Tiểu luận khoa học chính trị
Đề tài “Vai trò kinh tế của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng
XHCN ở nước ta hiện nay” §Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
1
2
Từ những lý do trên em lựa chọn đề tài : “Vai trò kinh tế của Nhà nước
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay”
Đi theo những định hướng nội dung mà thầy giáo đã cung cấp, em sẽ cố
gắng nêu được trọn vẹn bốn ý chính:
- Làm rõ tính tất yêu khách quan vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối
với nền kinh tế.
- Làm rõ những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường theo đinh
hướng XHCN ở nước ta.
- Phân tích những mục tiêu và chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước.
- Nêu được một số giải pháp cơ bản nhằm đổi mới và tăng cường vai trò
kinh tế của Nhà nước ta hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu về đề tài này, em đã cố gắng hết sức, song
em tin chắc mình không thể tránh khỏi những thiếu xót. Dù vậy, em cũng
mong rằng bài viết của em được kết quả tốt, được thầy giáo đánh giá cao.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
3
PHẦN I
Lí LUẬN CHUNG VỀ VAI TRề KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN
trong tiến trình phát triển khách quan về kinh tế trong xã hội loài người.
* Những điều kiện bảo đảm cho nền KTTT hình thành và phát triển:
Thứ nhất : Phải có nền KTHH phát triển, đIều đó có nghĩa là phải có
sự phân công lao động xã hội phát triển, có các hình thức, các loại hình sở
hữu khác nhau về tư liệu sản xuất.
Thứ hai : Phải có sự tự do trong trao đổi hàng hoá trên thị trường, tự
do lựa chọn bạn hàng giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Trong một nền kinh tế có nhiều chủ thể cùng sản xuất một loại sản
phẩm; và ngược lại mỗi chủ thể sản xuất và tiêu dùng cũng cần nhiêu loại
hàng hoá khác nhau. Việc tự do lựa chọn, xây dựng các mối quan hệ bạn
hàng là điều kịên không thể thiếu được để các chủ thể kinh tế lựa chọn cho
mình những phương án tối ưu. Đó là một điều kiện rất quan trọng bảo đảm
cho nền KTTT phát triển.
Trước đây trong đIều kiện nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, toàn bộ
yếu tố đầu vào, đầu ra, sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, bằng cách nào và
phân phối theo địa chỉ nào…tất cả đều theo một hệ thống pháp lệnh chi tiết,
cụ thể theo kế hoạch. Do vậy các quan hệ thị trường trao đổi ngang giá
không còn đúng nghiã nữa mà biến dạng đi rất nhiều.
Thứ ba : Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải tuân theo những quy luật
của thị trường, theo giá cả thị trường.
+ Quy luật giá trị đòi hỏi : hao phi lao động cá biệt của mỗi đơn vị sản
phẩm của chủ thể sản xuất kinh doanh bất kì phải nhỏ hơn hao phí lao động
xã hội để sản xuất ra đơn vị sản phẩm cùng loại trong cùng một thời gian và
không gian nhất định. Đó là điều kiện tiên quyết cho các chủ thể sản suất
kinh doanh tồn tại và phát triển.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
5
+Trong nền KTTT, một sản phẩm hàng hoá trao đổi phải thông qua giá
được nâng lên bao hàm một sự biến đổi căn bản trong các hình thức tổ chức
thị trường về cơ cấu quản lý KTTT. Sự tác động qua lại và quy định lẫn nhau
đó, theo nguyên tác tự dovà được kết hợp chặt chễ theo khuôn khổ mục tiêu
của nền KTTT có sự quản lý của Nhà nước.
*Giai đoạn 3: Những yếu tố mới của sự tiến bộ xã hội (khoa học công
nghệ, dân trí, quốc tế hoá) càng đòi hỏi ở nền KTTT sự phát triển cao, tính xã
hội của nền KTTT càng tăng ,vai trò cuả Nhà nước càng lớn và tương ứng
với nó là sự thay đổi phương thức quản lý thích hợp.
3. Những ưu, khuyết điểm của nền KTTT.
a/ Những ưu điểm của nền KTTT.
Thứ nhất: Thúc đẩy sản xuất, gắn sản xuất với tiêu thụ-mục tiêu của sản
xuất. Do đó người ta tìm mọi cách rút ngắn chu kì sản xuất, thục hiện tái sản
xuất mở rộng, áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ…nhằm đat được
lợi nhuận tối đa
Thứ hai: Thúc đẩy và đòi hỏi các nhà sản xuất năng động thích nghi
với các điều kiện biến động của thị trường. Thay đổi mẫu mã sản xuất, tìm
mặt hàng mới và thị trường tiêu thị, mở rộng quan hệ trong kinh doanh, tìm
cách đạt lợi nhuận tối đa.
Thứ ba: Thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học công nghệ, kích thích tăng
năng suất lao động , nâng cao trình độ xã hội hoá sản xuất và nâng cao chất
lượng sản phẩm, hạ giá thành, đáp ứng yêu cầu nhiều mặt của khách hàng và
của thị trường
Thứ tư: Thúc đẩy sự tăng trưởng dồi dào của sản phẩm hàng hoá dịch
vụ, thúc đẩy và kích thích sản xuất hàng hoá phát triển, đề cao trách nhiệm
của nhà kinh doanh đối với khách hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
7
và chu kỳ kinh doanh là những căn bênh kinh niên không thể khắc phục được
nếu không có sự can thiệp của Nhà nước.
Thêm nữa, trong nền KTTT thường tồn tại những ngành nghề kinh tế
thiếu sự cạnh tranh vì ở đó có mức lợi nhuận thấp, số vốn đầu tư lớn, thời
gian thu hồi vốn rất chậm nhưng rất cần cho sự ổn định phát triển kinh tế và
rất cần cho việc giải quyết những vấn đề xã hội như: y tế, giáo dục, xây dựng
cơ sở hạ tầng, các công trình công cộng khác.
Qua trên ta thấy, nền KTTT có khả năng tập hợp tự động được hành động,
trí tuệ và tiềm lực của hàng triệu con người và hướng đến lợi ích chung của
cả xã hội. Nhưng nền KTTT không phải là một hệ thống được tổ chức hài
hoà mà trong hệ thống đó cũng chứa đựng rất nhiều các yếu tố phức tạp và
nan giải. Vì vậy để khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của cơ chế thị
trường (CCTT) cần thiết phải có sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế.
Từ đó hình thành khái niệm CCTT có sự quản lý của nhà nước. Đó là một
dạng đặc biệt của loại hình KTTT. Nếu như sự vận động của nền KTTT
truyền thống, cổ điển, hoang dã tuân theo sự điều khiển của “bàn tay vô hình”
cung_cầu_giá cả thì sự vận động của nền KTTT có sự quản lý (điều khiển,
điều tiết) của Nhà nước tuân theo sự điều khiển song hành, tức là sự tác động
cùng một lúc của hai yếu tố :Yếu tố tự vận động bởi quan hệ cung_cầu và yếu
tố nhà nước tức là vai trò của Nhà nước trong việc quản lý nền kinh tế. Theo
bản chất của mình, nền KTTT có sự quản lý của nhà nước không chỉ vận
động theo CCTT, cũng không chỉ vận động theo cơ chế chỉ huy mà vận động
bởi sự tác động đồng thời của hai cơ chế ấy. Chính vì vậy người ta gọi đó là
cơ chế hỗn hợp. Như vậy, nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế vận động theo
CCTT có sự quản lý của Nhà nước.
Trong KTTT, Nhà nước với tư cách là người điều hành, quản lý xã hội,
đồng thời là khách hàng lớn của các chủ thể kinh tế. Nhà nước thường bảo
đảm các dịch vụ bưu điện, thông tin liên lạc, phát thanh, truyền hình, giao
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
10
tự do hoá thương mại và tự do hoá giá cả là khâu trung tâm đột phá; từng
bước chuyển lên CCTT đích thực.
Cơ chế đó là phát huy vai trò điều tiết của thị trường, hình thành bước
đầu một thị trường canh tranh, làm cho hàng hoá được lưu thông thông suốt,
cung cầu được cân đối, khắc phục tình trạng khủng hoảng thiếu, giá cả ổn
định dần, lạm phát được ngăn chặn.
CCTT đã góp phần thúc đẩy việc phải xử lý những vấn đề mấu chốt
làm đảo lộn cả hệ thống tư duy và quan điểm kinh tế cũ như vấn đề sở hữu,
với sự thừa nhận và đánh giá cao chính sách kinh tế nhiều thành phần,
chuyển từ thái độ kỳ thị và phân biệt đối xử với kinh tế tư nhân sang chính
sách đối xử binh đẳng; đồng thời cũng xác định được những biện pháp nâng
cao hiệu quả của khu vực kinh tế quốc doanh cho phù hợp với thực tiễn nước
ta.
Cơ chế tài chính, tiền tệ, tín dụng, giá cả, lãi suất đã từng bước được
đổi mới đặc biệt cơ chế giá và tỉ giá được hình thành thông qua thị trường đã
tạo ra bước ngoặt trong cơ chế kinh tế.
b/ CCTT còn thiếu đồng bộ, mang nhiều yếu tố tự phát, rối loạn-sản phẩm
của một nền kinh tế cơ bàn là sản xuất nhỏ, của sự yếu kếm của bộ máy quản
lý Nhà nước, tình trạng quan liêu thiếu hiểu biết, thậm chí trì trệ bảo thủ
trước bước ngoặt chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế.
Trước hết có thể thấy thể chế thị trường chưa tạo môi trường ổn định
và an toàn cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt những yếu kém trong thể chế tài
chính tín dụng là lực cản của quá trình chuyển đổi.
CCTT còn thiếu đồng bộ, có sự không ăn khớp giữa hai thị trường: thị
trường hàng hoá thì phát triển khá mạnh mẽ trong khi thị trường các nhân tố
sản xuất thì có sự lạc hậu khá lớn.
thị trường.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
12
Đảng ta khảng định vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm chính
sách xã hội, xử lý hài hoà giữa tăng trưởng và ổn đinh; giữa phát triển kinh tế
với việc thực hiện những chính sách xã hội và công bằng xã hội. Thêm nữa
để tiếp tự thực hiện phương châm ổn định để phát triền, Nhà nước ta phải đổi
mới hơn nữa, nhận thức rõ vai trò của mình trong điều kiện mới, phải thay
đổi chất lượng, tác phong của bộ máy, chuyển tử tác phong chỉ huy mệnh
lệnh sang tác phong hỗ trợ, tạo môi trường phuận lợi cho thị trường phát
triển. Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của Nhà nước XHCN trong
hoạt động của thị trường nước ta.
2. Đặc trưng cơ bản của nền KTTT theo định hướng XHCN ở Việt Nam.
Nền KTTT định hướng XHCN cũng có tính chất chung của nền kinh
tế, nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của KTTT như quy luật
giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh. Thị trường có vai trò quyết
định trong việc phân phối các nguồn lực kinh tế. Giá cả do thị trường quyết
định Nhà nước thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô để giảm bớt những thất bại
của thị trường.
Nhưng bất cứ nền KTTT nào cũng hoạt động trong những điều kiện
lịch sử-xã hội của một nước nhất định nên nó bị chi phối bởi những điều kiện
lịch sử và đặc biệt là chế độ xã hội của nước đó, và do đó có những đặc điểm
riêng phân biệt với nền KTTT của các nước khác. Nền KTTT định hướng
XHCN ở Việt Nam có những đặc trưng sau đây.
Thứ nhất : Nền kinh tế dựa trên cơ sở cơ cấu đa dạng về hình thức sở
hữu. Trong đó sở hữu Nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Do đó nền kinh tế gồm
nhiều thành phần,trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.
Trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, thành phần kinh tế
nhập. Chỉ có như vậy mới khai thác được khả năng cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần kinh tế, huy động được mọi nguồn lực của đất nước vào phát triển
kinh tế.
Thứ ba : ở nước ta, cơ chế vận hành nền kinh tế là CCTT có sự quản
lý của nhà nước theo định hướng XHCN cũng vận động theo những quy luật
kinh tế nội tại của nền kinh tế thị trường nói chung, thị trường có vai trò
quyết định đối với việc phân phối nguồn lực kinh tế. Sự quản lý nhằm hạn
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
14
chế, nhằm khắc phục những thất bại của thị trường, thực hiện mục tiêu xã hội
nhân đạo mà bản thân thị trường không thể làm được.
Thứ tư : Nền kinh tế thị trường ở nước ta là nền kinh tế mở, hội nhập
với kinh tế thế giới và khu vực, thị trường trong nước gắn với thị trường thế
giới, thực hiện những thông lệ trong quan hệ kinh tế thế giới, nhưng vẫn giữ
được độc lập chủ quyền và bảo vệ được lợi ích quốc gia dân tộc trong quan
hệ kinh tế đối ngoại. Thực ra đây không phải là đặc trưng riêng của kinh tế
thị trường định hướng mà là xu hướng chung của nền kinh tế thế giới hiện
nay. Trong điều kiện hiện nay chỉ có mở cửa kinh tế hội nhập vào kinh tế thế
giới và khu vực mới thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ hiện đại, kinh
nghiệm quản lý tiên tiến để khai thác tiềm năng và thế mạnh của nước ta,
thực hiện phát triển kinh tế thị trường theo kiểu rút ngắn. thực hiện mở cửa
kinh tế theo hướng đa phương hoá và đa dạng hoá. Các hình thức kinh tế đối
ngoại hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản
phẩm kỳ mức sản xuất có hiệu quả.
PHẦN II
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ
QUẢN LÝ KINH TẾ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KTTT.
giảm so với cùng kỳ như quần áo may sẵn tăng 13,9%; máy biến thế tăng gần
8%; ắc quy tăng 9%, động cơ diezen giảm gần 12%; vải lụa thành phẩm tăng
2,8%; quần áo dệt kim giảm 7,4% …
Nhiều sản phẩm vẫn có mức chi phí sản xuất cao nên khả năng cạnh tranh của
sản phẩm gặp khó khăn.
Một số tỉnh, thành phố lớn có tỷ trọng công nghiệp cao nhưng mức tăng
trưởng thấp hơn mức tăng chung của toàn ngành (Hà Nội tăng 14,4%; Đà
Nẵng tăng 15,2%, thành phố Hồ Chí Minh tăng 13,8%).
1.2. Nông nghiệp.
Trong tháng 2 cả nước tập trung gieo cấy lúa Đông xuân, gieo trồng
cây ngắn ngày và rau đậu vụ đông. Tính đến ngày 15 tháng 2, cả nước đó gieo
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
16
cấy được gần 2.475 nghỡn ha lỳa Đông Xuân, bằng 103,9% so với cùng kỳ
năm trước, trong đó các tỉnh miền Bắc gieo cấy được gần 702 nghỡn ha, tăng
hơn cùng kỳ năm trước 21,4%; các tỉnh phía Nam đó cơ bản gieo cấy xong
lúa đông xuân, đạt gần 1.773 nghỡn ha, bằng 98,3% so với cùng kỳ năm
2004. Lúa sinh trưởng và phát triển khá; các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu
Long đó thu hoạch 384,3 nghỡn ha lỳa đông xuân, chiếm 26% diện tích gieo
cấy. Năng suất thu hoạch ban đầu tương đối khá.
Về thuỷ sản: Tổng sản lượng thuỷ sản 2 tháng đầu năm 2005 ước đạt 507
nghỡn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2004, trong đó sản lượng khai thác
hải sản ước đạt gần 272 nghỡn tấn, bằng 15,5% kế hoạch, tăng 0,35% so với
cùng kỳ; sản lượng nuôi trồng và khai thác nội địa ước đạt 235 nghỡn tấn, đạt
15% kế hoạch và tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước.
Về lõm nghiệp: Hai tháng đầu năm 2005 trồng rừng tập trung ước đạt 32,5
nghỡn ha; trồng cõy phõn tỏn ước đạt 64 triệu cây; chăm sóc rừng trồng 33,2
nghỡn ha; khoanh nuụi tỏi sinh và trồng dặm 161,2 nghỡn ha.
chung 2 tháng đầu năm, tổng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 4,903 tỷ USD,
tăng 24,2% so với cùng kỳ (cùng kỳ năm trước tăng 6,9%), trong đó nhập
khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1,737 tỷ USD, tăng
27,3% so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng 15%). Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu
trong tháng 2 là ô tô, xe máy nguyên chiếc các loại, nguyên vật liệu và thiết bị
phụ tùng phục vụ cho sản xuất như xăng dầu ước đạt 850 nghỡn tấn, thộp cỏc
loại 320 nghỡn tấn, mỏy múc thiết bị, phụ tựng 400 triệu USD.
Nhập siêu 2 tháng đầu năm 2005 ước khoảng 825 triệu USD, chiếm 20,2% so
với tổng kim ngạch xuất khẩu, cao hơn so với cùng kỳ nhiều năm trước (cùng
kỳ năm 2003 là 5,5%; năm 2004 là 9,3%).
1.5. Đầu tư phát triển.
Thực hiện vốn đầu tư XDCB thuộc Ngân sách Nhà nước (chủ yếu là
nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung) tháng 2 đạt khoảng 3.037,8 tỷ
đồng, bằng 5,9% kế hoạch; tính chung 2 tháng đầu năm ước đạt 7.003,4 tỷ
đồng, bằng 13,5% kế hoạch, thấp hơn so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2004 đạt
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
18
14,3% kế hoạch). Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch tháng 2 ước đạt 1.600 tỷ
đồng. Tính chung 2 tháng, nguồn vốn tín dụng đầu tư đạt 2.800 tỷ đồng, bằng
9,3% kế hoạch năm, trong đó nguồn vốn trong nước cho vay theo kế hoạch
thực hiện thấp, chỉ đạt 700 tỷ đồng, bằng 3,8% kế hoạch năm; nguồn vốn
ODA đạt 600 tỷ đồng, bằng 10% kế hoạch năm; nguồn vốn đầu tư hỗ trợ xuất
khẩu đạt 1.000 tỷ đồng.
Thu hút vốn ODA: Từ đầu năm đến 21/2/2005 nguồn ODA được hợp thức
hoá bằng việc ký kết các Hiệp định với các nhà tài trợ đạt trị giá khoảng 21
triệu USD, toàn bộ là dự án viện trợ không hoàn lại. Tính chung 2 tháng đầu
năm 2005, ước tổng giá trị giải ngân ODA đạt khoảng 158 triệu USD (trong
đó vốn vay khoảng 123 triệu USD, vốn viện trợ không hoàn lại khoảng 35
từ dầu thô 6.546 tỷ đồng, bằng 17,2% dự toán, riêng thu cân đối NSNN từ
xuất nhập khẩu đạt thấp do thực hiện hoàn thuế giá trị giá tăng và chi phí
quản lý thu thuế tăng cao so với cùng kỳ, ước đạt 4.562 tỷ đồng, bằng 12,1%
dự toỏn
Chi Ngân sách nhà nước: Tính chung 2 tháng đầu năm, tổng chi NSNN
ước đạt 30.495 tỷ đồng, bằng 13,3% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát
triển 9.280 tỷ đồng, bằng 14,1% dự toán; chi trả nợ và viện trợ 5.282 tỷ đồng,
bằng 15,2% dự toỏn; chi phỏt triển sự nghiệp kinh tế - xó hội 15.133 tỷ đồng,
bằng 14,9% dự toán; chi cải cách tiền lương 800 tỷ đồng, bằng 3,9% dự toán.
Bội chi ngân sách ở mức 2.122 tỷ đồng, bằng 5,2% dự toán năm.
Chỉ số giá hàng hoá và dịch vụ tháng 2 tăng 2,5% so với tháng 1 năm 2005,
trong đó lương thực, thực phẩm tăng 4,1% (lương thực tăng 2,5%; thực phẩm
tăng 4,3%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,7%; văn hoá thể thao giải trí tăng
1,7%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 1,6%; phương tiện đi lại tăng 0,8%;
hàng may mặc, giày dép và mũ nón tăng 0,5%; các nhóm hàng nhà ở và vật
liệu xây dựng, thiết bị và đồ dùng gia đỡnh, dược phẩm y tế đều tăng 0,4%.
2/ Hạn chế.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
20
Gắn các hoạt động nghiên cứu khoa học với sản xuất, đáp ứng các yêu
cầu phát triển của xó hội là mục tiờu của các hoạt động nghiên cứu khoa học
được nhà nước ta đặt ra từ rất sớm. Năm 1958, trong Nghị quyết Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (khoá II) đó khẳng định "Khoa học kỹ
thuật là điều kiện khụng thể thiếu trong cụng cuộc xõy dựng chủ nghĩa xó hội
(CNXH) ". Tuy nhiên gắn kết giữa hoạt động khoa học và sản xuất là việc
làm khó khăn không chỉ ở nước ta mà là tỡnh trạng khỏ phổ biến ở nhiều
nước trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển. Trong tư duy của các
nhà lập chính sách ở tầm vĩ mô của Việt Nam để chuyển nền kinh tế sang hoạt
Một số Bộ, ngành, địa phương triển khai phân bổ vốn đầu tư cũn chưa
đúng quy định như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cũn 8 dự ỏn
nhúm C chưa có quyết định đầu tư, 32 dự án chưa có thiết kế, tổng dự toán
được duyệt, 42 dự án nhóm B bố trí thời gian hoàn thành quá 4 năm, 46 dự án
nhóm C bố trí vốn quá 2 năm; Bộ Quốc phũng: 47 cụng trỡnh, dự ỏn nhúm B,
C (thuộc nguồn vốn ngân sách tập trung) chưa có thiết kế kỹ thuật, tổng dự
toán được duyệt, 41 dự án nhóm B, C bố trí vốn để hoàn thành vượt quá thời
gian quy định.
Bước đầu tổng hợp kế hoạch phân bổ vốn đầu tư năm 2005 của 49 tỉnh,
thành phố có 1.007 dự án nhóm B, C tương ứng với 2.360 tỷ đồng bố trí vốn
hoàn thành vượt quá thời gian quy định. Một số địa phương bố trí vốn đầu tư
cũn phõn tỏn như bỡnh quõn 1 dự ỏn nhúm C của tỉnh Phỳ Thọ là 0,63 tỷ
đồng/dự án, Quảng Ninh 0,52 tỷ đồng/dự án, Hà Tĩnh 0,62 tỷ đồng/dự án,
Nam Hà 0,34 tỷ đồng/ dự án.
Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang
phối hợp với các cơ quan liên quan rà soát kế hoạch phân bổ vốn đầu tư của
các Bộ, ngành và địa phương, đồng thời tổng hợp tỡnh hỡnh triển khai kế
hoạch đầu tư phát triển năm 2005 của các Bộ, ngành và địa phương để báo
cáo Chính phủ trong quý I năm 2005. Một số sai sót trong việc triển khai phân
bổ vốn đầu tư của các đơn vị so với quy định đó được Bộ Kế hoạch và Đầu tư
có ý kiến bằng văn bản.
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
22
Nhỡn chung, tiến độ thực hiện các dự án và kết quả giải ngân vốn đầu
tư cũn chậm. Tổng số kế hoạch vốn đó phõn bổ cho cỏc dự ỏn năm 2003 và
năm 2004 là 10.277 tỷ đồng; giá trị khối lượng hoàn thành đề nghị thanh toán
đến ngày 31/12/2004 đạt 6.670,8 tỷ đồng bằng 64,9% kế hoạch đó giao; trong
đó các dự án thuộc Trung ương quản lý đạt 6.151,8 tỷ đồng bằng 67,4% kế
- Cụng tác nghiệm thu khối lượng, hoàn thành thủ tục thanh toán giữa Bên A
và B để gửi đến cơ quan cấp phát thanh toán vốn vẫn cũn chậm, mặc dự khối
lượng thực hiện thực tế tại hiện trường là khá lớn.
Nguyên nhân chỉ số giá tiêu dùng tăng cao chủ yếu do sức mua có khả
năng thanh toán của xó hội trong dịp Tết Nguyờn đán tăng khoảng 20-30% so
với năm ngoái (do thực hiện chế độ tiền lương mới, tiền thưởng cho người lao
động của các doanh nghiệp trong dịp Tết, cùng với lượng ngoại tệ, kiều hối
chuyển về nước chi dùng dịp Tết nhiều hơn); ngoài ra cũn do ảnh hưởng của
dịch cúm gia cầm kéo giá các loại thực phẩm khác tăng cao.
Tuy nhiên, đáng chú ý là chỉ số giỏ hai thỏng đầu năm tuy thấp hơn mức tăng
của cùng kỳ năm trước nhưng sau Tết mức giá hàng hoá hầu như không giảm
theo quy luật, vỡ vậy đũi hỏi cú sự quản lý và điều hành giá cả hợp lý nhằm
bảo đảm chỉ số giá trong những tháng tới tăng trong tầm kiểm soát và không
vượt quá mức tăng giá do Quốc hội đó thụng qua.
4/ Nội dung công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước.
1.1. Hệ thống pháp luật.
Hệ thống pháp luật là một công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước , nó tạo
ra khuôn khổ pháp luật cho các chủ thể kinh tế hoạt động , phát huy mặt tích
cực và han chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường , đảm bảo cho nền kinh tế
phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa . Hệ thống pháp luật bao trùm
mọi hoạt động kinh tế xã hội , bao gồm những điều luật cơ bản về hoạt động
của các doanh nghiệp ( Luật doanh nghiệp ) , về hợp đồng kinh tế , về bảo hộ
lao động , bảo hiểm xã hội , bảo vệ môi trường , vv… Các luật đó điều chỉnh
§Ò ¸n kinh tÕ chÝnh trÞ
SV: NguyÔn Hång Hu©n - Líp: CN 44C
24
hành vi của các chủ thể kinh tế thuộc các doanh nghiệp phải chấp nhận sự
điều tiết của Nhà nước.
1.2. Kế hoạch hoá.