Phác đồ nội soi khoang bụng chẩn đoán
trong chấn thương bụng
Mở bụng thám sát đã được thực hiện trong một thời gian khá dài trước đây ở
những bệnh nhân bị chấn thương bụng. Tuy nhiên, phương pháp này cho tỉ lệ
"bụng trắng" khá cao và quan trọng hơn, có thể dẫn đến một số biến chứng sau
mổ. Nội soi khoang bụng chẩn đoán được cho là tránh được việc mở bụng thám
sát không cần thiết, giảm tỉ lệ biến chứng sau mổ, giảm chi phí điều trị.
Kỹ thuật:
Nội soi khoang bụng chẩn đoán thường được tiến hành trong điều kiện bệnh nhân
được gây mê toàn thân. Tuy nhiên, vô cảm vùng kết hợp với việc sử dụng thuốc an
thần đã được chứng minh là an toàn trong một số nghiên cứu. Trước khi tiến hành
thủ thuật, bệnh nhân được đặt thông dạ dày và thông tiểu để giảm bớt áp lực tác
động lên dạ dày và bàng quang. Xanh methylen có thể được cho qua đường tĩnh
mạch, qua thông dạ dày hay thông tiểu để làm tăng cơ hội phát hiện tổn thương.
Phần lớn phẫu thuật viên chọn bơm hơi khoang bụng dưới áp lực thấp (8-12 mm
Hg), tuy nhiên áp lực khoang bụng lên đến 15 mm Hg cũng đã được áp dụng và
không gây một biến chứng nào. Cần cảnh giác với biến chứng tràn khí màng phổi
áp lực có thể xảy ra khi tiến hành bơm hơi khoang bụng, nếu bệnh nhân có tổn
thương cơ hoành.
Việc vào khoang bụng được thực hiện bằng kim veress hay đặt trocar hở. Các
trocar phụ có thể được sử dụng để vén các tạng và thực hiện các thao tác khác.
Việc quan sát khoang bụng phải được thực hiện có hệ thống. Cần di động các đoạn
đại tràng cố định và quan sát cả trong hậu cung mạc nối. Hệ thống hút rửa luôn
cần thiết để cho việc quan sát được dễ dàng hơn.
Nếu có vết thương bụng, vết thương nên được khâu kín để tránh rò khí ra bên
ngoài, và phải đánh giá có tổn thương lá phúc mạc thành hay không.
Ống soi có góc quan sát 30 độ là tốt nhất.
Chỉ định: nghi ngờ có tổn thương nội tạng mà chưa chứng minh được trên bệnh
nhân bị chấn thương bụng kín hay vết thương thấu bụng. Các chỉ định riêng biệt
bụng được cho là cao, với điều kiện người thực hiện thủ thuật nội soi này phải có
kỹ năng và kinh nghiệm chẩn đoán.
Độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác trong chẩn đoán của nội soi khoang bụng
dao động trong khoảng 50-75%. Tỉ lệ này có thể thay đổi phụ thuộc vào một số
yếu tố. Khi nội soi khoang bụng được sử dụng như một phương tiện tầm soát ban
đầu (chẳng hạn phẫu thuật viên sẽ chuyển sang mổ mở ngay khi thấy có dấu hiệu
chỉ điểm thí dụ như lá phúc mạc thành bị thủng trong vết thương bụng, hay máu
đang chảy hay dịch tiêu hóa trong chấn thương bụng kín ), tỉ lệ bỏ sót tổn thương
của nội soi khoang bụng là dưới 1%. Trong trường hợp sử dụng nội soi khoang
bụng để chẩn đoán những tổn thương chuyên biệt hơn (thí dụ chấn thương tụy hay
các tạng sau phúc mạc khác) tỉ lệ bỏ sót tổn thương của nội soi khoang bụng có thể
cao hơn. Trong các nghiên cứu trước đây, nội soi khoang bụng được cho là có độ
nhạy thấp và tỉ lệ bỏ sót tổn thương cao đối với những tổn thương chuyên biệt nêu
trên. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây đã công bố tỉ
lệ bỏ sót tổn thương của nội soi khoang bụng là 0%, ngay cả trong trường hợp nội
soi khoang bụng được sử dụng để chẩn đoán thương tổn chuyên biệt.
Tỉ lệ nội soi khoang bụng âm tính là 57% (17-89%) điều này có nghĩa là khoảng
phân nửa bệnh nhân sẽ tránh được một cuộc mở bụng không cần thiết. Mặt khác,
6% các trường hợp nội soi khoang bụng dương tính được mở bụng nhưng cho kết
quả âm tính. Như vậy nội soi khoang bụng có tỉ lệ dương tính giả là 6%. Trong khi
hầu hết các phẫu thuật viên đều chuyển sang mở bụng khi nội soi khoang bụng
cho kết quả dương tính, một số ít phẫu thuật viên vẫn tiếp tục tiến hành các thủ
thuật can thiệp qua nội soi và cho kết quả thành công là 83%.
Biến chứng và kết quả:
Biến chứng do nội soi khoang bụng có thể lên đến 11% nhưng thường là các biến
chứng nhẹ. Có 37 thử nghiệm trên tổng cộng 1999 bệnh nhân cho tỉ lệ biến chứng
là 1%. Một số nghiên cứu gần đây cho tỉ lệ biến chứng 0%, tỉ lệ tử vong 0%. Các
biến chứng thường gặp là tràn khí màng phổi áp lực do bỏ sót tổn thương cơ
hoành, thủng tạng rỗng, rách tạng đặc. Việc đặt trocar cũng có thể gây tổn thương
mạch máu (hầu hết là động mạch thượng vị và động mạch mạc nối). Tràn khí dưới