn vốn chủ sở hữu
- Nguồn vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một
năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất
tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng
thể của doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng sản xuất kinh doanh.
1.2. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp:
1.2.1. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp buộc phải tiến hành
14
14
hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, xuất phát từ quan hệ
cung cầu. Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? không
xuất phát từ chủ quan của doanh nghiệp hay từ mệnh lệnh của cấp trên mà
xuất phát từ nhu cầu thị trường, từ quan hệ cung cầu và lợi ích của doanh
nghiệp.
Mục đích của mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế trường là sản xuất
kinh doanh đem lại hiệu quả cao. Lấy hiệu quả làm thước đo cho mọi hoạt
động của doanh nghiệp. Hiệu quả là lợi ích kinh tế đạt được sau khi đã bù
đắp hết các khoản chi phí bỏ ra cho hoạt động kinh doanh. Do đó, nhiệm vụ
của các doanh nghiệp là phải phân bổ, sử dụng nguồn vốn của doanh
nghiệp vào quá trình sản xuất kinh doanh sao cho hợp lý và có hiệu quả.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh có ảnh hưởng quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ
tiêu biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh doanh. Phản ánh trình độ quản lý
và sử dụng vốn của doanh nghiệp trong việc tối đa hóa kết quả, lợi ích hoặc
tối thiểu hóa lượng vốn và thời gian sử dụng theo các điều kiện về nguồn
lực xác định phù hợp với mục tiêu kinh doanh.
Như vậy có thể hiểu là với một lượng vốn nhất định bỏ vào họat
động sản xuất kinh doanh sẽ đem lại lợi nhuận cao nhất và làm cho đồng
vốn không ngừng sinh sôi nảy nở, tức là hiệu quả sử dụng vốn thể hiện ở
hai mặt: bảo toàn được vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh
doanh, trong đó đặc biệt là kết quả về sức sinh lời của đồng vốn. Bên cạnh
đó, phải chú ý cả mặt tối thiểu hóa lượng vốn và thời gian sử dụng vốn của
được lợi nhuận hay không? Vì thế lợi nhuận được coi là một trong những
đòn bẩy quan trọng, đồng thời là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả
sản xuất kinh doanh. Do đó, sản xuất như thế nào để thu được lợi nhuận
cao là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp.
* Xuất phát từ vai trò của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp:
Vốn là tiền đề, là xuất phát điểm cho mọi hoạt động sản xuất kinh
16
16
doanh; là điều kiện quyết định và ảnh hưởng xuyên suốt đến toàn bộ quá
trình họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra vốn kinh
doanh là điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng khác với mục đích phát
triển kinh doanh, phục vụ cho quá trình tái sản xuất mở rộng. Trên thực tế,
đã có không ít các doanh nghiệp có khả năng về nhân lực, có cơ hội đầu tư
nhưng thiếu khả năng tài chính mà đành bỏ lỡ mất cơ hội kinh doanh. Với
vai trò quan trọng đó, đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến
việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Đó cũng chính là mục tiêu cần đạt tới
của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
* Xuất phát từ tình hình quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của
doanh nghiệp:
Trong cơ chế bao cấp, hầu hết các doanh nghiệp Nhà nước được Nhà
nước bao cấp toàn bộ vốn sản xuất kinh doanh hoặc là được ưu tiên vay
vốn với lãi suất thấp. Việc khai thác thu hút vốn không được đặt ra như một
yêu cầu cấp bách, có tính sống còn đối với doanh nghiệp. Điều này đã vô
tình “triệt tiêu” tính chủ động, sáng tạo và tính linh hoạt của các doanh
nghiệp.
Chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế
cùng đan xen hoạt động, các doanh nghiệp Nhà nước chỉ còn là một bộ
phận song song cùng tồn tại với các doanh nghiệp thuộc các thành phần
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là vấn đề cấp bách đặt ra
cho các doanh nghiệp vì nó là các yếu tố cần thiết để thực hiện quá trình
sản xuất, quyết định giá thành sản phẩm. Trong các điều kiện kinh tế thị
trường hiện nay thì việc tiết kiệm triệt để vốn để giảm giá thành sản phẩm
là yếu tố lợi thế. Vậy việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là cần thiết đối
với mỗi doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn còn góp phần nâng cao
khả năng họat động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mở rộng quy
mô hoạt động sản xuất, tăng nhanh tốc độ hoạt động của doanh nghiệp,
18
18
tăng khả năng cạnh tranh nhằm đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp; góp
phần tăng trưởng nền kinh tế xã hội.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp:
Để đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp, người ta có thể sử dụng một số chỉ tiêu sau:
1.2.3.1. Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn:
* Vòng quay toàn bộ vốn kinh doanh trong kỳ:
Là chỉ tiêu phản ánh vốn của doanh nghiệp trong một kỳ quay được
bao nhiêu vòng.
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ VKD =
VKD bình quân trong kỳ
Qua chỉ tiêu này ta có thể đánh giá được khả năng sử dụng tài sản
của doanh nghiệp hoặc doanh thu thuần được sinh ra từ tài sản mà doanh
nghiệp đã đầu tư.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn kinh doanh:
Phản ánh khả năng sinh lời của mỗi đồng vốn đầu tư vào hoạt động
kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
Hàm lượng VCĐ =
Doanh thu thuần
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thì cần bao
nhiêu đồng vốn cố định. Chỉ tiêu này càng nhỏ thể hiện trình độ quản lý và
sử dụng vốn đạt hiệu quả cao.
* Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định:
Lợi nhuân trước hoặc sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận VCĐ =
Vốn cố định bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn cố định bình quân tham gia
20
20
vào hoạt động sản xuất kinh doanh thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận
trước hoặc sau thuế cho doanh nghiệp.
Một số chỉ tiêu phân tích:
* Hệ số hao mòn TSCĐ:
Số tiền khấu hao lũy kế
Hệ số hao mòn TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ ở thời điểm đánh giá
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ hao mòn của TSCĐ trong doanh
nghiệp so với thời điểm đầu tư ban đầu. Hệ số càng lớn chứng tỏ mức độ
hao mòn TSCĐ càng cao và ngược lại.
* Hiệu suất sử dụng TSCĐ:
Doanh thu thuần
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng TSCĐ trong kỳ tạo được bao nhiêu
đồng doanh thu thuần. Hiệu suất càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng
TSCĐ càng cao.
* Hệ số trang bị TSCĐ cho một công nhân trực tiếp sản xuất: phản
hiệu quả.
Hai chỉ tiêu này chỉ cho biết hiệu quả sử dụng vốn kỳ sau so với kỳ
trước chứ không cho biết mức lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được.
* Hàm lượng vốn lưu động (hay còn gọi là mức đảm nhận vốn lưu
động):
Chỉ tiêu này phản ánh để tạo ra một đồng doanh thu thuần thì cần
phải có bao nhiêu đồng vốn lưu động bình quân.
Số vốn lưu động bình quân
Hàm lượng VLĐ =
Doanh thu thuần
22
22
Đây là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn lưu động
* Mức tiết kiệm vốn lưu động: chỉ tiêu này cho biết trong năm qua
đơn vị đã tiết kiệm được hoặc lãng phí bao nhiêu đồng vốn lưu động.
Tổng mức luân chuyển VLĐ
Mức tiết kiệm VLĐ = x ( K
1
– K
0
)
(Mtk) 360
Trong đó : K
1
là số ngày một vòng quay vốn lưu động hiện tại
K
0
là số ngày một vòng quay vốn lưu động năm trước
Mtk > 0 là lãng phí
Mtk < 0 là tiết kiệm
doanh nghiệp luôn diễn ra trong một bối cảnh kinh tế cụ thể như tốc độ
tăng trưởng hay suy thoái của nền kinh tế, mức độ ổn định của đồng tiền,
của tỷ giá hối đoái, các chỉ số chứng khoán trên thị trường…Mỗi sự thay
đổi của các yếu tố trên đều tác động tích cực hay tiêu cực đến hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
- Do những rủi ro phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh
nghiệp không thể lường trước được như thiên tai, hỏa hoạn, bão lũ….hoặc
những rủi ro kinh doanh làm cho tài sản của doanh nghiệp tổn thất, gây
thiệt hại đến vốn của doanh nghiệp.
- Ngày nay khoa học kỹ thuật đã và đang trở thành lực lượng sản
xuất trực tiếp đối với doanh nghiệp.Doanh nghiệp nào nắm bắt và ứng dụng
kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ có điều kiện thuận lợi
trong cạnh tranh. Nhờ áp dụng kỹ thuật tiến bộ, doanh nghiệp có thể giảm
tiêu hao nguyên vật liệu và có thể sử dụng các loại nguyên vật liệu thay thế
có giá thành hạ hơn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm, góp phần tiết
kiệm chi phí, làm tăng lợi nhuận. Thêm vào đó sự canh tranh khốc liệt của
các doanh nghiệp trên thị trường cũng buộc các doanh nghiệp phải không
ngừng tìm tòi để có những biện pháp quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có
hiệu quả.
* Nhóm nhân tố chủ quan:
24
24
- Do xác định nhu cầu vốn kinh doanh: Nếu các doanh nghiệp xác
định nhu cầu vốn kinh doanh thiếu chính xác thì sẽ dẫn đến tình trạng thừa
hoặc thiếu vốn, làm cho quá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn không
liên tục, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Do lựa chọn phương án đầu tư: Lựa chọn phương án đầu tư là một
nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Nếu doanh nghiệp đầu tư sản xuất ra các sản phẩm, dịch vụ có chất