MỤC LỤC
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
DỊCH VỤ THƯƠNG MẠI ĐẦU TƯ THÁI ANH VÀ HÀNG MAY MẶC
XUẤT KHẨU
1.1 Khái quát chung về Hàng may mặc xuất khẩu
1.1.1 Hàng may mặc xuất khẩu
Hàng may mặc là mặt hàng đáp ứng nhu cầu thiết yếu thứ hai cho con
người, đó là nhu cầu mặc. Ngày nay, con người không chỉ cần “mặc ấm”, mà họ
hướng tới một tầm cao hơn, đó là “mặc đẹp”. Vì vậy, nhu cầu về hàng may mặc
liên tục thay đổi theo thị hiếu, khiến cho ngành dệt may trở thành một ngành công
nghiệp không thể thiếu trong mọi thời đại. Xuất phát từ phương Tây với ngành
công nghiệp dệt nổi tiếng của Anh Quốc, và nhất là sau cuộc cách mạng công
nghiệp vĩ đại, dệt may dần dần được phát triển ở khắp nơi trên thế giới. Ở các
nước phát triển, nói đến dệt may là nói đến những thương hiệu nổi tiếng toàn cầu.
Trong khi đó, tại các nước đang phát triển, dệt may mới chỉ dừng lại ở gia công
quốc tế và xây dựng thương hiệu trong phạm vi nội địa. Tại Việt nam hiện nay có
một số thương hiệu đã và đang phát triển như: May Nhà Bè, May Việt Tiến; May
10… Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may vừa và nhỏ phần lớn là
các doanh nghiệp gia công.
Dệt may Việt Nam được biết đến như một địa chỉ quen thuộc cho các
doanh nghiệp nước ngoài đặt hàng gia công, bởi vì ngành sản xuất hàng may mặc
ở Việt Nam có những thuận lợi nhất định sau đây:
Thứ nhất: gia công xuất khẩu hàng dệt may là một trong những ngành
nghề có truyền thống lâu đời của Việt Nam. Thậm chí, từ trước khi lô hàng dệt
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
1
may đầu tiên của Việt Nam được xuất sang nước ngoài, ngành dệt may vẫn đáp
ứng đủ nhu cầu của thị trường nội địa. Hơn nữa, con người Việt Nam tự cổ chí
kim đã khéo léo, cần cù, có khả năng làm ra những sản phẩm có chất lượng và đặc
chủng.
Thứ hai: giá gia công và chi phí sản xuất thường ở mức mà các doanh
Như vậy, hàng dệt may là một trong những mặt hàng có vai trò quan
trọng nhất trong số những mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam, nhưng đồng thời
cũng là mặt hàng chịu rất nhiều ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
1.1.2 Khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu là sự suy giảm các hoạt động kinh tế kéo
dài, với mức độ nghiêm trọng lớn hơn rất nhiều so với suy thoái kinh tế.
Lịch sử đã từng chứng kiến những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn như
cuộc khủng hoảng thừa 1929-1933, khủng hoảng tài chính tiền tệ Châu Á 1997; và
hiện nay thế giới lại đang phải đối mặt với một cuộc đại khủng hoảng bắt nguồn
từ nước Mỹ và đã lan rộng ra toàn thế giới. Sức tàn phá của những cuộc khủng
hoảng này vô cùng lớn. Chúng làm sụp đổ cả một hệ thống tài chính tiền tệ, gây
hoang mang cho các nhà đầu tư và các nhà chức trách và cũng là nguyên nhân của
thất nghiệp, nghèo đói, tệ nạn…
Cuộc khủng hoảng thừa năm 1929-1933 được coi là một cuộc đại khủng
hoảng kinh tế. Theo đó, GDP của toàn thế giới giảm 25%, tỷ lệ thất nghiệp lên
đến hơn 25%. Sau khoảng thời gian bốn năm đó, nền kinh tế đã nhích theo chiều
hướng đi lên, nhưng phải đến gần 10 năm sau tức là năm 1939 mới đạt lại được
giá trị GDP của năm 1929. Cuộc khủng hoảng này chỉ thực sự được giải quyết do
chi tiêu của chính phủ cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai. Đây là thời kì
khủng hoảng lớn và dài nhất trong lịch sử cận đại và lan rộng trên toàn thế giới.
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
4
Khủng hoảng bắt nguồn từ việc tăng nợ quá nhiều nhằm tài trợ chi tiêu,
sản xuất tăng mạnh, thị trường chứng khoán do đó cũng tăng mạnh. Thị trường
cho rằng giá trị chứng khoán chỉ có lên chứ không xuống, dù nó vượt ngoài giá trị
thực của nó. Khi chứng khoán xuống, người tiêu dùng thấy mình nghèo đi, và mất
khả năng trả nợ, nên phải giảm chi; kéo theo việc thu hẹp quy mô sản xuất. Trong
thời kì khủng hoảng 1929-1933 có đến 9.000 ngân hàng phá sản. Người đầu tư
vào ngân hàng vì thế mà trở nên trắng tay. Niềm tin vào thị trường và vào ngân
hàng hoàn toàn suy sụp. Tín dụng gần như không còn để cung ứng cho sản xuất.
hành làm thí điểm thủ tục xuất nhập khẩu tại Chi cục Hải quan điện tử Hải Phòng.
Đây là một bước phát triển mới trong công đoạn làm thủ tục Hải quan cho hàng
hóa xuất nhập khẩu, và cũng là một hướng đi mới cho đại lý khai thuê Hải quan
Thái Anh và các doanh nghiệp có hàng xuầt nhập khẩu. Doanh thu từ dịch vụ khai
thuê hải quan năm 2008 của Thái Anh là trên 33 tỷ đồng.
Là một doanh nghiệp tiên phong, Thái Anh nhanh chóng tìm được nhiều
bạn hàng và trở thành một tên tuổi được nhiều doanh nghiệp tin cậy. Từ các mối
quan hệ tốt với bạn hàng, sau ba năm kể từ khi đại lý Hải quan đi vào hoạt động,
Thái Anh đã mở rộng lĩnh vực hoạt động sang sản xuất hàng dệt may xuất khẩu.
Một nhà máy may đã được xây dựng tại thị trấn An Lão, Hải Phòng và đi vào hoạt
động từ tháng 8 năm 2005.
Nhà máy bắt đầu với việc gia công lại cho các đơn vị trong nước. Không
những đơn giá gia công thấp, mà hơn nữa, nhà máy lại không chủ động được đơn
hàng. Đây là khó khăn lớn nhất đối với bất kì một nhà máy nào. Nhưng bằng sự
nỗ lực của đội ngũ cán bộ công nhân viên và sự hỗ trợ đặc biệt của Ngân hàng
Phát triển Việt Nam, nhà máy đã vượt qua giai đoạn khó khăn. Thái Anh đã kí
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
6
hợp đồng trực tiếp xuất khẩu hàng sang các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản;
và các khách hàng gia công xuất khẩu lớn như Seident, Itochu, Acent…và các
khách hàng sản xuất xuất khẩu như Fishman & Tobin. Sản lượng hàng hóa của
Thái Anh đã lên đến 1 triệu sản phẩm một năm, tương ứng với mức doanh thu
27,55 tỷ đồng.
Cho đến nay, Thái Anh đồng thời hoạt động sản xuẩt hàng may mặc
xuất khẩu, khai thuê Hải quan và cung cấp dịch vụ vận tải.
1.2.2 Những lĩnh vực hoạt động của Công ty Cổ Phần Dịch vụ Thương mại
Đầu tư Thái Anh
Theo giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh, công ty Cổ phần Thương mại
Dịch vụ Đầu tư Thái Anh đã đăng kí nhiều lĩnh vực, bao gồm: dịch vụ đại lý Hải
quan, dịch vụ vận tải, sản xuất hàng may mặc và da giầy, mua bán cầm cố bất
1.2.3 Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn lao động của Công ty Cổ Phần Dịch
vụ Thương mại Đầu tư Thái Anh
Công ty Thái Anh, như đã nói ở trên, bao gồm ba lĩnh vực hoạt động
chính, do đó cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng của công ty bao gồm nhiều thành
phần, cụ thể như sau:
Cơ sở hạ tầng: bao gồm nhà máy, nhà ăn và nơi ở cho công nhân, kho
nguyên vật liệu,… thuộc khuôn viên nhà máy đặt tại An Lão và văn phòng đại
diện đặt tại Hải Phòng.
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
8
Máy móc thiết bị và phương tiện vận tải: toàn bộ nhà máy được trang bị
với hệ thống máy may và thiết bị đồng bộ, đáp ứng được yêu cầu của các bạn
hàng nước ngoài. về phương tiện vận tải, hiện nay tại Thái Anh đang có trên 20 xe
tải và xe container, trên 10 container cả loại 20’’ và 40’’.
Về nguồn lao động: tại Thái Anh hiện nay có khoảng trên 20 nhân viên
văn phòng, trên 20 nhân viên hiện trường và khoảng gần 600 công nhân may và
nhân viên kỹ thuật.
Nguồn lao động của nhà máy may phần lớn là lao động địa phương
(thường trú tại huyện An Lão thành phố Hải Phòng). Số lượng công nhân viên
ngoại tỉnh không nhiều nhưng nhà máy vẫn đáp ứng đầy đủ nơi ăn chốn ở cho
công nhân, kể cả ngoại tỉnh và những công nhân địa phương có nhu cầu.
1.2.4 Giới thiệu hàng may mặc xuất khẩu của công ty Cổ Phần Dịch vụ
Thương mại Đầu tư Thái Anh
Hàng may mặc xuất khẩu của Thái Anh phần lớn được xuất đi các thị
trường tầm cỡ như EU, Mỹ và Nhật Bản. Khách hàng truyền thống của Thái Anh
như Itochu, Fishman & Tobin, Seident Sticker, Acent,… đều là những tập đoàn
lớn trong ngành hàng may mặc. Đó là một lợi thế rất lớn tạo điều kiện cho Thái
Anh đa dạng hóa chủng loại hàng hóa phù hợp với xu hướng chung của thị trường.
Ngoài mặt hàng gia công xuất khẩu, Thái Anh còn đảm nhận các đơn hàng kinh
doanh cũng như mặt hàng thời trang. Đặc biệt, trong tình hình khó khăn từ năm
kim ngạch), Châu Âu (chiếm 18%) và Nhật Bản (chiếm 12%); thì cả ba thị trường
này đều có dấu hiệu suy giảm mạnh.
Những tháng cuối năm 2008, tình hình suy thoái kinh tế thế giới tác
động mạnh mẽ đến ngành dệt may Việt Nam. Các doanh nghiệp thực sự đứng
trước những khó khăn thách thức. Tại thời điểm đó, tổng số lao động toàn ngành
dệt may của Việt Nam là gần 2 triệu người. Riêng cánh chim đầu đàn là Tập đoàn
dệt - may Việt Nam có 120 nghìn lao động (chiếm 7 % số lao động toàn ngành) và
kim ngạch xuất khẩu chiếm 20 % toàn ngành. Trước tình hình thị trường xuất
khẩu và sức mua đang giảm sút rõ rệt, trong khi lượng hàng xuất khẩu đã chiếm
tới 80 %, một số doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất hàng dệt may đã phải ngừng
sản xuất, giảm lao động.
Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong năm 2008 đạt
9.1 triệu USD, chỉ đạt 95.79 % chỉ tiêu đặt ra đầu năm (9.5 triệu USD). Tuy nhiên,
với hoàn cảnh khó khăn chung đối với nền kinh tế toàn cầu, con số 9.1 triệu USD
vẫn là một dấu hiệu khả quan đáng khích lệ cho ngành dệt may Việt Nam.
Sang đến hai tháng đầu năm 2009, ngành dệt may vẫn tiếp tục đối mặt
với khó khăn. Số lượng đơn hàng tiếp tục giảm mạnh, sản xuất đình trệ. Chính vì
vậy, mục tiêu trước mắt của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không phải là
tăng trưởng doanh số hay lợi nhuận, mà là làm thế nào để tồn tại.
Theo Hội Dệt may thêu đan TP Hồ Chí Minh, số lượng đơn hàng xuất
khẩu dệt may của các doanh nghiệp lĩnh vực này đóng trên địa bàn TPHCM đã
giảm gần 40% so với cùng kỳ năm trước. Khó khăn từ các doanh nghiệp khiến
hàng ngàn công nhân may đối mặt với nguy cơ thất nghiệp. Đa số doanh nghiệp bị
giảm đơn đặt hàng là đơn vị có vốn đầu tư nước ngoài. Tình hình này cũng tương
đối dễ hiểu, bởi vì khó khăn của các doanh nghiệp nước ngoài đã khiến cho họ
phải cắt giảm nguồn vốn đầu tư. Khi đó, các doanh nghiệp của Việt Nam vấp phải
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
11
một sự thay đổi đột ngột về quy mô sản xuất, công nhân thừa thãi, không có việc
làm là một hệ quả tất yếu. Lấy một ví dụ cụ thể: tỉnh Bình Dương là nơi tập trung
Không những thế, trong tình hình khó khăn chung, các khách hàng nước
ngoài cũng trở nên khắt khe hơn đối với hàng hóa của Việt Nam. Trước đây, khi
nền kinh tế vẫn đang đà phát triển như bình thường, thì phẩm chất hàng hóa, nhất
là hàng gia công được đòi hỏi không quá cao. Nhưng trong hoàn cảnh hiện nay,
chính các khách hàng nước ngoài cũng vô cùng khó khăn với việc tiêu thụ hàng
may mặc nhập khẩu và hàng thuê gia công; kéo theo rủi ro hàng may mặc của
doanh nghiệp Việt Nam bị từ chối hoặc bị trả lại do chất lượng không đảm bảo.
Ngoài ra, các mối quan hệ bạn hàng của doanh nghiệp Việt Nam và
nước ngoài cũng có nguy cơ bị mai một do ảnh hưởng của tình hình kinh tế như
hiện nay cũng như rất nhiều những rủi ro khác. Trong đó, hai nguy cơ chủ yếu có
thể diễn ra với ngành dệt may xuất khẩu của Việt Nam là:
Thứ nhất: từ trước tới nay, sản phẩm của Việt Nam lấy trọng tâm phát
triển hàng cao cấp khá nhiều, nhưng trong bối cảnh kinh tế suy giảm, phân đoạn
hàng cao cấp cũng sẽ bị thu hẹp bởi người tiêu dùng tiết kiệm chi tiêu từ cao cấp
xuống trung cấp.
Thứ hai: sự cạnh tranh về giá đối với những nước sản xuất lớn như
Trung Quốc, Banglades, Indonesia, Ấn Độ hết sức khốc liệt. Ngay với thị trường
trong nước cũng không ngoại trừ khả năng trong những tháng tới, hàng dệt may
Trung Quốc sẽ được đẩy sang Việt Nam với khối lượng tương đối lớn.
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
13
Ngành sản xuất hàng dệt may xuất khẩu vừa phải đương đầu với những
khó khăn nội tại, vừa phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng hoá nước ngoài.
Nguyên nhân dẫn tới thực trạng đã trình bày ở trên của ngành may mặc
xuất khẩu chính là khủng hoảng kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ khủng hoảng nhà
đất và chứng khoán Mỹ đầu năm 2008. Cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng đến
tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế và lan rộng ra khắp các quốc gia trên thế giới.
Các hoạt động kinh tế giảm sút mạnh mẽ kéo theo tình hình xuất nhập khẩu của
Việt Nam với các thị trường quốc tế cũng hết sức khó khăn. Các công ty mẹ và
bạn hàng ở nước ngoài bắt buộc phải thu hẹp quy mô sản xuất và đầu tư ra nước
triển khai 3 chương trình:
Chương trình sản xuất vải dệt thoi phục vụ xuất khẩu đến năm 2015,
Chương trình phát triển cây bông,
Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt may.
Tuy nhiên, việc thực hiện 3 chương trình trên còn gặp nhiều khó khăn do
việc bố trí đất của nhiều địa phương gặp khó khăn, nhất là đất để xây dựng các
khu công nghiệp dệt nhuộm, đất cho việc trồng bông có tưới; và giải quyết chuyển
đổi mục đích sử dụng đất của các doanh nghiệp khi thực hiện kế hoạch di dời các
nhà máy ra khỏi các khu đô thị. Việc bố trí vốn cho các chương trình này cũng
gặp khó khăn; đặc biệt là chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành dệt
may, vốn đầu tư cho hạ tầng của chương trình trồng bông có tưới, chính sách thuế
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
15
VAT đối với vải phục vụ cho xuất khẩu, hoàn thuế đối với bông thu mua của nông
dân, việc hình thành quỹ hỗ trợ để phát triển bông
Mặt khác, trong thời gian, qua các ngành cũng đã xem xét giải quyết một
số yêu cầu của các Hiệp hội nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, cụ thể như
sau:
- Giảm mức thuế suất thuế nhập khẩu xơ sợi tổng hợp từ 3% xuống 0%.
(Quyết định số 123/2008/QĐ-BTC ngày 26 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ
Tài chính).
- Không truy thu thuế nhập khẩu đối với nguyên phụ liệu, phế liệu, phế
phẩm may mặc dư thừa còn có giá trị thương mại sau quá trình gia công với tỷ lệ
nhỏ hơn hoặc bằng 3% so với số nguyên liệu thực nhập để thực hiện gia công sản
xuất sản phẩm xuất khẩu khi doanh nghiệp bán vào thị trường nội địa
Mặt khác, Chính phủ cũng đưa ra những thông tin tư vấn hữu ích. Trước
hết, các doanh nghiệp dệt may và da giày cần chủ động tìm thị trường xuất khẩu
mới. Bên cạnh đó, cần tích cực và chủ động kiểm soát để Hoa Kỳ không tái áp
dụng chống bán phá giá. Với thị trường EU: cần tạo điều kiện để kiểm tra và giám
sát tại Việt Nam. Phía EU cũng bước đầu công nhận Việt Nam không bán phá giá
được thêm các đối tác mới.
Trong năm 2008, mặc dù bị ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế toàn
cầu nhưng Thái Anh vẫn duy trì được số lượng đơn hàng. Đơn đặt hàng của các
khách hàng truyền thống có giảm nhưng lượng giảm không đáng kể. Fishman &
Tobin và Itochu vẫn là hai khách hàng truyền thống lớn nhất của Thái Anh. Mặt
khác, công tác tìm kiếm thị trường tiêu thụ được thực hiện khá tốt nên nhà máy
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
17
không những có thêm nhiều đơn hàng từ các đối tác khác, mà còn thử sức với mặt
hàng quần áo thời trang vốn không phải sở trường của Thái Anh, và được khách
hàng hết sức ủng hộ.
Sau đây là thông tin về sản lượng sản xuất của nhà máy Thái Anh trong
năm 2008
Nguồn: Báo cáo sản xuất năm 2008 của CTY CP DV TM ĐT Thái Anh
Đơn vị: chiếc
(Bảng số 3)
Biểu đồ trên cho thấy áo sơ mi vẫn là loại sản phẩm được thị trường
chấp nhận nhiều nhất, và đồng thời đó cũng là mặt hàng lợi thế của Thái Anh.
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
18
Ngoài việc thực hiện tốt những đơn hàng gia công xuất khẩu, Thái Anh
còn đảm nhận thêm nhiều đơn hàng sản xuất nội địa. Tuy nhiên, đơn hàng gia
công xuất khẩu vẫn chiếm tỷ trọng ưu thế (trên 90%)
Năm 2009, tình hình việc làm và đời sống của công nhân tại nhà máy
được duy trì ở mức ổn định. Việc làm không nhiều như năm 2008, nhưng không
có công nhân nào phải nghỉ việc. Mọi chế độ đối với công nhân viên được công ty
thực hiện đầy đủ theo quy định của nhà nước, như phụ cấp, thai sản, tai nạn lao
động… Ngoài ra, công ty còn liên tục mở thêm nhiều lớp học may cho các học
viên mới nhằm đào tạo công nhân có tay nghề làm tại nhà máy sau này. Không
những thế, Thái Anh còn trợ cấp cho công nhân viên một phần tiền ăn, cụ thể là
tuyển sinh các lớp công nhân mới ngoài lợi ích về mặt mở rộng quy mô sản xuất
còn là một khó khăn không nhỏ đối với công ty. Tay nghề không đồng đều của
công nhân khiến cho chất lượng sản phầm cũng không đồng đều, thậm chí hàng
lỗi nhiều, ảnh hưởng lớn đến tiến độ của đơn hàng và uy tín của công ty. Để giải
quyết vấn đề này, Thái Anh đã không ngừng đào tạo nâng cao tay nghề cho công
nhân. Tuy nhiên, nỗ lực đó chưa đem lại nhiều hiệu quả thực sự.
Thứ hai: năng suất của nhà máy chưa được tận dụng một cách hiệu quả.
Đây là hệ quả của việc đơn hàng không đều đặn như trước. Công việc của các
nhân viên kế hoạch trở nên khó khăn hơn, vì tại cùng một thời điểm Thái Anh
phải đảm nhận quá nhiều đơn hàng, nhưng có những lúc số lượng đơn hàng lại
thưa thớt. Như vậy tổng lượng hàng đảm nhận không quá nhiều mà tốc độ hao
mòn của máy móc lại cao hơn.
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
20
Thứ ba: chỗ ăn và chỗ ở của công nhân mới chỉ đảm bảo về số lượng,
cần phải cải thiện về chất lượng nhiều hơn. Khuôn viên của nhà máy được đặt tại
ngoại thành và công nhân của nhà máy phần lớn là người địa phương nên điều
kiện ăn và ở tại nhà máy chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu. Số lượng nhân viên
văn phòng tại nhà máy không nhiều, nhưng nhân viên văn phòng và công nhân
nhà máy được phục vụ một chế độ như nhau. Công ty Thái Anh hoàn toàn có thể
thực hiện chế độ bình đẳng; tuy nhiên, để động viên tinh thần làm việc của toàn bộ
công nhân viên thì Thái Anh nên chú ý đổi mới lại chế độ lao động và đãi ngộ.
Có thể nói Thái Anh là một “công ty gia đình”: không những phần lớn
cổ phần thuộc về một số người trong gia đình, mà nhân viên trong công ty cũng
phần lớn là người có quan hệ gia đình với ban lãnh đạo. Đây là một vấn đề khá tế
nhị, nhưng rất nên đề cập. Ban lãnh đạo phải chú trọng hơn nữa đến việc sắp xếp
đúng người, đúng việc, để các nhân viên an tâm với công việc ổn định của mình.
Đó cũng là một cách để thực hiện bình đẳng trong công việc, nhằm tạo ra sự mãn
nguyện của các cán bộ công nhân viên với công việc hiện tại của mình, nhờ đó họ
sẽ làm việc có hiệu quả hơn.
hết 50% khuôn viên của cơ sở hạ tầng. Việc mở rộng nhà máy là điều tất yếu
trong tương lai.
Về hoạt động khai thuê Hải quan và hoạt động vận tải, chiến lược phát
triển của Thái Anh cũng tương tự, có nghĩa là cải thiện hệ thống phương tiện cũng
như nhân sự. Việc phát triển đồng thời ba hoạt động chính của công ty: sản xuất
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
22
hàng may mặc, dịch vụ khai thuê Hải quan và dịch vụ vận tải là mấu chốt để công
ty tận dụng được hiệu quả nguồn lực của mình.
Hiện nay, nhà máy sản xuất hàng may mặc vẫn là trung tâm của Thái
Anh, và nhiệm vụ chính của hai dịch vụ còn lại vẫn là hỗ trợ cho nhà máy. Trong
tương lai, Thái Anh hướng đến việc phát triển cả ba nhân tố trên với quy mô lớn
tương đương nhau. Đối với đại lý Hải quan, nhiệm vụ đó không hề quá sức; bởi vì
nhu cầu của các doanh nghiệp về đại lý Hải quan rất lớn. Đối với dịch vụ vận tải,
để xây dựng nhân tố này thành một lĩnh vực độc lập với quy mô lớn, Thái Anh
cần phải đầu tư thêm nhiều thời gian và chi phí.
Trong tương lai, Thái Anh phấn đấu trở thành một thương hiệu lớn, tìm
được chỗ đứng cho mình không chỉ trong thị trường hàng gia công hàng may mặc
xuất khẩu mà còn hướng tới thị trường thời trang nội địa.
3.2 Một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho công ty CP DV TM ĐT Thái Anh
Trong thời gian qua, công ty CP DV TM ĐT Thái Anh đã thực hiện
nhiều giải pháp nhằm dần dần khắc phục những khó khăn mà cuộc khủng hoảng
kinh tế toàn cầu mang lại.
Thứ nhất: công ty đã không ngừng tìm kiếm đơn hàng. Công tác nghiên
cứu thị trường được thực hiện một cách nghiêm túc. Nhờ vậy, hoạt động sản xuất
của nhà máy vẫn được duy trì ở mức ổn định.
Thứ hai: các cán bộ kế hoạch của nhà máy đã thay đổi cách làm việc cho
phù hợp với sự không đồng đều của các đơn hàng. Trước đây, đơn hàng nào đến
trước thì được ưu tiên xử lý trước. Nhưng trong điều kiện hiện nay: đơn hàng có
lúc đến ồ ạt, có lúc thưa thớt và thời gian thực hiện đơn hàng là lâu dài với số
cách này chỉ nên áp dụng với một điều kiện mọi con dấu và giấy tờ phải được bảo
mật hoàn toàn, chỉ những người có thẩm quyền mới được sử dụng.
Bên cạnh đó, Thái Anh nên đầu tư nhiều hơn cho thị trường trong nước.
Đây là một con đường mạo hiểm. Nhưng Thái Anh hoàn toàn có đủ khả năng để
sản xuất. Vấn đề duy nhất với giải pháp này là việc thiết kế mẫu mã cho hàng nội
địa. Mẫu mã sản phẩm tiêu thụ trong nước, nhất là mặt hàng gia công, không yêu
cầu quá cao; chỉ cần đi theo xu hướng hiện tại và giá cả hợp lý là có khả năng tiêu
thụ được.
Mặt khác, mô hình công ty gia đình như Thái Anh không phải là không
có mặt trái của nó. Thái Anh có thể tận dụng những nhân lực có trình độ trong gia
đình, tuy nhiên, cũng cần phải phân bổ nhiệm vụ và quyền lợi một cách bình đẳng
và phù hợp cho tất cả các công nhân viên. Như vậy, các cán bộ công nhân viên
mới có thể toàn tâm toàn ý trung thành với công ty; ban lãnh đạo mới khẳng định
được uy tín và vai trò của mình.
3.3 Một số kiến nghị với Chính phủ
Về chính sách hỗ trợ: chính phủ cần có những biện pháp hỗ trợ hiệu quả
và có tính chắc chắn hơn, ví dụ như cam kết tìm việc làm mới cho những lao động
bị cắt giảm do khủng hoảng kinh tế. Để thực hiện được điều này, chính phủ phải
là cầu nối của tất cả các kênh thông tin giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp
cũng cần phải cung cấp thông tin một cách đầy đủ và trung thực cho các cơ quan
chính phủ để việc thống kê được chính xác; đồng thời giúp cho chính phủ có một
cái nhìn thực tế về tình hình lao động; từ đó có những chính sách phù hợp để điều
tiết việc làm cho công nhân.
Trương Thị Vân Anh - Lớp Anh 13, K44D, KTĐN
25