Phân tích bài thơ “Đồng chí” của
chính Hữu ( Ngữ văn 9 - Tập 1).
HƯỚNG DẪN CÁCH VIẾT:
Bài thơ “Đồng chí” ra đời vào đầu năm 1948, sau
chiến dịch Việt Bắc của quân và dân ta đánh thắng
cuộc tiến công quy mô lớn của thực dân Pháp cuối
năm 1947 lên khu căn cứ địa Việt Bắc. Nhà thơ Chính
Hữu lúc đó là chính trị viên đại đội thuộc trung đoàn
Thủ đô, cùng đơn vị của mình tham gia chiến đấu suốt
chiến dịch. Đầu năm 1948 Chính Hữu viết bài thơ này.
Bài thơ là kết quả của những trãi nghiệm thực va
những cảm xúc sâu xa của tác giả với đồng đội trong
chiến dịch Việt Bắc. Bài thơ nói về tình đồng đội, đồng
chí thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách
mạng mà phần lớn họ xuất thân từ nông dân. Đồng
thời bài thơ cũng thể hện lên hình ảnh chân thực, giản
dị mà cao đẹp của anh bộ đội trong thời kì đầu của
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp còn rất khó
khăn thiếu thốn.
Bài thơ” Đồng Chí” viết theo thể thơ tự do, với hai
mươi dòng thơ, chia làm ba đoạn. Cả bài thơ đều tập
trung vào thể hiện chủ đề về tình”Đồng Chí”.
Cái bắt gặp đầu tiên của những người lính là từ
những ngày đầu gặp mặt. Họ đều có sự tương đồng
về cảnh ngộ nghèo khó ”quê hương anh nước mặn
đồng chua, lành tôi nghèo đất cày lên sỏi đá”. Những
người lính là những người của làng quê nghèo lam lũ,
vất vả với cày cấy, ruộng đồng với những làng quê
khác nhau. Họ từ các phương trời không hề quen
nhau ”từ muôn phương về tụ hội trong hàng ngũ của
“ Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước, gốc đa nhớ người ra lính”
“Đồng chí”- đó là sự cảm thông sâu xa những tâm tư,
nỗi lòng của nhau. Ba câu thơ trên đưa người đọc trở
lại với hoàn cảnh riêng của những người lính vốn là
những người nông dân đó. Họ ra đi trở thành những
người lính nhưng mỗi người có một tâm tư, một nỗi
lòng về hoàn cảnh gia đình, người thân, công việc
đồng quê. Họ gửi lại tất cả cho hậu phương, gửi bạn
thân cày cấy ruộng nương của mình. Họ nhớ lại
những gian nhf trống không “mặc kệ gió lung lay”.
Nhưng đành để lại, đành gửi lại, họ phải ra đi vì nghĩa
lớn “cứu nước, cứu nhà.”
Giờ ở tiền tuyến, họ nhớ về hậu phương với một tình
cảm lưu luyến khó quên. Hậu phương, tiền tuyến
(người ở lại nơi giếng nứơc, gốc đa)không nguôi nhớ
thương người thân của mình là những người lính nơi
tiền tuyến. Tuy dứt khoát, mạnh mẻ ra đi nhưng
những người lính không chút vô tình. Trong chiến đấu
gian khổ, hay trên đường hành quân họ đều nhớ đến
hậu phương- những người thân yêu nhất của mình:
“ Ôi! Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồi hồi nhớ mắt người yêu”
(Nguyễn Đình Thi)
“Đồng chí”-đó là cùng chia sẻ những gian lao, thiếu
thốn của cuộc đời người lính với những hình ảnh
chân thực, xúc động, gợi tả và gợi hình (từng cơn ốm
lạnh sốt run người, vầng trán ướt mồ hôi,áo rách vai,
quần vài mãnh vá, miệng cười buốt giá, chân không
muối” hoang vắng lạnh lẻo nổi bập lên ba hình ảnh
gắn kết với nhau ”vầng trăng khẩu súng và người
lính” vầng trăng như treo khẩu súng của người lính.
Người lính thì “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”.
Câu thơ “đầu súng trăng treo” (chỉ có 4 chữ) gây cho
người đọc một sự bất ngờ lí thú “ súng và trăng” sao
lại hoà quỵên vào nhau đẹp thế! Hình ảnh thơ nói lên
ý nghĩa cao đẹp của cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc
của anh bộ đội cụ Hồ trong những năm đầu khánh
chiến chống Pháp.
Bài thơ có ba khổ, ba tứ thơ, chủ yếu tạo thành ý
chung xuyên suốt toàn bài thơ “Đồng chí”.“Đồng ch í
-thương nhau nắm lấy bàn tay - đầu súng trăng treo”
Bài thư hàm xúc, mộc mạc, chân thực trong sử dụng
ngôn ngữ, hình ảnh, giợi tả, có sức khái quát cao,
khắc hoạ được một trong những phẩm chất tốt đẹp
của anh bộ đôi cụ Hồ. Đó là mối tình đồng chí, đồng
đội gắn bó, keo sơn, thắm đượm tình cảm, gian khổ
có nhau, sống chết có nhau. Bài thơ có thực, có mơ
toạ nên vẻ đẹp của bài thơ, gây cho người đọc những
suy tư sâu sắc những cảm xúc sâu lắng. Bài thơ
“Đồng chí” có những nét thành công trong việc khắc
hoạ hình ảnh người lính cách mạng trong thơ ca
kháng chiến.