Đề tài
Cơ sở khoa học của việc thiết kế kênh
phân phối của Công ty Liên doanh mỹ
phẩm LG Vina trên thị trường
Việt Nam
1
1
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu tiến hành kinh doanh trên thị trường bao
giờ cũng đề ra cho mình những mục tiêu nhất định. Có nhiều mục tiêu để
doanh nghiệp phấn đấu như lợi nhuận, vị thế, an toàn… Để đạt được các mục
tiêu này thì doanh nghiệp phải tiêu thụ được sản phẩm. Muốn tiêu thụ được
sản phẩm hàng hoá dịch vụ thì phải có thị trường. Thông qua thị trường,
2
2
doanh nghiệp sẽ tiêu thụ sản phẩm thu hồi vốn để tái sản xuất nhằm mục đích
tồn tại và phát triển. Do đó nghiên cứu thị trường mang tính chất tất yếu và
khách quan đối với các doanh nghiệp nói chung cũng như Công ty Liên doanh
mỹ phẩm LG Vina trên thị trường Việt Nam nói riêng.
Mặt khác trong nền kinh tế thị trường, muốn thành công trong kinh
doanh, doanh nghiệp phải có các hoạt động marketing có hiệu quả. Chiến
lược phân phối như một công cụ marketing quan trọng giúp cho doanh nghiệp
tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh dài hạn trên thị trường. Bởi vì doanh
nghiệp không chỉ quan tâm đến việc đưa ra thị trường sản phẩm gì, với giá
bao nhiêu, xúc tiến nó ra sao mà còn là đưa sản phẩm ra thị trường như thế
nào? Đây chính là chức năng phân phối của marketing. Chức năng này được
thực hiện thông qua mạng lưới kênh phân phối của doanh nghiệp.
Xuất phát từ những suy nghĩ trên nên em đã chọn đề tài:
"Cơ sở khoa học của việc thiết kế kênh phân phối của Công ty Liên
doanh mỹ phẩm LG Vina trên thị trường Việt Nam".
gia đình đông đúc "tam đại, ngũ đại đồng đường" với "con đàn, cháu đống" đã
dần dần được thay thế bởi xu hướng tách ra tạo lập cuộc sống độc lập từ khi
tuổi trưởng thành và lập gia đình riêng. Những thay đổi về đời sống kinh tế -
xã hội ở cả nông thôn và thành thị đã và đang thúc đẩy mạnh tiến trình này.
4
4
Cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch nêu ra một hình mẫu gia đình "chỉ có từ 1
đến 2 con". Các thành viên trong gia đình có nhiều cơ hội tham gia công tác,
hoạt động xã hội và quan tâm đến sự phát triển của con cái. Công cuộc vận
động "giải phóng phụ nữ" đã thực sự làm thay đổi cái nhìn về vai trò của
người phụ nữ trong gia đình và nơi công sở. Do vậy, đối tượng mà các hoạt
động marketing hướng đến cũng phải thay đổi, kèm theo các biện pháp, chính
sách marketing hỗn hợp phải phù hợp hơn: chủng loại sản phẩm, thiết kế hàng
hoá, thông điệp quảng cáo…
Một vấn đề khác liên quan đến sự biến đổi thị trường và do đó đến hoạt
động marketing, đó là quá trình đô thị hoá và phân bố lại dân cư. Lịch sử đã
từng có nhiều cuộc di dân diễn ra mang tính chất tự nhiên và cơ học. Bản chất
của con người luôn tìm kiếm những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi để
cư trú, sinh sống và làm ăn. Các vùng đô thị tập trung luôn luôn là thị trường
quan trọng cho nhà hoạt động thị trường. Bên cạnh đó việc phân bố lại lực
lượng sản xuất, phân vùng lãnh thổ, đặc khu kinh tế cũng tạo ra các cơ hội thị
trường mới đầy hấp dẫn. Ngay cả khi trung tâm thành phố trở nên quá đông
đúc, chật chội thì các nhà quy hoạch bắt đầu phát triển, các vùng ven đô, ven
thị, chúng trở thành các vệ sinh, thành phố được mở rộng. Khu trung tâm
đóng vai trò chủ yếu về chính trị, công sở, nơi giao dịch. Các nhà hoạt động
marketing lập tức chuyển hướng của mình vào các khu dân cư mới, các vùng
thị trường tiềm năng mới đang dần trở thành hiện thực.
Nền kinh tế ngày càng phát triển, trình độ văn hoá giáo dục trong dân
cư được tăng lên, nhiều ngành nghề mới ra đời và càng trở lên phổ biến. Điều
đó cũng đòi hỏi các nhà hoạt động thị trường phải đưa ra và áp dụng các
thị trường khác nhau rất rõ rệt bởi mức độ chi tiêu và phân bổ chi tiêu. Những
6
6
người có thu nhập cao sẽ đòi hỏi chất lượng hàng hoá và dịch vụ ở mức cao
hơn. Con người không chỉ đơn giản cần "ăn no mặc ấm" mà thay bằng mong
muốn "ăn ngon mặc đẹp". Họ cần nhiều loại sản phẩm tiêu dùng cho phép tiết
kiệm thời gian, hình thức bao bì mẫu mã trở nên yếu tố quan trọng để thu hút
người mua. Việc tiêu dùng mang tính vật chất không còn đóng vai trò quan
trọng. Việc thoả mãn các giá trị văn hoá tinh thần sẽ đòi hỏi phải được đầu tư
với cơ cấu, tỷ trọng lớn hơn trong những ưu tiên về chi tiêu.
Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn tiếp tục duy trì một bộ phận không nhỏ tầng
lớp dân cư có thu nhập thấp, do đó đòi hỏi chất lượng hàng hoá dịch vụ chưa
cao, đặc biệt là dân cư nông thôn. Cho nên ở nông thôn cơ cấu chi tiêu và mua
sắm càng khác so với thành phố.
Nền kinh tế thế giới vẫn đã và đang diễn ra xu hướng vận động nhiều
chiều. Sự phân hoá giàu nghèo giữa các quốc gia chậm phát triển và các quốc
gia phát triển theo hướng "dịch vụ hậu công nghiệp"; xu thế toàn cầu hoá;
những nỗ lực cạnh tranh và hợp tác đang làm thay đổi bộ mặt đời sống kinh tế
từng vùng, từng khu vực. Thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp - dịch vụ bên
cạnh việc tăng mức tuyệt đối về thu nhập quốc dân sẽ là điều kiện nền tảng để
mỗi quốc gia hội nhập với nền kinh tế quốc tế. Chiến lược marketing mang
tính toàn cầu, đa quốc gia, xuyên quốc gia là một đòi hỏi tất yếu, một thách
thức đối với các nhà hoạt động thị trường.
1.3. Môi trường tự nhiên
Môi trường tự nhiên bao gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng
nhiều mặt tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các nhà sản xuất - kinh
doanh và chúng có thể gây ảnh hưởng cho các hoạt động marketing trên thị
trường.
Ngay từ thập kỷ 1960 đã có những lời cảnh báo về tình trạng làm hư hại
đến môi trường. Mối quan tâm ngày càng trở nên rõ vì đã gây ra sự thiếu hụt
8
8
điều kiện nhất định về: vật chất, môi trường tự nhiên, khí hậu, các kiểu sống,
kinh nghiệm, lịch sử của cộng đồng và sự tác động qua lại của các nền văn
hoá. Văn hoá là vấn đề khó nhận ra và hiểu thấu đáo, mặc dù nó tồn tại ở khắp
nơi và tác động thường xuyên tới kinh doanh của doanh nghiệp và các quyết
định marketing của nó. Nhưng môi trường văn hoá đôi khi trở thành hàng rào
"gai góc" đối với các nhà hoạt động marketing. Dưới đây ta sẽ xem xét một số
khía cạnh của môi trường văn hoá và sự ảnh hưởng của nó tới hoạt động
marketing của doanh nghiệp.
- Những giá trị văn hoá truyền thống căn bản
Đó là các giá trị chuẩn mực và niềm tin trong xã hội có mức độ bền
vững, khó thay đổi, tính kiên định rất cao, được truyền từ đời này qua đời
khác và được duy trì qua môi trường gia đình, trường học, tôn giáo, luật pháp
nơi công sở v.v và chúng tác động mạnh mẽ, cụ thể vào những thái độ, hành
vi ứng xử hàng ngày, hành vi mua và tiêu dùng hàng hoá của từng cá nhân,
nhóm người.
- Những giá trị văn hoá thứ phát
Nhóm giá trị chuẩn mực và niềm tin mang tính "thứ phát" thì linh động
hơn, có khả năng thay đổi dễ hơn so với nhóm căn bản các giá trị chuẩn mực
về đạo đức, văn hoá thứ phát khi thay đổi hay dịch chuyển sẽ tạo ra các cơ hội
thị trường hay các khuynh hướng tiêu dùng mới, đòi hỏi các hoạt động
marketing phải bắt kịp và khai thác tối đa.
- Các nhánh văn hoá của một nền văn hoá
Có những "tiểu nhóm" văn hó luôn luôn tồn tại trong xã hội và họ chính
là những cơ sở quan trọng để hình thành và nhân rộng một đoạn thị trường
nào đó. Những nhóm này cùng nhau chia sẻ các hệ thống giá trị văn hoá - đạo
đức- tôn giáo… nào đó, dựa trên cơ sở của những kinh nghiệm sống hay
những hoàn cảnh chung, phổ biến. Đó là những nhóm tín đồ của một tôn giáo
9
10
2.1. Các trung gian phân phối
Đó là các tổ chức dịch vụ, các doanh nghiệp khác và các cá nhân giúp
cho công ty tổ chức tốt việc tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ của mình tới
người mua cuối cùng.
Những người trung gian và các hãng phân phối chuyên nghiệp đóng vai
trò rất quan trọng giúp cho doanh nghiệp tìm kiếm khách hàng hoặc là thực
hiện công việc bán hàng cho họ. Đó là những đại lý bán buôn, bán lẻ, đại lý
phân phối độc quyền, các công ty kho vận…
Lựa chọn và làm việc với người trung gian và các hãng phân phối là
những công việc hoàn toàn không đơn giản. Nếu nền kinh tế càng phát triển,
trình độ chuyên môn hoá càng cao thì họ không còn chỉ là các cửa hàng nhỏ
lẻ, các quầy bán hàng đơn giản, độc lập. Xu thế đã và đang hình thành các
siêu thị, các tập đoàn phân phối hàng hoá rất mạnh về tiềm lực và tiến hành
nhiều l oại hoạt động đồng thời như vận chuyển, bảo quản làm tăng giá trị và
phân phối hàng hoá dịch vụ một cách nhanh chóng an toàn, tiết kiệm… qua
đó tác động đến uy tín, khả năng tiêu thụ, sản phẩm của nhà sản xuất.
Các hãng dịch vụ Marketing như công ty tư vấn, tổ chức nghiên cứu
marketing, các công ty quảng cáo, đài phát thanh, vô tuyến, báo, tạp chí…
giúp cho công ty tập trung và khuyếch trương sản phẩm của mình đúng đối
tượng, đúng thị trường, đúng thời gian. Lựa chọn và quyết định sẽ cộng tác
với hãng cụ thể nào để mua dịch vụ của họ là điều mà doanh nghiệp phải cân
nhắc hết sức cẩn thận; nó liên quan đến các tiêu thức như chất lượng dịch vụ,
tính sáng tạo và chi phí.
Các tổ chức tài chính tín dụng trung gian như ngân hàng, công ty tài
chính, công ty bảo hiểm, công ty kiểm toán thực hiện các chức năng giao dịch
tài chính hỗ trợ tài chính hay đảm bảo giúp doanh nghiệp đề phòng các rủi ro
trong quá trình kinh doanh của mình. Những thay đổi diễn ra ở các tổ chức
11
11
cứu riêng tuỳ vào mức độ tham gia vào các thị trường của mỗi doanh nghiệp.
2.3. Đối thủ cạnh tranh
Nhìn chung mọi công ty đều phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh
khác nhau. Quan điểm Marketing xem xét cạnh tranh trên 4 cấp độ.
- Cạnh tranh mong muốn tức là với cùng một lượng thu nhập người ta
có thể dùng vào các mục đích khác nhau: xây nhà, mua phương tiện du
lịch…; khi dùng vào mục đích này có thể thôi không dùng vào mục đích khác,
dùng cho mục đích này nhiều sẽ hạn chế dùng vào mục đích káhc. Cơ cấu chi
tiêu đó có thể phản ánh một xu hướng tiêu dùng và do đó tạo ra cơ hội hay đe
doạ hoạt động Marketing của doanh nghiệp. Khi nghiên cứu đối thủ cạnh
tranh mong muốn, điều quan trọng là phải biết được những xu hướng tiêu
dùng và do đó cách thức người ta phân bổ thu nhập cho tiêu dùng.
II. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp
1. Nguồn lực tài chính
Nguồn lực tài chính có thể được chia thành nguồn lực trên cơ sở vốn
sẵn có, nguồn lực do huy động vay vốn hoặc kêu gọi đầu tư từ bên ngoài.
Tài chính có yếu tố quyết định trong mọi chiến lược của công ty. Giúp
cho doanh nghiệp thực hiện các chiến lược kinh doanh trong ngắn hạn và dài
hạn. ảnh hưởng trực tiếp tới qui mô cũng như quyết định cuối cùng của các
nhà quản trị. Nguồn lực tài chính giàu mạnh cho doanh nghiệp có được các
chiến lược dài , qui mô đầu tư lớn , cũng như các chính sách hỗ trợ kinh
doanh kịp thời. Thu hút được nhiều đối tác kinh doanh. Là bằng chức cho sự
phát triển đi lên của mỗi doanh nghiệp, góp phần tạo dựng uy tín và vị thế của
doanh nghiệp cũng như niềm tin của các nhà đầu tư và tiêu dùng.
2. Nguồn lực con người
13
13
Trong kinh doanh lấy khách hàng là chính thì trong mỗi doanh nghiệp
sự thành bại là phụ thuộc vào nguồn lực con người, vào đội ngũ cán bộ công
nhân viên. Tuỳ vào mỗi ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh đồi hỏi con người
Mở rộng thị trường theo chiều rộng, có nghĩa là thu hút khách hàng mới
trên thị trường hiện có và thị trường mới, tăng doanh số bán với khách hàng
cũ. Điều này đồng nghĩa với việc tăng chi phí, đầu tư thêm vốn kinh doanh.
Mở rộng thị trường theo chiều sâu có nghĩa là phân đoạn, cắt lớp thị
trường để thoả mãn nhu cầu đa dạng của con người.
3.2. Tính tất yếu của việc mở rộng thị trường
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường mở rộng nhanh chóng trên
mọi lĩnh vực kinh doanh, tình hình cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị
trường thay đổi rất nhanh. Doanh nghiệp nào không nhận thức được điều đó,
không nỗ lực tăng trưởng sẽ nhanh chóng bị tụt xuống thứ hạng thấp hơn
trong lĩnh vực kinh doanh của mình. Liên tục phát triển là mục tiêu của bất kỳ
doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển. Khai thác thị trường hiện có
theo chiều sâu và mở rộng thị trường theo chiều rộng được xem là nhiệm vụ
thường xuyên, liên tục của mỗi doanh nghiệp kinh doanh trong điều kiện nền
kinh tế thị trường.
Duy trì và mở rộng thị trường sẽ giúp doanh nghiệp đẩy mạnh tốc độ
tiêu thụ sản phẩm, khai thác triệt để mọi tiềm năng của thị trường, nâng cao
hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận và khẳng định vị trí của doanh
nghiệp trên thương trường. Hoặc là các đối thủ phải theo đuổi họ, hoặc là họ
phải đuổi theo các đối thủ cạnh tranh của mình. Vị trí trước sau trong cạnh
tranh có tầm quan trọng quyết định, nếu đánh mất vị thế cạnh tranh thì có thể
phải trả giá rất đắt vì doanh nghiệp có thể bị bật ra khỏi thương trường.
15
15
Quá trình duy trì và mở rộng thị trường thành công sẽ dẫn đến một số
kết quả cụ thể sau:
- Thị phần của doanh nghiệp tăng lên làm cho phạm vi và quy mô thị
trường hàng hoá của doanh nghiệp được mở rộng. Đây chính là kết qủa của
cuộc cạnh tranh giữa các đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp không được sơ
xuất , coi nhẹ cạnh tranh khi mình đã nắm thị phần lớn.
thường xuyên từng lượng nhỏ, cũng cần kênh dài. Mật độ khách hàng trên
đơn vị diện tích càng cao nên sử dụng kênh phân phối trực tiếp. Một nguyên
nhân làm cho các sản phẩm cho tiêu dùng công nghiệp thường được bán trực
tiếp là các khách hàng công nghiệp có số lượng ít, nhưng quy mô của mỗi
khách hàng lớn và tập trung về mặt địa lý.
- Đặc điểm của sản phẩm: Một yếu tố khác chi phối đến việc lựa chọn
kênh đó là đặc điểm của sản phẩm. Những sản phẩm dễ hư hỏng, thời gian từ
sản xuất đến tiêu dùng ngắn, cần kênh trực tiếp. Những sản phẩm cồng kềnh,
nặng nề đòi hỏi kênh phân phối ngắn để giảm tối đa quãng đường vận chuyển
và số lần bốc dỡ. Những hàng hoá không tiêu chuẩn hoá cần bán trực tiếp, các
sản phẩm có giá trị đơn vị cao thường do lực lượng bán của công ty bán chứ
không qua trung gian.
- Đặc điểm của trung gian thương mại: Các trung gian thương mại sẽ
tham gia vào kênh có vai trò quan trọng trong lựa chọn kênh phân phối.
Người quản lý kênh phải xem xét có những loại trung gian thương mại nào
trên thị trường; khả năng, mặt mạnh, mặt yếu của các trung gian trong việc
thực hiện nhiệm vụ của họ. Các trung gian thương mại có khả năng khác nhau
trong việc thực hiện quảng cáo, lưu kho, khai thác khách hàng và cung cấp tín
dụng… Vì vậy, doanh nghiệp phải phân tích để lựa chọn loại trung gian thích
hợp cho kênh phân phối sản phẩm của mình.
17
17
- Kênh phân phối của đối thủ cạnh tranh: Việc lựa chọn kênh phân phối
cũng chịu ảnh hưởng bởi các kênh của các đối thủ cạnh tranh. Nhà sản xuất
có thể lựa chọn những kênh phân phối có cùng đầu ra bán lẻ với các nhà cạnh
tranh hay những kênh hoàn toàn khác với kênh của họ. Doanh nghiệp phải lựa
chọn kênh phân phói có thể mang lại lợi thế cạnh tranh so với kênh của các
đối thủ cạnh tranh. Nhìn chung, cạnh tranh càng mạnh thì nhà sản xuất càng
cần những kênh có sự liên kết chặt chẽ.
- Đặc điểm của chính doanh nghiệp cũng là căn cứ quan trọng khi lựa
Vấn đề cuối cùng cần phải xem xét là tính đến mức độ linh hoạt của
kênh. Điều này xuất phát từ yêu cầu của nhà sản xuất cần phải thích ứng với
những thay đổi của thị trường đang diễn ra nhanh chóng. Ví dụ, nếu nhà sản
xuất có mối quan hệ làm ăn dài hạn, quan hệ hợp đồng đặc quyền với những
người bán lẻ thì khả năng thích ứng với sự thay đổi nhu cầu của người mua và
sự di chuyển dân cư sẽ bị hạn chế. Nói chung, tương lai càng không chắc chắn
thì càng không nên chọn các kênh có cam kết lâu dài.
19
19
CHƯƠNG II
ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI HIỆN HÀNH
CỦA CÔNG TY LG-VINA
I. Mô tả hệ thống kênh phân phối của LG - VINA
1. Sơ đồ kênh
3 hệ thống kênh phân phối chính của LG-Vina
2. Thành viên kênh
2.1. Các đại lý trung gian thương mại
LG Vina là công ty mỹ phẩm đầu tiên tại Việt Nam tổ chức được kênh
bán hàng qua nhà phân phối sản phẩm phủ rộng toàn quốc. Riêng ở Hà Nội có
1 nhà phân phối chính khoảng 450 shop là khách hàng của DeBon và hệ
thống 20 siêu thị tại Hà Nội. Đồng thời có nhà phân phối tại hầu hết các tỉnh
thành (23 tỉnh thành tại phía Bắc…)
LG Vina tạo dựng được một hệ thống kênh phân phối đa cấp rộng khắp,
với các đại lý cấp 1, đại lý bán buôn, được thiết lập quan hệ chặt chẽ các ban
hoạt động nhằm bảo vệ lợi ích của địa bàn cũng như đảm bảo sự thông suốt
của dòng chảy. Các đại lý cấp 1 phải thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp
đồng như đem bán doanh số thuê các chính sách hỗ trợ mà công ty đặt ra cho
các đại lý cấp 2 và cấp 3. được quyền tiêu thụ sản phẩm của công ty cũng như
không được bán hàng của các đối thủ cạnh tranh không cân sức quà tặng
phẩm khuyến mãi trong các chiến dịch khuyến mãi các đăng ký cấp 1được
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Người tiêu dùng
Các trung gian bán lẻ
Các trung gian bán lẻ
21
21
Các trung gian bán lẻ
Các trung gian bán lẻ
Các trung gian bán lẻ
22
Image shop
sản phẩm chính OHUI, Isa Knox,
Whoo)
22
23
23
2.2. Đội ngũ nhân viên bán hàng trực tiếp
LG Vina có một đội ngũ nhân viên bán hàng trực tiếp hùng mạnh được
chia thành 36 đội, các đội có đội trưởng là nhân viên của công ty có trách
nhiệm theo dõi tình hình bán hàng của từng đội, cũng như thu thập các phản
hồi từ thị trường và các thành viên bán hàng trực tiếp. Với hơn 800 nhân viên
bán hàng trực tiếp với các phương thức bán hàng tại nhà, qua điện thoại, qua
internet.
Với kênh bán hàng trực tiếp này, LG Vina tập trung bán các sản phẩm
đắt tiền nhằm vào nhóm khách hàng có thu nhập cao. Với đội ngũ nhân viên
bán hàng chuyên nghiệp (được công ty hỗ trợ đào tạo kỹ năng bán), kênh
phân phối đa cấp là một trong 2 kênh phân phối chính của công ty.
người có thu nhập cao như: E'Z up, Lavert… Kênh bán hàng trực tiếp này đáp
ứng được yêu cầu về phân phối trong giai đoạn này trong chiến lược của công
ty. Đó là: trong thời điểm đó thị trường mỹ phẩm chưa phát triển do điều kiện
kinh tế còn hạn chế (đất nước mới thoát khỏi thời kì bao cấp nên kinh tế còn
rất nhiều khó khăn). Lúc này với sự xuất hiện sản phẩm đã khá quen thuộc thì
người tiêu dùng cũng có nhu cầu sử dụng và tư vấn về sản phẩm mỹ phẩm nói
chung và mỹ phẩm của LG-VINA nói riêng. Mặt khác với điều kiện kinh tế
khó khăn, người tiêu dùng chưa có thói quan dùng mỹ phẩm nên vẫn có tâm
lý e ngại vào các shop sang trọng (Image Shop). Với hệ thống kênh bán hàng
trực tiếp này đã thể hiện rõ ưu thế của kênh và đáp ứng được yêu cầu của sản
phẩm cũng như chiến lược phân phối của công ty ở giai đoạn này: Đó là sản
phẩm của công ty là sản phẩm cao cấp nên cần tư vấn trực tiếp với người tiêu
dùng và tại thị trường này lực lượng lao động tham gia vào thành viên kênh là
nhiều do chiết khấu của công ty cao, và lệ phí tham gia nhỏ (300000VNĐ).
- Giai đoạn thứ 3: Từ năm 2000 đến nay. Đây là giai đoạn cực kì quan
trọng của Công ty LG-VINA. Đó là bắt đầu mở rộng thị trường, hướng vào
thị trường mỹ phẩm dành cho người tiêu dùng có thu nhập trung bình và khá.
Điều này thể hiện qua việc khánh thành nhà máy tại Việt Nam đã cho ra đời
sản phẩm mới: Essance Vitacell. Cả 2 sản phẩm E'Zup và Essance đều được
25
25