nơi mà giá cao hơn nhiều lần giá chính thức. Điều đó thúc đẩy
gia tăng nạn tham nhũng, buôn lậu dẫn đến tình trạng thâm hụt
ngân sách. Sự mất mát đối với vĩ mô càng nặng nề hơn vì các
doanh nghiệp và hộ gia đình đổ xô vào đầu t vàng và ngoại tệ
mạnh. Kết quả là tỷ lệ tiết kiệm và đầu t nội địa và mất cân đối
với nền kinh tế tự nó đi chệch khỏi trạng thái cân bằng và ngày
càng lao sâu vào khủng hoảng. Đó chính là điều xảy ra với Việt
Nam năm 1985. Khi tình hình kinh tế xấu đi đã buộc chính phủ
phải tiến hành cuộc cải cách đổi thời giá-lơng tiền nhằm ổn
định lại nền kinh tế.
Do những hậu quả mà cơ chế kế hoạch hoá tập trung để lại
cho nền kinh tế Việt Nam, do xu hớng phát triển kinh tế theo cơ
chế thị trờng trên thế giới, do tính năng động của cơ chế thị
trờng , tất cả những yếu tố đó trở thành yếu tố khách quan của
sự chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam. Cải cách kinh tế Việt Nam
nămg1986 đã đem lại một số thành tựu đáng khích lệ nh : Nâng
cao đời sống nhân dân, tăng tính năng động của nền kinh tế, xoá
bỏ tính bao cấp, trì trệ của cơ chế cũ, bớc đầu phát huy đợc nội
lực, kiềm chế và đẩy lùi lạm phát. Từng bớc thực hiện quá trình mang tính quy luật của bớc
chuyển đổi nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
thị trờng có điều tiết vĩ mô của Nhà nớc. Với tự do hoá thơng
mại và tự do hoá giá cả là nhân tố trung tâm đột phá từng bớc
tiến tới cơ chế thị trờng đích thực. Cơ chế này phát huy vai trò
điều tiết của thị trờng, hình thành bớc đầu một thị trờng cạnh
tranh, làm cho hàng hoá đợc lu thông trong suốt, cung cầu
đợc cân đối, thoát khỏi tình trạng khủng hoảng thiếu, giá cả ổn
trờng cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và điều kiện chính trị,
kinh tế xã hội ở nớc ta. Không áp dụng các liệu pháp xốc vừa là
đặc điểm vừa là quan điểm quan trọng của quá trình chuyển đổi
cơ chế kinh tế. Xuất phát từ đặc điểm kinh tế trong nớc và quan
hệ kinh tế với bên ngoài, chúng ta đã áp dụng cơ chế thị trờng từng bớc. Điều quan trọng là cơ chế này đợc nhân dân đồng
tình và đã phát huy đợc hiệu quả .
b. Vấn đề lợi nhuận trong nên kinh tế thị trờng hiện nay.
Kinh tế thị trờng là kinh tế hàng hoá phát triển ở trình độ
cao, là kiểu tổ chức kinh tế-xã hội là toàn bộ quá trình sản xuất
đến tiêu dùng gắn liền với thị trờng.
Kinh tế thị trờng không chỉ là công nghệ, kỹ thuật mà còn là
quan hệ xã hội, không chỉ bao hàm hai yếu tố là lực lợng và
quan hệ sản xuất.
Kinh tế thị trờng phụ thuộc vào hình thức sỡ hữu mà trong
đó nó phụ thuộc vào chế độ sở hữu thống trị.
Không có kinh tế thị trờng chung chung, thuần tuý trừu
tợng tách khỏi các hình thái kinh tế-xã hội, tách rời chế độ xã
hội. Tích cực, tiêu cực của nền kinh tế thị trờng đến đâu còn
phụ thuộc vào chế độ xã hội, vai trò Nhà nớc, chính sách xã hội
của Nhà nớc. Mục đích của kinh tế thị trờng:
Lợi nhuận là một mục đích của kinh tế thị trờng. Kinh tế
thị trờng ở nớc ta cũng nhằm mục đích lợi nhuận nhng không
theo đuổi lợi nhuận một cách đơn thuần mà xuất phát từ đặc
điểm của nớc ta là nớc xã hội chủ nghĩa là không thay đổi. Vì
hiệu quả cân bằng và ổn định Nhà nớc dùng luật pháp, kế hoạch
định hớng và chính sách kinh tế dẫn dắt thị trờng phát triển
hùng mạnh, dùng chính sách phân phối và điều tiết đảm bảo
phúc lợi cho toàn dân và thực hiện công bằng xã hội. Chơng III
ý nghĩa vấn đề nghiên cứu và ý kiến cá nhân
Qua quá trình nghiên cứu ta thấy lợi nhuận là nhân tố ảnh
hởng trực tiếp là cơ sở cho mọi nền kinh tế. Và cùng với những
hiểu biết về vai trò cũng nh hạn chế của lợi nhuận áp dụng vào
đặc điểm của cơ chế kinh tế cũng nh đặc điểm về chính trị hoạt
động nói lên sự thành công của kinh tế thị trờng định hớng xã
hội chủ nghĩa không thể dừng lại ở tốc độ tăng trởng mà đi kèm
với tăng trởng phải không ngừng nâng cao chất lợng cuộc sống
với tiền lơng và thu nhập kinh tế tăng trởng mạnh, y tế, giáo
dục phát triển, sự văn hoá giàu nghèo không làm ảnh hởng lớn tới phúc lợi xã hội hay làm đảo lộn vị trí xã hội tơng đối của đa
dân chúng. Cơ chế thị trờng không thể xuống cấp thậm chí tha
hoá trong các lĩnh vực văn hoá, xã hội, các quan hệ và đạo đức
truyền thống trong xã hội.