Báo cáo thực tập
"Giới Thiệu Hệ Điều Hành Window
Server 2003"
1
MỤC LỤC
Lời nói đầu 4
Chương I. Giới Thiệu Hệ Điều Hành Window Server 2003 5
Giới thiệu về Hệ Điều Hành Window Server 2003 5
1.1 Phiên bản Web (Web Edition) 5
1.3 Phiên bản Doanh nghiệp (Enterprise Edition) 8
1.4 Phiên bản Trung tâm Dữ liệu (Datacenter Edition) 9
Chương II – Các dịch vụ mạng Window Server 2003 10
I. Dịch vụ Active Directory 10
1 . Active Directory là gì? 10
2. Chức năng của AD : 16
3 . Diectory Services 16
4 . Kiến trúc của Active Diectory 18
II. Dịch vụ DHCP (Dynamic Host Configuration Protocol ) 20
1 . GIỚI THIỆU DỊCH VỤ DHCP 20
2 . HOẠT ĐỘNG CỦA GIAO THỨC DHCP 21
3. Quá trình Cài đặt: 22
4. Nguyên lý làm việc của DHCP 25
5. Cơ chế tự động refresh lại lease time 27
6.Ủy quyền authorize một DHCP service 28
7.Cấu hình một DHCP server 31
8. Cấu hình một scope với các option 36
. Client Reservations 37
IV. Dịch vụ FTP Server 56
1.Giao thức FTP 56
2. Cài đặt dịch vụ FTP 60
3. Cấu hình dịch vụ FTP 61
ứng.
Việc sử dụng hệ thống máy chủ để quản trị trong doanh nghiệp ngày càng đựoc các
doanh nghiệp trong nứoc áp dụng nhằm có một hệ thống hoạt động tốt,an toàn ,có độ
bảo mật cao,chi phí hợp lý và thuận tiẹn trong việc trao đổi thông tin giữa các chi
nhánh…
Từ những yêu cầu thực tế như vậy em xin xây dựng các dịch vụ mạng trong một doanh
nghiệp vừa và nhỏ sử dung Window Server 2003 trên phần mềm máy ảo VMWare và
từ đó có thể áp dụng vào triển khai trên thực tế.
4
Chương I. Giới Thiệu Hệ Điều Hành Window Server 2003
Giới thiệu về Hệ Điều Hành Window Server 2003
Windows Server 2003 là sản phẩm của hệ điều hành Windows Server và được
cải tiến rất nhiều so với các phiên bản trước đó: bảo mật tốt hơn, độ tin cậy cao hơn và
dễ dàng quản trị. Phần sau đây sẽ trình bày tổng quan về họ sản phẩm Windows Server
2003, tập trung vào các điểm giống và khác nhau giữa 4 phiên bản: Web Edition,
Standard Edition, Enterprise Edition và Datacenter Edition
1. Các phiên bản của họ Windows Server 2003
Các phiên bản khác nhau của Windows Server 2003 được thiết kế để hỗ trợ các
nền tảng thiết bị phần cứng và vai trò máy chủ khác nhau. Bên cạnh 4 phiên bản cơ
bản của Windows Server 2003 - Web, Standard (Tiêu chuẩn), Enterprise (Doanh
nghiệp) và Datacenter (Trung tâm dữ liệu) – hệ điều hành này còn có thêm các phiên
bản hỗ trợ phần cứng 64 bit và các hệ thống nhúng. Phần tiếp theo sẽ trình bày chi tiết
hơn về các phiên bản này.
1.1 Phiên bản Web (Web Edition)
Để tăng tính cạnh tranh của Windows Server 2003 so với các máy chủ Web
khác, Microsoft đã cho ra một phiên bản đặc biệt của Windows Server 2003, được
thiết kế
chuyên dụng cho chức năng của một máy chủ Web. Phiên bản Web là một phần của hệ
điều hành chuẩn cho phép người quản trị có thể triển khai các Web site, các ứng dụng
Web và các dịch vụ Web mà không tốn nhiều chi phí và công sức quản trị. Hệ điều
1.2 Phiên bản Tiêu chuẩn (Standard Edition)
Phiên bản Standard sử dụng cho nền tảng máy chủ đa chức năng trong đó có thể
cung cấp các dịch vụ thư mục (Directory), file, in ấn, ứng dụng, multimedia và dịch vụ
Internet cho các doanh nghiệp cỡ vừa và nhỏ. Sau đây là một vài trong rất nhiều tính
năng có trong phiên bản này của hệ điều hành :
Directory services (Dịch vụ Thư mục): Phiên bản Standard có khả năng hỗ trợ đầy
đủ đối với Active Directory cho phép các máy chủ có thể đóng vai trò là máy chủ
thành viên hoặc các máy chủ quản trị miền. Người quản trị mạng có thể sử dụng các
6
công cụ kèm theo hệ điều hành để triển khai và quản trị các đối tượng Active
Directory, các chính sách nhóm (GP – Group Policy) và các dịch vụ khác dựa trên nền
Active Directory.
Dịch vụ Internet: Phiên bản Standard bao gồm IIS 6.0 cung cấp các dịch vụ Web và
FTP cũng như các thành phần khác sử dụng trong quá trình triển khai máy chủ Web
như dịch vụ Cân bằng Tải (NLB – Network Load Balancing). Chức năng NLB cho
phép nhiều máy chủ Web có thể cùng duy trì (host) một Web site đơn, chia sẻ các yêu
cầu kết nối của client trong tối đa 32 máy chủ đồng thời cung cấp khả năng chống lỗi
cho hệ thống.
Các dịch vụ cơ sở hạ tầng: Phiên bản Standard bao gồm các dịch vụ Microsoft
DHCP Server, Domain Name System (DNS) Server, và Windows Internet Name
Service (WINS) Server, cung cấp các dịch vụ cơ bản cho mạng nội bộ và các máy
khách trên Internet.
Định tuyến TCP/IP (TCP/IP Routing): Một máy chủ chạy phiên bản Standard có thể
thực thi như một router với rất nhiều cấu hình bao gồm định tuyến LAN và WAN,
định tuyến truy nhập Internet và định tuyến truy nhập từ xa. Để thực hiện các chức
năng này, dịch vụ Định tuyến và Truy nhập Từ xa (Routing and Remote Access
Service - RRAS) có hỗ trợ cho các tính năng Chuyển đổi Địa chỉ Mạng (Network
Address Translation – NAT), Dịch vụ Xác thực Internet (Internet Authentication
Service – IAS), các giao thức định tuyến như Giao thức Thông tin Định tuyến
(Routing Information Protocol – RIP) và Uư tiên Đường Ngắn nhất (Open Shortest
Phiên bản Enterprise được thiết kế họat động trên các máy chủ cấu hình mạnh
của các tổ chức doanh nghiệp cỡ vừa và lớn. Phiên bản này khác phiên bản Standard
chủ yếu ở mức độ hỗ trợ phần cứng. ví dụ: Bản Enterprise hỗ trợ tối đa 8 bộ vi xử lí so
với 4 bộ của bản Standard và tối đa 32GB bộ nhớ RAM so với khả năng của bản
Standard chỉ là 4GB.
Phiên bản Enterprise còn bổ sung thêm một số tính năng quan trọng mà không có
trong bản Standard, bao gồm các thành phần sau:
Microsoft Metadirectory Services - MMS (Dịch vụ Siêu Thư mục Microsoft):
Metadirectory bản chất là thư mục của các thư mục – một phương tiện tích hợp nhiều
nguồn thông tin vào một thư mục đơn, thống nhất. MMS cho phép chúng ta có thể kết
hợp các thông tin trong Active Directory với các dịch vụ thư mục khác, để tạo ra một
cách nhìn tổng thể tất cả các thông tin về một tài nguyên nào đó. Phiên bản Enterprise
8
chỉ cung cấp hỗ trợ cho MMS mà không phải là phần mềm MMS thực sự, phần mềm
này bạn phải lấy từ Microsoft Consulting Service (Dịch vụ tư vấn Microsoft - MCS)
hoặc thông qua một thỏa thuận với đối tác MMS.
Server Clustering (Chuỗi Máy chủ): Chuỗi máy chủ là một nhóm các máy chủ
nhưng lại đóng vai trò như một máy chủ đơn cung cấp khả năng sẵn sàng cao cho một
nhóm các ứng dụng. Tính sẵn sàng trong trường hợp này có nghĩa là các chu trình hoạt
động của ứng dụng đó được phân bố đều trong các máy chủ trong chuỗi, giảm tải trên
mỗi máy chủ và cung cấp khả năng chịu lỗi nếu bất kì máy chủ nào bị sự cố. Các máy
chủ trong chuỗi, được gọi là các nút, đều có khả năng truy nhập đến một nguồn dữ liệu
chung, thông thường là một mạng lưu trữ lớn (Storage Area Network - SAN), cho
phép các nút luôn được duy trì cùng một nguồn thông tin dữ liệu cơ sở. Phiên bản
Enterprise hỗ trợ máy chủ cluster có tối đa 8 nút
Bộ nhớ RAM Cắm nóng (Hot Add Memory): Phiên bản Enterprise bao gồm phần
mềm hỗ trợ một đặc tính của phần cứng gọi là Bộ nhớ Cắm nóng, cho phép người
quản trị mạng có thể thêm hoặc thay thế bộ nhớ RAM trong máy chủ mà không cần tắt
máy hoặc khởi động lại. Để sử dụng tính năng này, máy tính phải có phần cứng hỗ trợ
tương ứng.
Với người dùng hoặc quản trị viên, Active Directory cung cấp một khung nhìn mang
tính cấu trúc để từ đó dễ dàng truy cập và quản lý tất cả các tài nguyên trong mạng.
1.1.Tại sao cần thực thi Active Directory?
Có một số lý do để lý giải cho câu hỏi trên. Microsoft Active Directory được
xem như là một bước tiến triển đáng kể so với Windows NT Server 4.0 domain hay
thậm chí các mạng máy chủ standalone. Active Directory có một cơ chế quản trị tập
trung trên toàn bộ mạng. Nó cũng cung cấp khả năng dự phòng và tự động chuyển đổi
dự phòng khi hai hoặc nhiều domain controller được triển khai trong một domain.
Active Directory sẽ tự động quản lý sự truyền thông giữa các domain controller để bảo
đảm mạng được duy trì. Người dùng có thể truy cập vào tất cả tài nguyên trên mạng
thông qua cơ chế đăng nhập một lần. Tất cả các tài nguyên trong mạng được bảo vệ
bởi một cơ chế bảo mật khá mạnh, cơ chế bảo mật này có thể kiểm tra nhận dạng
người dùng và quyền hạn của mỗi truy cập đối với tài nguyên.
10
Active Directory cho phép tăng cấp, hạ cấp các domain controller và các máy
chủ thành viên một cách dễ dàng. Các hệ thống có thể được quản lý và được bảo vệ
thông qua các chính sách nhóm Group Policies. Đây là một mô hình tổ chức có thứ
bậc linh hoạt, cho phép quản lý dễ dàng và ủy nhiệm trách nhiệm quản trị. Mặc dù vậy
quan trọng nhất vẫn là Active Directory có khả năng quản lý hàng triệu đối tượng bên
trong một miền.
1.2.Những đơn vị cơ bản của Active Directory
Các mạng Active Directory được tổ chức bằng cách sử dụng 4 kiểu đơn vị hay
cấu trúc mục. Bốn đơn vị này được chia thành forest, domain, organizational unit và
site.
Hình 1
- Forests: Nhóm các đối tượng, các thuộc tính và cú pháp thuộc tính trong Active
Directory.
- Domain: Nhóm các máy tính chia sẻ một tập chính sách chung, tên và một cơ sở dữ
liệu của các thành viên của chúng.
- Organizational unit (OU): Nhóm các mục trong miền nào đó. Chúng tạo nên một
chỉ cần đăng nhập vào miền là có thể truy cập vào các tài nguyên, những tài nguyên
này có thể nằm trên một số các máy chủ khác nhau trong mạng.
Máy chủ được biết đến như PDC, quản lý cơ sở dữ liệu người dùng Master cho
miền. Một hoặc một số máy chủ khác được thiết kế như BDC. PDC gửi một cách định
12
kỳ các bản copy cơ sở dữ liệu đến các BDC. Một BDC có thể có thể đóng vai trò như
một PDC nếu máy chủ PDC bị lỗi và cũng có thể trợ giúp cân bằng luồng công việc
nếu quá bận.
Với Windows 2000 Server, khi domain controller vẫn được duy trì, các role
máy chủ PDC và BDC cơ bản được thay thế bởi Active Directory. Người dùng cũng
không tạo các miền phân biệt để phân chia các đặc quyền quản trị. Bên trong Active
Directory, người dùng hoàn toàn có thể ủy nhiệm các đặc quyền quản trị dựa trên các
OU. Các miền không bị hạn chế bởi một số lượng 40.000 người dùng. Các miền
Active Directory có thể quản lý hàng triệu các đối tượng. Vì không còn tồn tại PDC và
BDC nên Active Directory sử dụng bản sao multi-master replication và tất cả các
domain controller đều ngang hàng nhau.
Organizational units tỏ ra linh hoạt hơn và cho phép quản lý dễ dàng hơn so với
các miền. OU cho phép bạn có được khả năng linh hoạt gần như vô hạn, bạn có thể
chuyển, xóa và tạo các OU mới nếu cần. Mặc dù các miền cũng có tính chất mềm dẻo.
Chúng có thể bị xòa tạo mới, tuy nhiên quá trình này dễ dẫn đến phá vỡ môi trường so
với các OU và cũng nên tránh nếu có thể.
Theo định nghĩa, sites là chứa các IP subnet có các liên kết truyền thông tin cậy
và nhanh giữa các host. Bằng cách sử dụng site, bạn có thể kiểm soát và giảm số lượng
lưu lượng truyền tải trên các liên kết WAN chậm.
1.3.Infrastructure Master và Global Catalog
Một thành phần chính khác bên trong Active Directory là Infrastructure Master.
Infrastructure Master (IM) là một domain-wide FSMO (Flexible Single Master of
Operations) có vai trò đáp trả trong quá trình tự động để sửa lỗi (phantom) bên trong
cơ sở dữ liệu Active Directory.
Phantom được tạo ra trên các DC, nó yêu cầu một sự tham chiếu chéo cơ sở dữ
- Individuals (cá thể, gồm có người, file và tài nguyên chia sẻ, chẳng hạn như
printer)
Một thư mục LDAP có thể được phân phối giữa nhiều máy chủ. Mỗi máy chủ
có thể có một phiên bản sao của thư mục tổng thể và được đồng bộ theo chu kỳ.
14
Các quản trị viên cần phải hiểu LDAP khi tìm kiếm các thông tin trong Active
Directory, cần tạo các truy vấn LDAP hữu dụng khi tìm kiếm các thông tin được lưu
trong cơ sở dữ liệu Active Directory.
1.5.Sự quản lý Group Policy và Active Directory
Khi nói đến Active Directory chắc chắn chúng ta phải đề cập đến Group Policy.
Các quản trị viên có thể sử dụng Group Policy trong Active Directory để định nghĩa
các thiết lập người dùng và máy tính trong toàn mạng. Thiết lập này được cấu hình và
được lưu trong Group Policy Objects (GPOs), các thành phần này sau đó sẽ được kết
hợp với các đối tượng Active Directory, gồm có các domain và site. Đây chính là cơ
chế chủ yếu cho việc áp dụng các thay đổi cho máy tính và người dùng trong môi
trường Windows.
Thông qua quản lý Group Policy, các quản trị viên có thể cấu hình toàn cục các
thiết lập desktop trên các máy tính người dùng, hạn chế hoặc cho phép truy cập đối với
các file hoặc thư mục nào đó bên trong mạng.
Thêm vào đó chúng ta cũng cầm phải hiểu GPO được sử dụng như thế nào.
Group Policy Object được áp dụng theo thứ tự sau: Các chính sách máy nội bộ được
sử dụng trước, sau đó là các chính sách site, chính sách miền, chính sách được sử dụng
cho các OU riêng. Ở một thời điểm nào đó, một đối tượng người dùng hoặc máy tính
chỉ có thể thuộc về một site hoặc một miền, vì vậy chúng sẽ chỉ nhận các GPO liên kết
với site hoặc miền đó.
Các GPO được phân chia thành hai phần riêng biệt: Group Policy Template
(GPT) và Group Policy Container (GPC). Group Policy Template có trách nhiệm lưu
các thiết lập được tạo bên trong GPO. Nó lưu các thiết lập trong một cấu trúc thư mục
và các file lớn. Để áp dụng các thiết lập này thành công đối với tất cả các đối tượng
người dùng và máy tính, GPT phải được tạo bản sao cho tất cả các DC bên trong miền.
3.1. Giới thiệu Directory Services
Directory Services (dịch vụ danh bạ) là hệ thống thông tin chứa trong
NTDS.DIT và các chương trình quản lý, khai thác tập tin này. Dịch vụ danh bạ là một
dịch vụ cơ sở làm nền tảng để hình thành một hệ thống AD. Một hệ thống với những
tính năng vượt trội của Microsoft.
3.2 Các thành phần trong Directory Services :
16
Đầu tiên, bạn phải biết được những thành phần cấu tạo nên dịch vụ danh bạ ?
Bạn có thể so sánh dịch vụ danh bạ với một quyển sổ lưu số điện thoại. Cả hai đều
chứa danh sách của nhiều đối tượng khác nhau cũng như các thông tin và thuộc tính
liên quan đến các đối tượng đó.
3.2.1 Object (đối tượng) :
Trong hệ thống cơ sở dữ liệu, đối tượng bao gồm các máy in, người dùng mạng,
các server, các máy trạm, các thư mục dùng chung, dịch vụ mạng, … Đối tượng chính
là thành tố căn bản nhất của dịch vụ danh bạ.
3.2.2 Attribute (thuộc tính) :
Một thuộc tính mô tả đối tượng. Ví dụ, mật khẩu và tên là thuộc tính của đối
tượng người dùng mạng. Các đối tượng khác nhau có danh sách thuộc tính khác nhau,
tuy nhiên các đối tượng khác nhau cũng có thể có một số thuộc tính giống nhau, lấy ví
dụ như một máy in và một máy trạm, cả hai đều có một thuộc tính là địa chỉ IP.
3.2.3 Schema (cấu trúc tổ chức) :
Một schema định nghĩa danh sách các thuộc tính dùng để mô tả một loại đối
tượng nào đó. Ví dụ, cho rằng tất cả các đối tượng máy in đều được định nghĩa bằng
các thuộc tính tên, loại PDL và tốc độ. Danh sách các đối tượng này hình thành nên
schema cho lớp đối tượng “máy in”. Schema có đặc tính là tùy biến được, nghĩa là các
thuộc tính dùng để định nghĩa một lớp đối tượng có thể sửa đổi được. Nói tóm lại
Schema có thể xem là một danh bạ của cái danh bạ AD.
3.2.4 Container (vật chứa) :
Vật chứa tương tự với khái niệm thư mục trong Windows. Một thư mục có thể
chứa các tập tin và các thư mục khác. Trong AD, một vật chứa có thể chứa các đối
Khi một đối tượng được tạo mới trong Global Catalog, đối tượng được gán một
con số phân biệt gọi là GUID (Global Unique Identifier). GUID được cung cấp cố
định cho dù bạn có di chuyển đối tượng đến khu vực khác.
4 . Kiến trúc của Active Diectory
4.1 . Objects :
Trước khi tìm hiểu khái niệm Object, chúng ta phải tìm hiểu trước hai khái
niệm Object classes và Attributes.
18
- Object classes là một bản thiết kế mẫu hay một khuôn mẫu cho đối tượng mà
bạn có thể tạo ra trong Active Directory. Có 3 loại Object classes thông dụng là : User,
Computer, Printer.
- Attributes là tập các giá trị phù hợp và được kết hợp với một đối tượng cụ thể.
Như vậy, Object là một đối tượng duy nhất được định nghĩa bởi các giá trị được gán
cho các thuộc tính của Object classses.
4.2 Organizational Units :
Organizational Units hay OU là đơn vị nhỏ nhất trong hệ thống Active
Directory, nó được xem là một vật chứa các đối tượng (Object) được dùng để sắp xếp
các đối tượng khác nhau phục vụ cho mục đích quản trị của bạn. OU cũng được thiết
lập dựa trên subnet IP và được định nghĩa là “một hoặc nhiều subnet kết nối tốt với
nhau”. Việc sử dụng OU có hai công dụng chính như sau :
- Trao quyền kiểm soát một tập hợp các tài khoản người dùng, máy tính hay các
thiết bị mạng cho một nhóm người hay một phụ tá quản trị viên nào đó (sub-
administrator), từ đó giảm bớt công tác quản trị cho người quản trị toàn bộ hệ thống.
- Kiểm soát và khóa bớt một số chức năng trên các máy trạm của người dùng
trong OU thông qua việc sử dụng các đối tượng chính sách nhóm (Group Policy).
4.3 Domain :
Domain là đơn vị chức năng nòng cốt của cấu trúc logic Active Directory. Nó
là phương tiện để qui định một tập hợp những người dùng, máy tính, tài nguyên chia
sẻ có những qui tắc bảo mật giống nhau từ đó giúp cho việc quản lý các truy cập vào
các Server dễ dàng hơn.
Giao thức này được mô tả trong các RFC 1533, 1534, 1541 và 1542. Bạn có thể
tìm thấy các RFC này tại địa chỉ Để có thể làm một
DHCP Server, máy tính Windows Server 2003 phải đáp ứng các điều kiện sau:
- Đã cài dịch vụ DHCP.
- Mỗi interface phải được cấu hình bằng một địa chỉ IP tĩnh.
- Đã chuẩn bị sẵn danh sách các địa chỉ IP định cấp phát cho các máy client.
20
Dịch vụ DHCP này cho phép chúng ta cấp động các thông số cấu hình mạng cho các
máy trạm (client). Các hệ điều hành của Microsoft và các hệ điều hành khác như Unix
hoặc Macintosh đều hỗ trợ cơ chế nhận các thông số động, có nghĩa là trên các hệ điều
hành này phải có một DHCP Client.
Cơ chế sử dụng các thông số mạng được cấp phát động có ưu điểm hơn so với cơ chế
khai báo tĩnh các thông số mạng như:
- Khắc phục được tình trạng đụng địa chỉ IP và giảm chi phí quản trị cho hệ thống
mạng.
- Giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ (ISP) tiết kiệm được số lượng địa chỉ IP thật
(Public IP).
- Phù hợp cho các máy tính thường xuyên di chuyển qua lại giữa các mạng.
- Kết hợp với hệ thống mạng không dây (Wireless) cung cấp các điểm Hotspot như:
nhà ga, sân bay, trường học…
2 . HOẠT ĐỘNG CỦA GIAO THỨC DHCP.
Giao thức DHCP làm việc theo mô hình client/server. Theo đó, quá trình tương tác
giữa DHCP client và server diễn ra theo các bước sau:
- Khi máy client khởi động, máy sẽ gửi broadcast gói tin DHCPDISCOVER, yêu cầu
một server phục vụ mình. Gói tin này cũng chứa địa chỉ MAC của máy client.
- Các máy Server trên mạng khi nhận được gói tin yêu cầu đó, nếu còn khả năng cung
cấp địa chỉ IP, đều gửi lại cho máy Client gói tin DHCPOFFER, đề nghị cho thuê một
địa chỉ IP trong một khoản thời gian nhất định, kèm theo là một subnet mask và địa chỉ
của Server. Server sẽ không cấp phát địa chỉ IP vừa đề nghị cho những Client khác
trong suốt quá trình thương thuyết.
24
Hình 6
Nhấp OK để kết thúc quá trình cài đặt DHCP server
4. Nguyên lý làm việc của DHCP
4 bước để cấp thông tin của gói IP address cho DHCP client
+ IP lease request
+ IP lease offer
+ IP lease selection
+ IP lease acknowledgement
4.1. IP Lease Request
Đầu tiên, Client sẽ broadcast một message tên là DHCPDISCOVER, vì client lúc
này chưa có địa chỉ IP cho nên nó sẽ dùng một địa chỉ source(nguồn) là 0.0.0.0 và
cũng vì client không biết địa chỉ của DHCP server nên nó sẽ gửi đến một địa chỉ
broadcast là 255.255.255.255. Lúc này gói tin DHCPDISCOVER này sẽ broadcast lên
toàn mạng.
Gói tin này cũng chứa một địa chỉ MAC (Media Access Control) (là địa chỉ mà
mỗi một network adapter (card mạng) sẽ được nhà sản xuất cấp cho và là mã số để
phân biệt các card mạng với nhau để biết card mạng của mình có MAC address là gì,
vào run > đánh command > ipconfig /all > sẽ hiện ra một đoạn text gồm các
thông tin khác nhau về IP, DNS, default gateway
25