Tiểu luận
Phát triển nguồn nhân lực
phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
nông nghiệp, nông thôn
MỤC LỤC
Nh ng v n t ra phát tri n ngu n nhân l c ữ ấ đề đặ để ể ồ ự 25
Đề tài nghiên cứu
Phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn.
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát
triển linh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người …
Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất
quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến
nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật
hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác
các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong
muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công
cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con
người Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá,
giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan
trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh. Vậy nguồn nhân lực là gì?
1. Khái niệm nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực.
1.1 Khái niệm nguồn nhân lực.
Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể
hiểu: nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng
lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm
lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của
cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', một
nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển
Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển
các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất
cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư
có tinh chiến lược , là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực.
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều
cách hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của
Liên hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng
tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất
lượng cuộc sống. nguồn nhân lực.
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực: là gia tăng giá trị cho
con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng
nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và
phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng
của sự phát triển kinh tế - xã hội.
Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng lực
của con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng,
khai thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công
lao động và giải quyết việc làm để phát triển kinh tế- xã hội.
Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực của một quốc
gia: chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt
thể lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những
biến đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực . Nói một cách khái quát nhất, phát
hiện đại và nâng cao chất lượng NNL. Trong đó động lực quan trọng nhất của sự
tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là NNL CLC, tức
là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh
nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân
lực”. Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết liệt, phần
thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNL CLC, có môi trường pháp lý thuận lợi
cho đầu tư, có môi trường chính trị- xã hội ổn định.
2. Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
2.1 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Từ cuối thế kỉ thứ XVIII đến nay, trong lịch sử đã diễn ra các loại công
nghiệp hoá khác nhau : Công nghiệp hoá tư bản chủ nghĩa và công nghiệp hoá xã
hội chủ nghĩa. Các loại công nghiệp hoá này, xét về mặt lực lượng sản xuất, khoa
học và công nghệ là giống nhau. Song chúng có sự khác nhau về mục đích, về
phương thức tiến hành, về sự chi phối của quan hệ sản xuất thống trị. Công nghiệp
hoá diễn ra ở các nước khác nhau, vào những thời điểm lịch sử khác nhau, trong
những điều kiện kinh tế-xã hội khác nhau, do vậy nội dung khái niệm có sự khác
nhau.
Tuy nhiên, theo nghĩa chung, khái quát nhất, công nghiệp hoá là quá
trình biến một nước có nền kinh tế lạc hậu thành một nước công nghiệp.
Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại
về công nghiệp hoá vào điều kiện lịch sử cụ thể của nước ta hiện nay, Đảng ta nêu
ra quan niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá như sau : Công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và quản lí kinh tế-xã hội, từ sử dụng sức lao động thủ công là
chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện,
phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ
khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.
Quan niệm nêu trên cho thấy, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
nước ta phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung công nghiệp hoá và hiện đại hoá trong
quá trình phát triển. Qúa trình ấy, không chỉ đơn thuần phát triển công nghiệp mà
Tổ chức phát triển công nghiệp của liên hợp quốc(unipo)đã dua ra định
nghĩa sau:”công nghiệp hóa là quá trình phát triển kinh tế trong ddosmootj bộ phạn
nguồn lục quốc gia ngày càng lớn được xây dựng để huy động cơ cáu kinh tế nhiều
ngành với công nghệ hiện đại để chế tạo ra các phương tiện sản xuất hàng tiêu
dùng có khả năng bảo đảm nhịp độ tăng cường cao trong nền kinh tế và đảm bảo
sự tiến bộ kinh tế xã hội”.
Công nghiệp hóa nông thôn: theo tinh thần của đại hội đảng toàn quốc trung
ương lần thứ 7(lần thứ VII) công nghiệp hóa nông thôn là quá trình chuyển giao cơ
cấu kinh tế, gắn liền với việc chuyển đổi mới cơ bản về công nghệ và kĩ thuật ở
nông thôn, tạo nền tảng cho phát triển nhanh, bền vững theo hướng nâng cao hiệu
quả kinh tế ở nông thôn, góp phần phát triển bền vững nền kinh tế quốc dân với
tốc độ cao.
Công nghiệp hóa nông nghiệp: đây là một bộ phận của công nghiệp nông
thôn. Nội dung chủ yếu là đua ra các máy móc thiết bị, ứng dụng các phương pháp
sản xuất kiểu công nghiệp, các phương pháp và hình thức kiểu công nghiệp vào
lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Công nghiệp hóa nông nghiệp còn bao hàm cả việc tạo ra gắn bó chặt chẽ
giữa sản xuất công nghiệp và sản xuất nông nghiệp, nâng cao hàm lượng chế biến
sản phảm của nông nghiệp để tăng giá trị của chúng, mở rộng thị trường của
chúng.
Hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn: Đây là quá trình nâng cao trình độ
khoa học- kĩ thuật vào công nghệ sản xuất và đời sống của nông thôn, cải thiện và
hoàn thiện tổ chức sản xuất và tổ chức đời sống ở nông thôn, tạo ra một nền sản
suất có triinhf độ ngày càn cao, cuộc sống ngày càng văn minh tiến bộ.
Hiện đại hóa nông thôn: Quá trình này không chỉ bao gồm công nghiệp hóa,
nâng co trình độ kĩ thuật công nghệ và tổ chức trong lĩnh vực khác của sản xuất vật
chất ở nông thôn mà còn bao gồm không ngừng việc nâng cao đời sống văn hóa
tinh thần, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, hệ thống giáo dục đào tạo,y te
và dịch vụ phục vụ dời sống khác ở nông thôn. Về bản chất , hiện đại hóa là quá
trình phát triển toàn diện có kế thừa ở nông thôn.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khoá VII của Đảng ta (1994) chỉ rõ: “CNH,
HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh,
dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng
một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên
tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.
a) Tính tất yếu của công nghiệp hóa - hiện đại hóa
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu hướng phát triển của các nước trên
thế giới. Đó cũng là con đường phát triển tất yếu của nước ta để đi lên mục tiêu "Xã
hội công bằng văn minh, dân giàu nước mạnh" công nghiệp hoá, hiện đại hoá không
chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi cách mạng sâu sắc
với lĩnh vực đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, khoa học của con người…) làm cho xã
hội phát triển lên một trạng thái mới về chất. Sự thành công của quá tình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài mới trường chính trị ổn định, phải có nguồn lực cần
thiết như nguồn lực con người, vốn tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Các
nguồn lực này quan hệ chặt chẽ với nhau. Cùng tham gia vào quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ tác động vào vai trò của chúng đối với toàn bộ quá
trình công nghiệp hoá hiện đại hoá không giống nhau, tỏng đó nguồn nhân lực phải đủ
về số lượng mạnh về chất lượng. Nói cách khác nguồn nhân lực phải trở thành động
lực phát triển.Nguồn nhân lực phát triển thì tất yếu công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải
tién hành để đáp ứng nhu cầu đó.
Theo các nhà kinh điều của chủ nghĩa Mác - Lênin, con người vừa là
điểm khởi đầu vừa là sự kết thúc, đồng thời lại vừa là trung tâm của sự biến đổi lịch
sử, nói cách khác con người là chủ thể chân chính của các quá trình xã hội. Trước đây
tỏng sách báo con người được xem xét trên phương diện "con người tập thể" "con
người giai cấp" con người xã hội.
Ở đây tính tích cực của con người với tư cách là chủ thể được tập trung chú ý
khai thác và bồi dưỡng chủ yếu ở những phẩm chất cần cù, trung thành, nhiệt tình,
quyết tâm với cách mạng. Một quan niệm và một cách làm như vậy đã góp phần quan
trọng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và khôi phục kinh tế sau chiến tranh. Tuy
những chủ thể cụ thể này là lợi ích tương ứng với chúng. Chỉ có quan niệm và cách
làm như vậy chúng ta mới biết tác động vào đâu và tác động như thế nào để nâng cao
tích cực của chủ thể hành động.
Nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến chủ thể tham gia vào quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tuy nhiên nó không phải là chủ thể biệt lập riêng rẽ, mà là
chủ thể được tổ chức thành lực lượng thống nhất về tư tưởng hành động. Nói cách
khác công nghiệp hoá, hiện đại hoá là tổng hợp những chủ thể với những phẩm chất
nhất định tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nhưng cần phải hiểu
rằng tổng hợp những chủ thể này không phải là tập hợp giản đơn số lượng người mà
nó là sức mạnh tổng hợp của chỉnh thể người trong hành động. Sức mạnh này bắt
nguồn trước hết là những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi chủ thể và nó được
nhân lên gấp đôi trong hoạt động thực tiễn. Động lực công nghiệp hoá, hiện đại hoá là
những gì thúc đẩy quá trình vận động và phát triển. Vì vậy khi nói "nguồn lực với tính
cách là động lực của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá" là chủ yếu nói đến
những phẩm chất tích cực của tổng hợp những chủ thể được bộc lộ trong quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và thúc đẩy quá trình này vận động phát triển và thể
hiện mặt tích cực, đồng thời hạn chế mặt tiêu cực tối đa của mình.
Mặt khác để xem xét vai trò nguồn lực của con người, cần đặt nó trong quan hệ
so sánh với các nguồn lực khác và ở mức độ chi phối của nó đến sự thành bại của công
cuộc đổi mới đất nước. Khi cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghiệp hiện đại
phát triển mạnh mẽ, lao động trí tuệ ngày càng gia tăng và trở thành xu thế phổ biến
của nhân loại. Khi công nghiệp hoá gắn liền với hiện đại hoá mà thực chất là hiện đại
hoá lực lượng sản xuất với cách tiếp cận như vậy vai trò quyết định nguồn lực của con
người được biểu hiện ở những điểm như sau:
Thứ nhất các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự
nó chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng chúng chỉ có tác dụng và có ý thức của con người.
Bởi lẽ con người là ngùn lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và ý chí biết lợi dụng, các
nguồn lực khác gắn kết chúng lại với nhau tạo thành sức mạnh tổng hợp cũng tác động
vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. các nguồn lực khác là những khách thể,
chịu sự cải tạo, khai thác của con người và nói đúng thì chúng đều phục vụ nhu cầu,
thức và hoạt động thực tiễn của con người.
Việc thực hiện và hoàn thành tốt công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá có ý
nghĩa đặc biệt to lớn và có tác dụng hoàn thiện nhiều mặt.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá làm thay đổi căn bản kỹ thuật, công nghệ, sản
xuất, tăng năng suất lao động công nghiệp hoá hiện đại hoá chính là thực hiện xã hội
hoá nhiều mặt, góp phần ổn định, ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của
mọi thành viên trong cộng đồng xã hội.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá phát triển mối quan hệ kinh tế giữa các ngành,
các vùng trong phạm vi mỗi nước và các nước với nhau, nâng cao trình độ quản lý
kinh tế của nhà nước nâng cao khả năng tích luỹ mở rộng sản xuất.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá không ngừng nâng cao vai trò của nhân tố con
người trong nền sản xuất và đặc biệt trong nền sản xuất lớn hiện đại, kỹ thuật cao. Chỉ
trên cơ sở thực hiện tốt công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới có khả năng thực hiện và
quan tâm đầy đủ đến sự phát triển tự do và toàn diện nhân tố con người.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố và tăng
cường tiềm lực quốc phòng khả năng đảm bảo an ninh và quốc phòng, các yếu tố vật
chất, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đó, công nghiệp hoá, hiện đại hoá có tác dụng trực tiếp
và chủ yếu trong việc tạo ra tiềm lực to lớn cho quốc phòng.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá còn tạo nhiều khả năng cho việc thực hiện tốt sự
phân công và hợp tác quốc tế về kinh tế, khoa học, công nghệ văn hoá xã hội v.v
b) Quan điểm về công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN gắn với phát
triển kinh tế tri thức, coi kinh tế tri thức là yếu quan trọng của nền kinh tế và CNH,
HĐH .
- Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa
dạng hoá quan hệ đối ngoại. Dựa vào nguồn lực trong nước là chính đi đôi với tranh
thủ tối đa nguồn lực bên ngoài Xây dựng nền kinh tế mở hội nhập với khu vực và thế
giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong
nước có khả năng sản xuất có hiệu quả.
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần
dịch vụ và ngành nghề phát triển chậm, chưa thúc đẩy mạnh mẽ chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và lao động ở nông thôn; nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch,
kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm, năng lực
đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân
nông thôn còn thấp. Tỷ lệ hộ nghèo cao. khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa nông
thôn và thành thị ngày càng có xu hướng tăng dần, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức
xúc.
Chính vì những yếu điểm đó, tại Hội nghị Trung ương 7, khoá X đã nêu lên
quan điểm cụ thể về vấn đề tam nông :
“ - Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan
trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an
ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường
sinh thái của đất nước.
- Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ,
gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong mối quan hệ mật thiết giữa
nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển,
xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát
triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp
là then chốt.
- Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần
của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng và sử dụng có hiệu
quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt
các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc tế cho phát triển lực lượng sản
xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư
của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến
cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân.
thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%.
- Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ
thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa 2 vụ, mở rộng
diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấp thoát nước chủ động cho diện tích
nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các
xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản; xây dựng cảng cá, khu neo đậu tàu
thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư, các cơ sở công
nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo cơ bản điều kiện học tập chữa bệnh, sinh hoạt
văn hoá, thể dục thể thao ở hầu hết các vùng nông thôn tiến gần tới mức các đô thị
trung bình.
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả,
bền vững công cuộc xoá đói, giảm nghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính
trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi
nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ thống đê sông, đê
biển và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, cụm dân
cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn mặn và chống nước biển dâng; tạo điều
kiện sống an toàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và các vùng
thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động triển khai một bước các biện pháp thích
ứng và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Ngăn chặn, xử lý tình trạng ô nhiễm môi
trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn.
Mục tiêu đến năm 2010
Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao
đời sống nhân dân trên cơ sở đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội nông thôn, nhất là ở các vùng còn nhiều khó khăn; tăng cường
nghiên cứu và chuyển giao khoa học - công nghệ tiên tiến, tạo bước đột phá trong đào
tạo nhân lực; tăng cường công tác xoá đói, giảm nghèo, đặc biệt ở các huyện còn trên
50% hộ nghèo, tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, giữ vững ổn định chính
trị - xã hội ở nông thôn. Triển khai một bước chương trình xây dựng nông thôn mới.
nghiệp, thực hiện phát triển nông nghiệp theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại
hóa với những nội dung và bước đi phù hợp, xây dựng cơ chế hiệu quả, lâu dài lấy
công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp, lấy thành thị lôi kéo nông thôn, nhất thể hóa phát
triển kinh tế, xã hội thành thị và nông thôn. Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng nông
thôn, kiện toàn hệ thống thị trường nông thôn và dịch vụ nông nghiệp. Đẩy mạnh phát
triển nông nghiệp, đặc biệt là tăng đầu tư cho nông nghiệp, làm cho sản phẩm lương
thực và nông sản chủ yếu giữ được tăng trưởng ổn định, thu nhập của nông dân được
nâng cao bền vững. Phát triển tổ chức hợp tác xã nông dân chuyên ngành, ủng hộ kinh
doanh ngành nghề hóa nông nghiệp và phát triển các doanh nghiệp đầu đàn. Đẩy mạnh
phát triển nông nghiệp theo quy mô lớn, theo hướng công nghiệp; khuyến khích, cải
tiến phương thức sản xuất hộ gia đình theo hướng chuyên canh, thâm canh nhằm tăng
giá trị sản xuất nông nghiệp thông qua việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật về
giống, thức ăn, phân bón, chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng,… Tăng cường phòng
chống thiên tai và khống chế dịch bệnh động vật, nâng cao mức độ an toàn chất lượng
sản phẩm nông sản, đảm bảo vệ sinh môi trường. Giải pháp thực hiện Quy hoạch việc
sử dụng đất đai: Khi công nghiệp phát triển và đô thị mở rộng thì diện tích đất nông
nghiệp bị thu hẹp dần vì vậy cần rà soát quy hoạch không gian và chi tiết việc sử dụng
đất đai. Để đảm bảo an ninh lương thực cần xác định bằng được không gian cơ bản
dành cho sản xuất nông nghiệp nhằm sử dụng đất nông nghiệp theo hướng lâu dài, an
toàn, bền vững và có hiệu quả cao. Mặc dù quy hoạch là quy hoạch động nhưng cần
xác định lộ trình và hướng chuyển đổi đất phù hợp. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa
học - công nghệ vào sản xuất và thúc đẩy hình thành các vùng chuyên canh tập trung
Thực hiện cơ chế liên kết “Nhà nước-nhà khoa học-nhà nông-nhà doanh nghiệp”,
trong đó, Nhà nước hỗ trợ các điều kiện để các nhà khoa học liên kết với nông dân,
triển khai đào tạo, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ cho nông dân sản xuất tạo vùng
nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. có cơ chế khuyến khích nông dân thực hiện cơ
giới hoá thích hợp trong khâu sản xuất nông nghiệp, đổi mới công nghệ và mở rộng
quy mô sản xuất tại các cơ sở tiểu thủ công nghiệp. Đẩy mạnh thông tin phổ biến kiến
thức khoa học-công nghệ cho nông dân. Thúc đẩy hình thành vùng chuyên canh tập
trung để tạo ra sản phẩm nông nghiệp mang tính hàng hoá, có khả năng cạnh tranh cao
các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định
trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước
cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không
có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có
khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc
hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng
nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực
nội sinh.
Vai trò của nguồn lực con người quan trọng như thế nào đã được chứng minh
trong lịch sử kinh tế của những nước tư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ, nhiều nhà
kinh doanh nước ngoài khi đến tham quan Nhật Bản thường chỉ chú ý đến kỹ thuật,
máy móc và coi đó là nguyên nhân tạo nên “kỳ tích Nhật Bản”. Nhưng họ đã nhầm,
chính người Nhật Bản cũng không quan niệm như vậy. Người Nhật cho rằng kỹ thuật
và công nghệ có vai trò rất to lớn nhưng không phải là yếu tố quyết định nhất. Yếu tố
quyết định nhất dẫn đến thành công của họ là con người. Cho nên họ đã tập trung cao
độ và có những chính sách độc đáo phát triển yếu tố con người.
Ngày nay đối với những nước lạc hậu đi sau, không thể phát triển nhanh chóng
nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ hiện đại của các
nước phát triển. Nhưng không phải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà
không cần tính đến yếu tố con người. Cần nhớ rằng, công nghệ tiên tiến của nước
ngoài khi được tiếp thu sẽ phát huy tác dụng tốt hay bị lãng phí, thậm chí bị phá hoại
là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu tố con người khi sử dụng chúng. Nhiều công ty chỉ chú
ý đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhưng vì không chú ý đến yếu tố con người nên đều
thất bại. Như mọi quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết
định. Bởi vì:
- Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý
- Thứ ba, trí tuệ con người có sức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được
vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của C.Mác đã và
đang trở thành hiện thực. Sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học - kỹ
thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển
vận động đến nền kinh tế của trí tuệ. Giờ đây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà
nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “bắt chước” hay “phỏng theo”
những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ
hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng
kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.
- Thứ tư, kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn của chính nước ta cho thấy
sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch
định đường lối, chính sách cũng như tổ chức thực hiện, nghĩa là phụ thuộc vào năng
lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Đối với những nền kinh tế nông
nghiệp chưa công nghiệp hoá thì mặt số lượng của nguồn nhân lực có tầm quan trọng
đặc biệt vì nó qui định quy mô của thị trường. Nhưng khi tiến hành công nghiệp hoá
thì mặt chất lượng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực lại quan trọng hơn. Cơ
cấu lao động cần cho quá trình công nghiệp hoá phải bao gồm: các chính khách, các
nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật và công
nghệ, các công nhân lành nghề không có các chính khách, các học giả tài ba thì khó
có thể có được những chiến lược, chính sách phát triển đúng đắn; không có các nhà
kinh doanh lỗi lạc thì cũng sẽ không có người sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn
vốn, nhân lực, công nghệ. Sự thiếu vắng hay kém cỏi của một trong các bộ phận cấu
thành nhân lực trên đây sẽ có hại cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con người là nguồn
lực có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước. Do vậy, muốn công nghiệp hoá, hiện đại hoá thành công thì phải đổi mới cơ
bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt Nam
nhằm phát triển nguồn lực con người cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đây là nhiệm
vụ lớn nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.
hội cao, đó là yếu tố không thể thiếu để tạo động lực phát triển đất nước.
Hai là, Đảng ta lựa chọn phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao, là khâu đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm
2020.
Mặc dù Đại hội X (2006) đã chỉ rõ để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức phải phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao, tức là chuyển hướng chiến lược phát triển nguồn nhân lực theo chiều rộng
sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng nhanh chất lượng của nguồn nhân lực. Song Đại
hội X cũng như các kỳ Đại hội trước chưa xác định đó là khâu đột phá.
Tại Đại hội XI, Đảng ta đã đề ra mục tiêu tổng quát: “đến năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân
chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên
rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của
Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát
triển cao hơn trong giai đoạn sau”
.
Để đạt được mục tiêu đó, phải xác định đúng những khâu đột phá - tức là những
khâu trọng yếu của sự phát triển, nhưng những khâu này hiện lại là những điểm nghẽn
đang cản trở, kìm hãm tốc độ và hiệu quả của phát triển, thậm chí, nếu không được
khai thông, giải toả nó sẽ triệt tiêu mọi động lực của phát triển. Do vậy, lựa chọn đúng
khâu đột phá sẽ tạo ra những tiền đề, những điều kiện và môi trường thuận lợi để giải
phóng mọi tiềm năng và khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Khi đã
xác định trúng những khâu đột phá, cần phải ưu tiên đầu tư thỏa đáng để tạo ra một sự
thay đổi mạnh mẽ, căn bản, tạo động lực to lớn và là cú hích quan trọng có ý nghĩa
quyết định trong việc thúc đẩy các lĩnh vực khác phát triển và tạo khả năng giành
thắng lợi cao. Một trong ba khâu đột phá chiến lược mà Đảng ta xác định thì “Phát
triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” được xem là khâu
đột phá thứ hai.
Vấn đề đặt ra là vì sao, phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực
hàng năm là 3% tức khoảng 1.24 triệu người và con số này ngày càng tăng lên và cần
tạo thêm chỗ làm việc mới cho số người lao động tăng lên.
Quy mô nguồn nhân lực qua đào tạo của VN và sử dụng nguồn nhân lực
này: VN tuy có nguồn lao động dồi dào nhưng lực lượng qua đào tạo lại thiếu, đó là
mâu thuẫn về quy mô của nguồn nhân lực nước ta, chúng ta vừa thừa vừa thiếu nguồn
nhân lực.
Hiện nay cán bộ công chức thuộc các bộ ngành ở các cơ quan trung ương có
129763 người, trong đó có 74% công chức có trình độ đại học trở lên
b) Chất lượng nguồn nhân lực VN:
Theo số liệu điều tra lao động việc làm từ 1996-1999 thì đối với 35,866-
37,784 triệu người lao động trong cả nước thì:
Năm Số người lao động chưa biết chữ (đv %)
1996 5.75%
1997 5.1%
1998 3.84%
1999 4.1%
Nhìn chung trình độ văn hóa của người lao động đã khá hơn sau 10 năm số
người biết chữ nâng lên 84% năm 1998 lên 96% năm 1999.
Qua điều tra cho thấy lực lượng lao động không có trình độ chuyên môn giảm
dần thể hiện qua bảng :
Năm Lực lượng lao động không có trình độ/tổng số lao động
(đv%)
1996 87.69%
1997 87.71%
1998 86.69%
1999 86.13%
2000 80-82%
Tuy nhiên ở một số vùng tỷ lệ lao động không có trình độ còn cao như vùng
tây bắc 92.36% vùng đồng bằng sông cửu long là 91.7%
Về trí lực và thể lực
e) Lợi thế và thách thức của nước ta
Lợi thế nguồn nhân lực nước ta
Dân số đông nguồn nhân lực dồi dào đặc biệt là nguồn lao động trẻ nhóm có
ưu thế về sức khỏe, năng động sáng tạo. Đường lối đổi mới của Đảng đã mở ra khả
năng phát triển đa phần, đa dạng hóa việc làm, thu hút được nhiều lao động sử dụng
tốt hơn nguồn năng lực nguồn nhân lực. Quản lí nguồn nhân lực càng ngày được quan
tâm hơn.
Những khó khăn và thách thức trong tương lai
Nền kinh tế thế giới đang chuyển dần sang nền kinh tế tri thức và nước ta
cũng phải có một số thay đổi để phù hợp. Nguồn nhân lực trong tương lai sẽ phải
được coi trọng về tư duy sáng tạo năng lực tự học hỏi và cần được đào tạo kĩ năng
thành thạo linh hoạt về công nghệ mới về quản lí mạng
Tốc độ tăng lao động còn ở mức cao nên cần giải quyết việc làm mới cho
những lao động tăng thêm.
Chính sách của nhà nước còn thiếu đồng bộ, nhất là chính sách thuế, đất đai
tín dụng…chưa khuyến khích và tạo ra động lực đẩy mạnh đầu tư trong nước để phát
triển sản xuất…
3.2 Yêu cầu công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn và
những vấn đề đặt ra phát triển nguồn nhân lực
* Thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Việt
Nam trong 15 năm qua.
Thực hiện đường lối đổi mới, CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn, hơn mười
năm qua nông nghiệp nông thôn nước ta đã có bước phát triển mới đạt được những
thành tựu to lớn:
Một là, nền nông nghiệp nước ta cơ bản đã chuyển sang sản xuất hàng hóa, phát
triển tương đối toàn diện, tăng trưởng khá:
- Nhìn tổng thể nông nghiệp nước ta không còn là nền nông nghiệp tự cung tự
cấp, thiếu lương thực triền miên, mà là nền nông nghiệp có tỷ suất hàng hóa ngày càng
cao (lúa gạo 56%, cà phê 98%, cao su 85%, chè 60% ); giá trị kim ngạch xuất khẩu
ngày càng lớn, nhiều mặt hàng xuất khẩu có thị phần trong khu vực và trên thế giới
được cải thiện một bước.
Những thành tựu trên mặt trận nông nghiệp nông thôn đã góp phần rất quan
trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, tạo tiền đề đẩy mạnh sự nghiệp
CNH - HĐH đất nước.
2.Tính tất yếu khách quan phải thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp nông
thôn
a. Vì sao phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn?
Xuất phát từ nền kinh tế nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp phổ biến sản
xuất nhỏ, lạc hậu và đang ở trình độ thấp, đó là cơ sở vật chất, kỹ thuật còn lạc hậu,
lao động xã hội đại bộ phận tập trung trong nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp còn
mang nặng tính tự cấp, tự túc và thu nhập của nông dân thấp, đời sống mọi mặt của họ
còn hết sức khó khăn. Trong khi đó đến nay nhiều nước trên thế giới đã có nền nông
nghiệp phát triển ở trình độ cao, mọi hoạt động sản xuất nông nghiệp đã được cơ giới
hoá, điện khí hoá, thuỷ lợi hoá, hoá học hoá. Nhờ đó năng suất ruộng đất, năng xuất
lao động của họ đạt rất cao, tạo sự phân công lao động sâu sắc trong nông nghiệp và
toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Mặt khác do yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nhu cầu về nâng
cao đời sống con người đó là xã hội càng phát triển, đời sống con người càng được
nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực và thực phẩm cũng ngày càng tăng
cả về số lượng, chất lượng và chủng loại. Như vậy chỉ có một nền nông nghiệp phát
triển ở trình độ cao mới hy vọng đáp ứng được nhu cầu tăng lên thường xuyên đó.
Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, trước hết là quá trình quốc tế hoá, khu vực hoá
các quan hệ kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất thương mại, trao đổi thông tin
khoa học kỹ thuật, chuyển giao công nghệ buộc chúng ta phải đẩy nhanh việc thực
hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn để chúng ta có thể tận dụng
vốn, khoa học, kỹ thuật kinh nghiệm quản lý nước ngoài vào trong hoàn cảnh thực tiễn
vận dụng vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta nhằm để tránh nguy cơ
tụt hậu về kinh tế, rơi vào tình trạng "bãi rác công nghiệp" của thế giới, dẫn đến cuộc
sống đói nghèo, lệ thuộc kinh tế nước ngoài v.v.
Như vậy đứng trước những yêu cầu đổi mới đang diễn ra trước mắt ta cần
mỗi ngành, mỗi đơn vị phải phù hợp với khả năng của ngành, đơn vị, phải phục vụ
những nhu cầu cụ thể của nông nghiệp và nông thôn, đồng thời cố gắng có những địa
chỉ áp dụng thu hưởng cụ thể. Chẳng hạn, các viện nghiên cứu, thiết kế và sản xuất
đưa ra các thiết bị phục vụ nông nghiệp (làm đất, chăm sóc hoa màu, thu hoạch, bảo
quản, chế biến nông sản). Các cơ quan nghiên cứu, chuyển giao công nghệ có thể
nghiên cứu, ứng dụng, giới thiệu, chuyển giao các công nghệ mới, kể cả công nghệ
sinh học, cây con, công nghệ chế biến, bảo quản nông sản và thực hiện các dịch vụ
kỹ thuật - công nghệ phục vụ nông thôn. Các cơ sở đào tạo các cấp cũng có thể tham
gia vào quá trình này vừa bằng cách đào tạo nguồn nhân lực thích hợp cho công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn vừa hoạt động như một cơ sở tư vấn,
phổ biến kiến thức về các lĩnh vực có liên quan tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá
thuộc chuyên ngành của mình
Nhà nước, với chức năng điều phối các hoạt động của toàn xã hội, cần tăng
cường hơn nữa các hoạt động riêng rẽ của các ngành, các địa phương, biến các chương
trình mục tiêu riêng rẽ thành chương trình mục tiêu liên ngành, đồng bộ, hướng tới
những kết quả thiết thực cuối cùng, có khả năng giải quyết vấn đề một cách bền vững,
tránh sự mất cân đối không cần thiết. Chẳng hạn trong thời gian qua, khi đưa máy móc
vào nông nghiệp, vấn đề tạo việc làm chưa được giải quyết tốt, dẫn đến khó khăn trong
việc duy trì các hoạt động đó. Hoặc khi đã tạm giải quyết được vấn đề việc làm, các
loại máy móc lại chưa được thiết kế một cách thích hợp; trong khi ruộng đất bị chia
ngày càng nhỏ, các loại máy nông nghiệp (làm đất, bơm nước) lại chưa đựơc thiết kế
thích hợp. Tương tự, khi vận động nông dân trồng các loại cây chuyên canh, công
nghiệp chế biến lại chưa được xây dựng kịp thời, dẫn đến sự thua thiệt hoặc kinh
doanh kém hiệu quả (ví dụ các vùng trồng dưa, vải, mận mà chúng ta đã thấy đề cập
nhiều trên báo). Ngược lại, có nơi chủ động xây dựng trước các cơ sở chế biến thì hoặc
nguyên liệu không đủ, hoặc nguyên liệu không đồng nhất, hoặc không đáp ứng nhu
cầu về chất lượng làm chúng không hoạt động được.
Nói tóm lại, công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ
to lớn, cấp bách lâu dài và gian khó. Việc thực hiện nó đòi hỏi những nỗ lực chung của
toàn xã hội. Sự nghiệp này đòi hỏi chúng ta phải có bước đi, biện pháp và chính sách
Ngày nay không thể quan niệm đơn thuần nguồn nhân lực là lực lượng lao động
với nghĩa đơn giản là những người làm công ăn lương, những người nông dân ít có
điều kiện học hành
Cuộc sống ngày nay đòi hỏi phải nhìn nhận nguồn nhân lực bao gồm tất cả mọi
người thuộc mọi tầng lớp xã hội và nghề nghiệp khác nhau, mọi địa vị xã hội từ thấp
nhất đến cao nhất - kể từ người làm nghề lao động đơn giản nhất, nông dân, công
nhân, người làm công việc chuyên môn, người làm khoa học, người làm nhiệm vụ
quản lý, nhà kinh doanh, người chủ doanh nghiệp, giới nghệ sỹ, người hoạch định
chính sách, quản lý đất nước Tất cả đều nằm trong tổng thể của cộng đồng xã hội,