………… o0o…………
Tiểu luận khoa học chính trị
Đề tài: “Một số biện pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh
quá trình cổ phần hoá trong một bộ phận
Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta
trong giai đoạn hiện nay”
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
LỜI MỞ ĐẦU
Sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả Doanh nghiệp nhà
nước là một trong những yêu cầu bức thiết của Đảng và Nhà nước ta hiện nay.
Thực tiễn hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hàng chục năm
qua cho thấy mặc dù Doanh nghiệp nhà nước được giao phó vai trò chủ đạo
biện pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá trong một bộ
phận Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay” làm đề
tài nghiên cứu môn học Kinh tế chính trị với mong muốn sẽ hiểu hơn về tiến
trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta. Từ đó thấy được trách
nhiệm và nghĩa vụ của bản thân cần phải làm gì để góp phần thúc đẩy quá
trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam.
Là một sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường, với vốn kiến thức còn hạn
chế, chắc chắn bài viết của em còn nhiều sai sót. Vì thế em rất mong được sự
chỉ bảo, hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn An Ninh để đề án của em
được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn thầy.
Đề án kinh tế chính trị
SV: Hoàng Thị Trang
NI DUNG
I. C S Lí LUN V VIC C PHN HO MT B PHN DOANH NGHIP
NH NC NC TA.
1. Tớnh tt yu phi c phn hoỏ mt b phn doanh nghip nh nc
trưởng cao của nền kinh tế trong những năm qua không có nghĩa là mọi việc
của chúng ta đang tiến triển tốt đẹp. Các tổ chức kinh tế thế giới đã cảnh báo
không ít lần là tốc độ tăng trưởng cao của chúng ta có một nguyên nhân quan
trọng là nền kinh tế có điểm xuất phát thấp.
- Phát triển kinh tế đòi hỏi xoá bỏ bao cấp đổi với Doanh nghiệp nhà
nước. Hiện nay mối quan hệ giữa Nhà nước và các Doanh nghiệp nhà nước
hoàn toàn không rõ ràng. Nhà nước không nắm rõ ở mỗi thời điểm tổng số
doanh nghiệp của mình là bao nhiêu, chứ chưa nói đến các chỉ tiêu phức tạp
như vốn nằm ở đâu, tăng giảm như thế nào, hiệu quả sử dụng ra sao? Để duy
trì doanh nghiệp kém hiệu quả, Nhà nước đã sử dụng hàng loạt các biện pháp
bao cấp trực tiếp và gián tiếp như : xoá nợ, khoanh nợ, tăng vốn, ưu đãi tín
dụng, tính chi phí không đầy đủ… và cuối cùng, không ai biết Doanh nghiệp
nhà nước nuôi xã hội hay xã hội phải nuôi Doanh nghiệp nhà nước. Không
nên quên rằng Doanh nghiệp nhà nước là phương tiện chứ không phải mục
đích. Không thể lấy tiền của dân chúng để nuôi một vài doanh nghiệp thua lỗ
triền miên, nhưng đã được các cơ quan chủ quản hà hơi tiếp sức hết đợt này
đến đợt khác, với lý do cố vực dậy, lý do bảo vệ người lao động. Nhưng tiền
bao cấp cho doanh nghiệp chính là thuế mà dân chúng đóng góp, trong đó có
không ít người còn sống trong cảnh đói nghèo. Nhà nước phải là của toàn dân
chứ không phải của riêng các Doanh nghiệp nhà nước, và Nhà nước cần hành
động vì lợi ích của toàn dân chứ không phải chỉ riêng lợi ích của những người
trong Doanh nghiệp nhà nước.
- Cạnh tranh với khu vực tư nhân. Yêu cầu đổi mới còn xuất phát từ
việc cạnh tranh với khu vực tư nhân đang hồi sinh nhanh chóng. Mặt khác,
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
trong quá trình hội nhập, Doanh nghiệp nhà nước không phải chỉ cạnh tranh
với các doanh nghiệp tư nhân trong nước mà với cả các doanh nghiệp tư nhân
rất mạnh của nước ngoài. Cạnh tranh trong nước và quốc tế không chấp nhận
việc Nhà nước giữ độc quyền cho các doanh nghiệp của mình. Cạnh tranh
Nhìn bề ngoài, cổ phần hoá là quá trình xác định lại mục tiêu phương
hướng kinh doanh, nhu cầu vốn điều lệ và chia ra thành cổ phần. Đánh giá lại
tài sản của doanh nghiệp, quyết định mức vốn Nhà nước giữ cần nắm giữ và
rao bán rộng rãi phần còn lại. Qua đó làm thay đổi cơ cấu sở hữu, huy động
tiền vốn, xác lập cụ thể những người tham gia làm chủ, được chia lợi nhuận
và chuyển Doanh nghiệp nhà nước thành Công ty cổ phần, thuộc sở hữu của
tập thể cổ đông và chuyển sang hoạt động theo Luật của doanh nghiệp.
Song để hiểu rõ thực chất của cổ phần hoá, cần thấy rằng trong công ty
cổ phần, trên cơ sở vốn điều lệ được chia ra thành nhiều phần, thì quyền lợi
và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng được phân ra thành
những đơn vị có cơ cấu sở hữu. Sở dĩ cổ phần hoá có thể nâng cao hiệu quả
hoạt động của các Doanh nghiệp nhà nước là do qua cổ phần hoá, cơ cấu sở
hữu của doanh nghiệp đã thay đổi, dẫn tới cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền
lợi và trách nhiệm đối với kết quả sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo, từ
đó tạo ra một cơ cấu động lực có chủ thể rõ ràng và hợp lực mới mạnh mẽ
hơn; đồng thời chuyển doanh nghiệp sang vận hành theo cơ chế quản lý mới,
tự chủ, năng động hơn, nhưng có sự giám sát rộng rãi và chặt chẽ hơn.
Cho nên, thực chất cổ phần hoá nói chung là giải pháp tài chính và tổ
chức, dực trên chế độ cổ phần nhằm đổi mới cơ chế và cơ cấu phân chia
quyền lợi và trách nhiệm gắn chặt với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Cổ phần hoá theo phương thức hiện hành là giải pháp nhằm làm thay
đổi cơ cấu sở hữu, dẫn tới thay đổi cơ cấu và cơ chế thực hiện quyền lợi và
trách nhiệm từ chỗ chỉ có Nhà nước nắm quyền và chịu trách nhiệm chuyển
sang chia sẻ kết quả kinh doanh, cả quyền lợi và trách nhiệm, lợi nhuận và rủi
ro cho những người tham gia góp vốn, do đó tạo ra động lực, trách nhiệm và
hiệu quả doanh nghiệp.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
Trên cơ sở mục đích của cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước là nhằm
chuyển doanh nghiệp từ một chủ sở hữu sang doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu,
nhà nước ít quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp nhà
nước nơi mình đang làm việc. Lý do đơn giản là họ vẫn có lương ngay cả khi
Doanh nghiệp nhà nước đã bên bờ phá sản. Rõ ràng, vấn đề lợi ích, đặc biệt là
lợic ích sở hữu trong Doanh nghiệp nhà nước chính là cội nguồn của những
căn bệnh mà chúng gặp phải.
Cải cách Doanh nghiệp nhà nước có thể tiến hành bằng nhiều cách khác
nhau như: bán Doanh nghiệp nhà nước, cho thuê Doanh nghiệp nhà nước, cải
cách cơ chế quản lý Doanh nghiệp nhà nước… Cổ phần hoá Doanh nghiệp
nhà nước chỉ là một trong những giải pháp sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu
quả Doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội
của nước ta trong thập kỷ vừa qua cho thấy cổ phần hoá là giải pháp phù hợp
với nền kinh tế nước ta trong giai đoạn phát triển hiện nay.
Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam bắt đầu được thực
hiện thí điểm thí điểm từ năm 1990. Cơ sở pháp lý cho việc thực hiện chương
trình này là Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 của Hội đồng bộ
trưởng và sau đó được thực hiện với quy mô rộng hơn. Việc chuyển sang nền
kinh tế thị trường được Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) khởi xướng đã tạo ra
những điều kiện để cải cách triệt để hơn đối với Doanh nghiệp nhà nước,
thông qua việc cổ phần hoá chúng. Sở dĩ cổ phần hoá được coi là giải pháp
triệt để vì nó giải quyết được căn nguyên của những yếu kém trong tổ chức
quản lý và hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước – đó là vấn đề sở hữu.
Những giải pháp cải cách Doanh nghiệp nhà nước khác chỉ động chạm đến cơ
chế quản lý theo hướng tăng cường quyền tự chủ của của Doanh nghiệp nhà
nước trong một hoặc một số lĩnh vực cụ thể. Cổ phần hoá doanh nghiệp chấp
nhận sự dung hoà của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong bản thân các
thực thể kinh tế vĩ mô mà trước hết là trong các doanh nghiệp. Cổ phần hoá
Doanh nghiệp nhà nước là giải pháp làm thay đổi kết cấu sở hữu của chúng,
điều mà trước đổi mới ít ai dám nghĩ đến chứ chưa nói là triển khai nó.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
Như vậy, không phải tất cả các Doanh nghiệp nhà nước cần phải đổi mới
bằng giải pháp cổ phần hoá, mà chỉ có một bộ phận doanh nghiệp. Bộ phận
doanh nghiệp ấy là gì? Căn cứ vào tình hình thực tế ở Việt Nam, Doanh
nghiệp nhà nước được chọn lựa cổ phần hoá phải có đủ ba điều kiện sau đây:
- Là những doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Không thuộc diện những doanh nghiệp cần thiết giữ 100% vốn đầu
tư Nhà nước.
- Có phương án kinh doanh hiệu quả.
Ngoài ra, đối với các doanh nghiệp lớn (Tổng công ty Nhà nước) cũng
có thể thực hiện cổ phần hoá theo phương thức phát hành cổ phiếu theo quy
định nhằm thu hút thêm vốn để phát triển sản xuất trong khi vẫn giữ nguyên
giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp. Theo tinh thần nghị quyết 28/CP các
doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có tổng số vốn từ 300 tỷ
đồng trở xuống và có số lao động dưới 1000 người, không kể số lao động làm
hợp đồng theo thời vụ. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ không chỉ dễ xác định
giá trị tài sản hơn các doanh nghiệp có quy mô lớn mà còn phù hợp với sức
mua của cán bộ công nhân viên tại nhiệm sở và trong ngành.
3. Mục tiêu cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước
Đại hội Đảng lần thứ VIII (1986) đã khẳng định “Triển khai tích cực và
vững chắc việc cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước để huy động vốn, tạo
thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả làm cho tài sản Nhà
nước ngày càng tăng lên chứ không phải tư nhân hoá”
Nghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính Phủ về việc
chuyển một số Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần đã nêu rõ:
chuyển Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần nhằm các mục tiêu:
- Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh
tế, tổ chức xã hội trong nước và nước ngoài để đầu tư đổi mới công nghệ tạo
thêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ
cấu Doanh nghiệp nhà nước.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
phương tiện thiết yếu để đạt tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế mà thôi.
Nếu không được quản lý sử dụng tốt số vốn được huy động đó cũng không
thể mang lại hiệu quả mong đợi.
Theo những lập luận trên, mục tiêu hàng đầu có là thúc đẩy nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cơ sở đảm bảo vai trò làm chủ thực sự của
những người sở hữu tài sản. Huy động thêm vốn bằng cổ phần và phát hành
cổ phần là điều kiện cần thiết để tạo thành những người chủ đích thực của
doanh nghiệp phụ thuộc chủ yếu vào sử dụng vốn hiện có và huy động vốn
thêm.
Cổ phần hoá một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước chỉ là một chủ trương
lớn của Đảng va Nhà nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành
Trung ương khoá VII đã nêu rõ: “Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có
điều kiện thành công ty cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ
phần mới”.
Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 17/3/1995 của Bộ chính trị đã nêu “thực
hiện từng bước vững chắc việc cổ phần hoá một bộ phần doanh nghiệp không
cần Nhà nước đầu tư 100% vốn. Tuỳ tính chất, loại hình doanh nghiệp mà
tiến hành bán một tỉ lệ cổ phần cho công nhân viên chức làm việc tại doanh
nghiệp để tạo động lực bên trong trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán cổ phần
cho tổ chức hay cá nhân ngoài quốc doanh để thu hút vốn, mở rộng quy mô
kinh doanh”. Như vậy, Nghị quyết của Đảng chỉ ra mục tiêu, đồng thời cũng
nêu khái quát hình thức, mức độ cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước.
4. Tiền đề để cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước.
- Điều kiện và môi trường pháp lý về cơ bản đã được xác lập đặt tất
cả các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường. Việc thực hiện “thương
mại hoá” các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong nền
kinh tế là tiền đề cơ bản và cần thiết để từng bước thực hiện cổ phần hoá các
Doanh nghiệp nhà nước.
hàng kinh doanh của nước ngoài tại Việt Nam góp phần tạo môi trường và
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư bằng cổ phiếu vào các Doanh nghiệp
nhà nước sẽ được tiến hành cổ phần hoá.
- Ngoài ra với những kinh nghiệm thực tiễn phong phú của các nước
trên thế giới trong quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước sẽ là những
bài học bổ ích và quý giá để Nhà nước tiến hành hoạch định chính sách và tổ
chức thực hiện công việc cổ phần hoá các Doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam.
- Ngoài ra, ngày nay chúng ta còn có những điều kiện thuận lợi để
đẩy mạnh cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước. Đó là những khó khăn gặp
phải trong thời gian đầu thực hiện thí điểm cổ phần hoá đã dần được khắc
phục, có thể kể đến như chúng ta đã có một thị trường chứng khoán thực sự,
tuy chưa phát triển sôi động như các nước phát triển và khu vực, nhưng đó
cũng là môi trường để thực hiện cổ phần hoá. Các Doanh nghiệp nhà nước
hiện nay hầu hết đều trang bị máy móc, công nghệ hiện đại, khả năng cạnh
tranh cao… do đó có thể tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp này. Bên
cạnh đó tình hình chính trị quốc gia ổn định tạo niềm tin thu hút các nhà đầu
tư nước ngoài…
Với những tiền đề như thế thì quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà
nước của chúng ta đã diễn ra như thế nào? Chúng ta đã làm được những gì và
còn hạn chế gì? Để từ đó có biện pháp thích hợp thúc đẩy nhanh hơn nữa quá
trình cổ phần hoá.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
II. THỰC TRẠNG CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM.
1. Quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.
Từ đầu thập kỷ 90, cùng với đổi mới các chính sách kinh tế - xã hội,
Đảng ta đã có chủ trương chuyển một bộ phận Doanh nghiệp nhà nước thành
100
250
212
204
164
532
753
754
Tổng 2987
Qua những con số trên thấy rõ tiến trình cổ phần hoá đã trải qua những
bước thăng trầm, nhưng nói chúng là theo xu hướng mỗi ngày càng được đẩy
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
mạnh. Từ chỗ thực hiện chậm chạp trong những năm đầu (mỗi năm vài ba
doanh nghiệp đến vài trăm) và cho đến ba năm gần đây tiến trình cổ phần hoá
được đẩy mạnh hơn, do đó số lượng doanh nghiệp được cổ phần hoá tương
đối nhiều.
Theo báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, hình
thức cổ phần hoá phổ biến nhất là bán một phần vốn nhà nước có tại doanh
nghiệp kết hợp phát hành thêm cổ phiếu (chiếm 43,4%) tiếp đó là bán một
phần vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp (26%) còn lại là bán toàn bộ vốn
Nhà nước tại doanh nghiệp (15,5%) và giữ nguyên vốn Nhà nước và phát
hành thêm cổ phiếu (15,1%). Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hoá,
ngành công nghiệp giao thông vận tải và xây dựng chiếm tỷ trọng 65,5%,
thương mại dịch vụ chiếm 28,7% và ngành nông - lâm - ngư ngiệp chiếm
5,8%. Nếu phân chia theo địa phương thì tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương chiếm 65,7%, bộ ngành TW chiếm 25,8%, tổng công ty 91 chiếm 8,5%.
Năm 2005 đã xuất hiện một điểm sáng mới cần được nhấn mạnh là trong
số doanh nghiệp cổ phần hoá đã có nhiều doanh nghiệp làm ăn khá, quy mô
sau ngày một tiến bộ. Tiến hành cổ phần hoá không chỉ được thực hiện đối
với từng doanh nghiệp thành viên mà còn triển khai đối với toàn tổng công ty.
Đến nay đã có Nghị quyết phê duyệt cổ phần hoá 5 tổng công ty, trong đó có
các Tổng công ty thương mại - Xây dựng, Điện tử - Tin học, Vinaconex và
Bảo Việt.
Thứ ba, việc cổ phần hoá không chỉ nhằm thu hút vốn của các nhà đầu
tư, của những người trong doanh nghiệp mà còn thu hút vốn của những người
nông dân cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, chuyển họ thành
những cổ đông, gắn bó họ với sự phát triển của doanh nghiệp.Công ty mía
đường lam Sơn và công ty mía đường La Ngã đã thực hiện cổ phần hoá theo
hướng đó. Ở Tổng công ty mía đường Lam Sơn, Nhà nước giữ 46%, nông
dân trong mía và cổ đông ngoài doanh nghiệp mua 26% (trong đó có 40.000
cổ phần ưu đãi cho người trồng mía), người lao động trong doanh nghiệp mua
24% cổ phần. Ở Tổng công ty mí đường La Ngã Nhà nước giữ 35%, nông
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
dân tròng mía và cổ đông ngoài doanh nghiệp mua 25% (trong đó có 15.000
cổ phần ưu đãi cho người trồng mía), người lao động trong doanh nghiệp 40%
cổ phần. Sau 5 năm cổ phần hoá (từ năm 2000 đến năm 2005) nộp ngân sách
tăng từ 10 tỷ lên 38 tỷ đồng và lợi nhuận đạt tới 77,5 tỷ đồng và cổ tức là
20%/năm.
Thứ tư, là việc chuyển từ cổ phần hoá thưo hướng cơ bản khép kín, nội
bộ sang hình thức đấu giá công khai, bán cổ phần ra bên ngoài để thu hút nhà
đầu tư trong và ngoài nước. Đây được coi là sự chuyển biến “có chất” nhất
thể hiện sự thay đổi căn bản quan điểm và chủ trương về cổ phần hoá, góp
phần tạo ra sức bật mạnh mẽ để đẩy nhanh, mạnh tiến trình cải cách hệ thống
Doanh nghiệp nhà nước một cách công khai, minh bạch và tạo điều kiện cho
các thành phần kinh tế trong và ngoài nước cùng tham gia. Trong đợt đấu giá
cổ phiếu đầu tiên của công ty sữa Việt Nam đã thu hút được các nhà đầu tư
chiến lược nước ngoài và họ đã mua tới gần 80% tổng số cổ phần bán ra.
hoạt động ổn định, tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp được duy trì, doanh
thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận trước thuế tăng 9,4%, lợi nhuận sau thuế
tăng tới 54,4%. Một số doanh nghiệp có doanh thu tăng cao như công ty cổ
phần đại lý liên hiệp vận chuyển: 30 lần, công ty cổ phần cơ điện lạnh: 13 lần,
công ty cổ phần Kim Đan: 11,2 lần…
Thứ ba, một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp sau cổ phần hoá đều tăng; năng suất lao động tăng bình quân
63,9%; mức nộp ngân sách tăng bình quân 26,53%; thu nhập bình quân tháng
của lao động tăng 34,5% so với trước khi cổ phần hoá. Điều đó khẳng định
hiệu quả của việc chuyển đổi các Doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ
phần.
Thứ tư, sau cổ phần hoá các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh
doanh, tạo thêm công ăn việc làm, thu hút thêm lao động, số lao động trong
các doanh nghiệp cổ phần hoá phát triển bình quân tăng 6,6%. Cổ tức bình
quân của các doanh nghiệp đạt 17,11% cao hơn nhiều so với lãi suất.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
Thứ năm, vốn huy động được từ việc bán cổ phiếu cũng tăng đáng kể.
Vốn bình quân một doanh nghiệp tăng từ 24 tỷ đồng (năm 2001) lên 63,6 tỷ
đồng (năm 2004). Đây là yếu tố đầu vào rất quan trọng để mở rộng sản xuất
kinh doanh mang lại lợi nhuận cao hơn nữa cho doanh nghiệp, tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho người lao động, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp
trong xã hội hiện nay.
Qua nghiên cứu, khảo sát các doanh nghiệp sau cổ phần hoá của Bộ Kế
hoạch và Đầu tư cho thấy việc thay đổi mô hình hoạt động của cán bộ quản lý
và người lao động đã có tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp. Cán bộ quản lý và người lao động đã thật sự gắn bó với doanh
nghiệp, nhờ vậy mà hiệu quả kinh doanh tăng lên. Có 96% số doanh nghiệp
cho rằng cán bộ quản lý đã quan tâm nhiều hơn đến hiệu quả sản xuất kinh
doanh, 88% số doanh nghiệp khẳng định kết quả sản xuất của người lao động
135 ngày
2
Bắt đầu định giá - quyết định giá trị doanh
nghiệp
135 ngày
3
Quyết định giá trị doanh nghiệp – phê
duyệt phương án cổ phần hoá
66 ngày
4
Phê duyệt phương án cổ phần hoá - bắt
đầu bán cổ phần
24 ngày
5
Bắt đầu bán cổ phần – hoàn thành bán cổ
phần
38 ngày
6 Hoàn thành bán cổ phần - đại hội cổ đông 15 ngày
7 Đại hội cổ đông - đăng ký kinh doanh 24 ngày
8 Tổng cộng 437 ngày
Việc cổ phần hoá các Tổng công ty diễn ra rất ì ạch. Đã có chủ trương
cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và Ngân
hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long từ 2 năm nay nhưng nay mới
nhỉ dừng lại ở mức chuẩn bị : vạch lộ trình và cách thức cổ phần hoá và dự
kiến đến hết năm 2007 mới có thể tiến hành Đại hội cổ đông. Cổ phần hoá
Tổng công ty Xuất khẩu xây dựng (VINACONEX) cũng nằm trong tình trạng
tương tự.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: Hoµng ThÞ Trang
SV: Hoµng ThÞ Trang
cán bộ cũ của Doanh nghiệp nhà nước chuyển sang, không có thêm những
khuôn mặt mới với tư cách tư duy theo lối mới để đem lại sức sống mới cho
công ty cổ phần. Việc Nhà nước nắm giữ 51% vốn diều lệ tại khá nhiều công
ty cổ phần là một cái cớ để các cơ quan quản lý Nhà nước tiếp tục can thiệp
vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hội đồng quản trị
không thực hiện hết chức năng của công ty cổ phần theo luật định mà chủ yếu
tập trung theo sự chỉ đạo của Nhà nước. Lãnh đạo công ty không đại diện cho
cổ đông có sở hữu vốn lớn mà chủ yếu Nhà nước định hướng tham gia quản
lý. Những điều đó dẫn đến tình trạng là doanh nghiệp cổ phần hoá nào mà
Nhà nước nắm cổ phần chi phối thì hoạt động khó khăn hơn trước.
- Việc thực hiện chính sách đối với người lao động có những bất cập.
Thực tế là nhiều doanh nghiệp không đủ kinh phí để giải quyết chính sách cho
người lao động, không lo được việc làm cho họ. Ngược lại ở một số đơn vị
làm ăn có hiệu quả, có phúc lợi để giải quyết chính sách trợ cấp mất việc do
sắp xếp lại thì người lao động lại không muốn nghỉ theo chế độ. Chính vì vậy
tỷ lệ người lao động được giải quyết nghỉ theo chế độ sau khi Doanh nghiệp
nhà nước chuyển sang công ty cổ phần vẫn còn rất thấp so với số lượng cần
phải giải quyết. Trong một số Doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá,
đặc biệt là trong những doanh nghiệp có những lợi thế về vị trí địa lý đã xuất
hiện hiện tượng một số kẻ đầu cơ đã tìm cách mua lại những cổ phiếu mà
người lao động trong doanh nghiệp đã được mua với giá ưu đãi. Người lao
động do chưa ý thức được ý nghĩa của việc sở hữu cổ phần trong doanh
nghiệp, đồng thời cũng không nắm được giá trị thực của cổ phần mà mình sở
hữu, nên đã bán cổ phần lại cho những người đầu cơ để hưởng chênh lệch.
Điều này không những gây thiệt hại cho Nhà nước, cho bản thân người lao
động mà còn ảnh hưởng đến một trong những mục đích quan trọng của cổ
phần hoá là tạo động lực quản lý cho doanh nghiệp khi người lao động trong
doanh nghiệp thực sự là người chủ.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ