HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM pot - Pdf 20

HOÀN THIỆN THỂ CHẾ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
PERFECTING THE STATUTE OF SOCIALIST-
ORIENTED
MARKET ECONOMY OF VIETNAM

LÊ THẾ GIỚI
Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa là một vấn đề phức tạp cả về lý thuyết lẫn thực
tiễn và chưa có tiền lệ trong lịch sử. Việc nhận thức về nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá
trình nghiên cứu lý luận và đúc kết từ thực tiễn. Bài viết
này thông qua việc phân tích một số hoạt động thực tiễn
trong quá trình vận hành nền kinh tế thị trường ở nước ta,
góp phần làm rõ một trong những vấn đề chủ yếu là hoàn
thiện thể chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
ABSTRACT
Perfecting the statute of the socialist market-oriented
economy of Vietnam is a complicated issue both
theoretically and practically, which is unprecedented in our
history. Understanding the socialist market-oriented
economy is a process of studying the theory and real-life
experience. Based on some practical activities in operating
the market economy in our country, this paper is aimed to
clarify one of the major issues, which is the perfection of
the socialist market-oriented economy.

vào các định chế toàn cầu và khu vực (WTO, BTA, AFTA,…) theo
nguyên tắc giữ vững lập trường tự chủ về kinh tế.
Thứ ba, làm rõ từ ba hình thức sở hữu cơ bản (toàn dân, tập thể và
tư nhân) hình thành nên các thành phần kinh tế đan xen hỗn hợp giữa
các hình hình thức sở hữu, đặc biệt phát triển phổ biến hình thức sở
hữu cổ phần. Từ đó khẳng định chủ trương nền kinh tế đa sở hữu, các
thành phần kinh tế tồn tại và phát triển lâu dài và đẩy mạnh quá trình
dân chủ hóa nền kinh tế, đảm bảo sự công bằng, không phân biệt đối
xử giữa các các thành phần kinh tế và tính chất sở hữu của doanh
nghiệp. Trong đó, kinh tế nhà nước (doanh nghiệp nhà nước, các
nguồn tài nguyên, ngân sách,…) phải giữ vai trò chủ đạo thể hiện ở qui
mô và hiệu quả hoạt động cao dựa trên nền tảng vật chất hiện đại, công
nghệ và quản lý tiên tiến. Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của kinh
tế nhà nước, các doanh nghiệp cần được sắp xếp, tái cấu trúc theo
hướng tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế
quốc dân, chủ yếu là các lĩnh vực kết cấu hạ tầng, một số lĩnh vực sản
xuất tư liệu sản xuất quan trọng và các dịch vụ công ích, còn lại cần
được cổ phần hóa với sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế;
tiến tới xóa bỏ độc quyền kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước;
có cơ chế giám sát và điều tiết đối với các doanh nghiệp có vị thế độc
quyền trong kinh doanh.
Phát triển mạnh kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa
dạng, phù hợp với ngành nghề, lĩnh vực và trình độ tập trung hóa,
chuyên môn hóa. Khuyến khích và định hướng phát triển mạnh kinh tế
tư nhân như một trong những lực lượng kinh tế chủ yếu trong nền kinh
tế thị trường; mở rộng quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi
công dân trong các lĩnh vực kinh doanh mà luật pháp không hạn chế.

2. Thể chế kinh tế thị trường
Thể chế bao gồm các luật lệ, qui tắc xã hội, từ cấp quốc gia, liên

giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; (2) Phát triển
lực lượng sản xuất; (3) Xây dựng quan hệ sản xuất có nhiều hình thức
sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò
chủ đạo; (4) Phân phối chủ yếu theo lao động, hiệu quả kinh tế và theo
mức đóng góp vốn và các nguồn lực đầu tư khác và thông qua phú lợi
xã hội; (5) Tăng trưởng kinh tế gắn với công bằng xã hội và bảo vệ
môi trường; (6) Tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa và
giáo dục; (7) Nhà nước phát huy quyền làm chủ của nhân dân dưới sự
lãnh đạo của Đảng, quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
Nền kinh tế theo chủ trương phát triển bền vững của Liên hiệp
quốc trong Bản Tuyên ngôn của Hội nghị thượng đỉnh Rio (1992) và
Chương trình hành động 21 được 192 quốc gia, trong đó có Việt Nam,
chấp thuận và thực hiện, về mục tiêu và các đặc trưng khá giống với 7
điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam, (chỗ khác cơ bản là vai trò của kinh tế nhà nước). Như vậy,
trong các nền kinh tế thị trường đương đại và nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có những điểm khá tương
đồng.[2]

3. Những hạn chế của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam
Thời gian qua, những hạn chế và bất cập của thể chế kinh tế thị
trường ở nước ta tập trung ở những điểm chính sau đây.
▪ Về hệ thống pháp luật:
- Tuy ngày càng được hoàn thiện nhưng hệ thống pháp luật vẫn
chưa theo kịp nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Sự bất cập này thể
hiện ở tính chưa đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước
bằng pháp luật; một số vấn đề chậm thể chế hóa, như quản lý nhà nước
đối với tài sản thuộc sở hữu nhà nước, đăng ký kinh doanh bất động

trung bình của thế giới và khu vực, tốc độ đổi mới công nghệ khoảng
10%/năm. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WMF) trong
báo cáo “Năng lực cạnh tranh toàn cầu” năm 2004, chỉ số về công
nghệ của Việt Nam rất thấp, xếp thứ 92/104 quốc gia (năm 2003 là
65).[3]
Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn yếu,
năm 2004, theo tiêu chí này các doanh nghiệp chỉ đứng thứ 73 theo
xếp hạng của WMF. Các doanh nghiệp nhà nước chưa thể hiện được
sự khác biệt về năng lực cạnh tranh so với các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác.
▪ Về cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường:
- Vận dụng chưa đồng bộ các công cụ quản lý và điều tiết thị
trường.
- Năng lực của bộ máy quản lý nhà nước chưa đáp ứng yêu cầu
quản lý hiệu quả nền kinh tế thị trường, thiếu tính chuyên nghiệp và sự
tận tâm phục vụ doanh nghiệp.
▪ Về hệ thống các thị trường:
- Các thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường bất động sản
hoạt động chưa hiệu quả, quản lý nhà nước (định hướng, tạo môi
trường kinh doanh, điều tiết hành vi của các chủ thể tham gia thị
trường, ) chưa linh hoạt, thiếu chủ động và mức độ kiểm soát thị
trường chưa cao.

4. Hoàn thiện thể chế nền kinh tế thị trường
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật - công cụ điều hành của nhà nước
pháp quyền
Có ba loại chủ thể chính cấu thành xã hội là Nhà nước, các doanh
nghiệp và các tổ chức của xã hội dân sự. Vấn đề cốt lõi của quản lý
nhà nước là việc xác định chức năng của Nhà nước và phân định ranh
giới giữa những chức năng Nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức

nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu và thành phần kinh tế; phù
hợp với thông lệ quốc tế. Thứ hai, việc ban hành và thực thi hai luật
trên đã xóa bỏ các quy định trước đây của các địa phương liên quan
đến đầu tư; thống nhất được các thủ tục về đầu tư theo hướng đơn
giản, rõ ràng và thống nhất giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước
ngoài. Đây là một bước tiến lớn có tính đột phá trong cải cách hành
chính về thủ tục đầu tư. Nhờ đó, các nhà đầu tư về cơ bản được quyền
đầu tư vào tất cả các lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Thứ ba, phân
cấp một cách toàn diện cho UBND cấp tỉnh trong việc trực tiếp quản
lý nhà nước về đầu tư đã thực sự tạo động lực khuyến khích và phát
huy tính năng động, sáng tạo của các địa phương trong việc giải quyết
các thủ tục hành chính về đầu tư cũng như xúc tiến đầu tư để phát triển
kinh tế địa phương; đồng thời tạo điều kiện để các bộ tập trung nhiều
hơn vào xây dựng và hoàn thiện chính sách, quy hoạch định hướng thu
hút đầu tư phát triển. Trong hơn một năm qua, số doanh nghiệp mới
đăng ký và số vốn đăng ký tăng mạnh. Năm 2006, đã có thêm hơn
46.000 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập với số vốn đăng ký
148.000 tỉ đồng; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 10,2 tỉ đô-
la Mỹ, tăng gần 4 tỉ đô-la so với kế hoạch dự kiến.
Tuy nhiên, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực thi luật pháp,
Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hướng dẫn thi hành luật và xóa
bỏ các qui định về giấy phép không còn phù hợp. Trong năm 2006, Tổ
công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư đã kiến nghị bãi
bỏ 42 giấy phép, nhưng vẫn còn 247 loại giấy phép con. Trong Luật
Doanh nghiệp và Luật Đầu tư cũng còn có một số quy định không
tương thích với các quy định trong một số luật khác như Luật Xây
dựng, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường đòi hỏi sớm có những
sửa đổi cho phù hợp.
- Đổi mới chức năng quản lý nhà nước đối với nền kinh tế
Sự tăng trưởng phụ thuộc nhiều vào năng lực điều hành nền kinh

đòi hỏi ở Chính phủ tính minh bạch, công khai và những quyết định
công bằng cho tất cả các thành phần kinh tế.
Trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa cần
tuân thủ các qui luật khách quan của thị trường (các qui luật giá trị, lưu
thông tiền tệ, qui luật cạnh tranh,…). Có các chính sách thúc đẩy phát
triển đồng bộ các yếu tố của thị trường (lao động, vốn, bất động sản,
khoa học và công nghệ,…).
- Nâng cao tính minh bạch của thể chế, tách biệt rõ ràng hoạt
động sản xuất kinh doanh và quản lý nhà nước. Ổn định các chính
sách tài chính, thuế, xuất nhập khẩu, hải quan; từng bước xây dựng
chính phủ điện tử, nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý kinh
doanh và hành chính công quyền trong các hoạt động thực thi luật
pháp, cấp phép đầu tư, quản lý đất đai, thuế, xuất nhập khẩu và hải
quan.
Thể chế hoá vai trò của chính quyền địa phương, tập trung vào
những yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả đầu tư và phát triển
kinh tế: tính năng động, tính thân thiện, tính minh bạch và sự cam kết
ủng hộ phát triển kinh doanh. Về thực chất, tính năng động của địa
phương chính là thái độ của chính quyền đối với việc phát triển của
các thành phần kinh tế, thể hiện qua hai khía cạnh: (1) sự phối hợp
giữa các cơ quan ở địa phương để tạo điều kiện cho hoạt động kinh
doanh; (2) hợp tác với doanh nghiệp tìm cách pháp giải quyết các
vướng mắc không rõ ràng về văn bản luật pháp, cho phép thực thi thí
điểm và nếu thành công sẽ được thể chế hóa bằng văn bản luật pháp.
- Thực hiện quyền tự do kinh doanh và xã hội hóa việc trợ giúp
phát triển kinh doanh thông qua việc tạo lập môi trường kinh doanh
thuận lợi. Hỗ trợ các chủ thể kinh tế là hết sức cần thiết, song mọi
chính sách ưu tiên, ưu đãi có tính hành chính đều làm suy yếu sức cạnh
tranh của nó. Vì vậy cần tìm ra cơ chế thích hợp để thúc đẩy các chủ
thể kinh tế nâng cao khả năng cạnh tranh. Một cách hỗ trợ thiết thực là

khoản nợ kéo dài, hơn 12.000 doanh nghiệp nhà nước đã được sắp xếp
và CPH, nay còn khoảng hơn 2.000 doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước
vẫn tiếp tục là cổ đông lớn trong các doanh nghiệp CPH. Cải cách
doanh nghiệp nhà nước đã góp phần củng cố khu vực tư nhân và làm
giảm nợ công. Theo Bộ Tài chính, có gần 20% vốn nhà nước đã được
CPH, trung bình trong các công ty đã CPH, nhà nước nắm giữ khoảng
46% cổ phần, người lao động nắm giữ gần 30% và số còn lại thuộc sở
hữu của các cổ đông khác. Nhà nước nắm giữ hơn 50% cổ phần trong
33% các công ty đã được CPH.
Để xóa bỏ cơ chế bộ chủ quản, cần đẩy mạnh cổ phần hóa (CPH)
các doanh nghiệp nhà nước. Đối với các công ty còn thuộc các cơ quan
chủ quản mà Nhà nước không cần giữ cổ phần chi phối, Nhà nước cần
chấp nhận CPH toàn bộ. Từ đó giải quyết căn bản các vấn đề liên quan
“chủ quản” mà việc bổ nhiệm nhân sự và can thiệp vào kinh doanh
không theo nguyên tắc thị trường. Ngoài ra, Nhà nước cần chủ động
giải quyết mối quan hệ về chủ sở hữu vốn và người quản lý (giám đốc
thuê) ở các doanh nghiệp thành viên mà Nhà nước (thông qua SCIC -
Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước) có cổ phần chi
phối, theo các nguyên tắc thị trường nhằm hạn chế đến mức thấp nhất
chi phí người đại diện. Cụ thể hóa trách nhiệm và đặc biệt là quyền lợi
của người đại diện vốn nhà nước (SCIC) tại công ty thành viên.
Trong nền kinh tế chuyển đổi, việc CPH các doanh nghiệp nhà
nước cần chú trọng: (1) Đảm bảo lợi ích của người lao động sau CPH
tìm được việc làm ổn định; (2) CPH cũng phải đi kèm với cải cách các
thị trường liên quan, cho phép người chủ sở hữu mới vận hành có lãi,
đồng thời, đảm bảo lợi ích công chúng được bảo vệ; (3) Tính minh
bạch, rõ ràng và dự đoán được rất quan trọng để thu hút những nhà đầu
tư nghiêm túc và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp; (4) Cơ quan Chính
phủ duy nhất với quyền hạn và quyền lực dẫn dắt chương trình để đem
lại tính nhất quán và hiệu quả trong quá trình thực thi chính sách; (5)

vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, cung cấp thông tin.
Một trong những chính sách lớn nhằm bảo vệ những doanh nghiệp
nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trước sự cạnh tranh gay gắt khi thực hiện
các cam kết WTO là chính sách bảo lãnh tín dụng cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách này cần được sửa đổi, bổ sung theo
hướng đa dạng hoá chủ sở hữu quỹ, cho phép các doanh nghiệp, hiệp
hội thành lập quỹ và kinh doanh theo cơ chế thị trường.
Nhà nước tiếp tục tăng và tập trung đầu tư cho xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế và xã hội, bảo đảm kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến
bộ và công bằng xã hội, thực hiện phát triển bền vững. Đẩy mạnh thu
hút đầu tư nước ngoài, sử dụng hiệu quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển
chính thức trong các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội,
đào tạo nguồn nhân lực, xoá đói giảm nghèo, tăng cường thể chế và
bảo vệ môi trường.
Mở rộng cho các tổ chức kinh tế đầu tư ra nước ngoài, tập trung
vào các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế nhằm bảo đảm an ninh năng
lượng quốc gia và cung cấp nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong
nước.

5. Kết luận
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
là một vấn đề phức tạp cả về lý luận lẫn thực tiễn và chưa có tiền lệ
trong lịch sử. Việc nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa là một quá trình nghiên cứu lý luận và được kiểm chứng
thông qua hệ tham chiếu của thực tiễn. Thể chế kinh tế thị trường, một
mặt được xây dựng dựa trên sự đòi hỏi khách quan của các qui luật thị
trường, mặt khác là sản phẩm của sự phát triển của tư duy quản lý
được tạo ra từ thực tiễn của cuộc sống, đáp ứng yêu cầu của sự phát
triển kinh tế trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, thực chất đó
là một quá trình liên tục khám phá, trải nghiệm và đúc kết thành lý


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status