Đề án môn học Kinh tế đầu tư: Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp - Pdf 20



Đề án môn học Kinh
tế đầu tư

Quỹ đầu tư trong doanh
nghiệp

Đề án môn học
Kinh tế đầu tư Đề tài: Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp
Giáo viên hướng dẫn:TS. Từ Quang Phương
Nhóm thực hiện: nhóm 14
Phạm Tuấn Hiển(C)
Nguyễn Thành Hiệp
Nghiêm Tuấn Hưng
Đỗ Tất Nguyên
Phan Trung Hòa
2. Doanh thu thuần trên vốn……………………………………………….14
3. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn…………………………………………… 15
4. Doanh thu thuần theo lao động…………………………………………15
III. Một số vấn đề đặt ra:……………………………………………………16
1. Đa phần thiếu vốn trầm trọng………………………………………… 16
2. Chỉ một số được ưu đãi về vốn…………………………………………16
3. Khả năng quản ly yếu kém…………………………………………… 16
CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ RA……………………………… 17
I. Giải pháp làm tăng khả năng huy động vốn………………………….17
1. Vai trò của Nhà nước:………………………………………………….17
1.1.Tạo cơ chế thông thoáng………………………………………………… 17
1.2.Bình ổn thị trường vốn…………………………………………………… 18
1.3.Điều chỉnh chính sách tín dụng………………………………………… 18
2.Vai trò của doanh nghiệp……………………………………………….18
II. Giải pháp làm tăng hiêu quả sử dụng vốn……………………………18
1. Giải pháp thuộc lĩnh vực quản ly Nhà nước……………………………19
1.1. Ban hành văn bản pháp luật…………………………………………… 19
1.2. Tạo môi trường đầu tư thuận lợi…………………………………………19
1.3. Hoạch định gắn với chiến lược phát triển…………………………… 19
2. Biện pháp liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp…………………20
2.1. Nâng cao năng lực quản ly…………………………………………… 20
2.2. Phát huy hiệu quả đầu tư các dự án…………………………………….21
Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp

Đề án Kinh tế đầu tư Page 2

Kết luận…………………………………………………………………… 22
Danh mục tài liệu tham khảo………………………………………………23

Lời mở đầu

1. Khái niệm:
Đầu tư, theo nghĩa rộng, nói chung là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến
hành các hoạt động nào đó để thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong
tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện
tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội các kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn
lực đã bỏ ra. Nếu xét trong phạm vi quốc gia thì chỉ có các hoạt động sử dụng các
nguồn lực ở hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất,, nguồn nhân lực và tài
sản trí tuệ, hoặc duy trì hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có thuộc
phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay đầu tư phát triển.
Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp

Đề án Kinh tế đầu tư Page 3

Chúng ta thường phân biệt đầu tư thành các loại sau đây:
1) Đầu tư tài chính: người có tiền bỏ ra mua hoặc cho vay các chứng chỉ có giá để
hưởng lãi suất. Đầu tư tài sản tài chính không tạo ra tài sản mớicho nền kinh tế mà
chỉ làm tăng giá trị tài sản tài chính cho người đầu tư.
2) Đầu tư thương mại: người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hóa và sau đó bán với
giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá. Loại đầu tư này cũng không tạo ra
tài sản mới cho nền kinh tế mà chỉ làm tăng tài sản chính cho người đầu tư.
3) Đầu tư tài sản vật chất và sức lao động : người có tiền bỏ tiền ra để tién hành
các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất
kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác. Loại này gọi chung là đầu tư phát triển.
Khái niệm đầu tư chúng ta sử dụng sau đây là đầu tư phát triển.

2. Vai trò của đầu tư phát triển:
Đầu tư phát triển được coi là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khóa
của sự tăng trưởng, thể hiện ở các mặt sau:
- Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước:

Đề án Kinh tế đầu tư Page 4

cơ hội tiến hành các hoạt động đầu tư quy mô lớn và dài hạn. Nguồn lợi thu được từ
các hoạt động này sẽ lại là cơ sở để doanh nghiệp tăng quy mô của quỹ cho các hoạt
động đầu tư tiếp theo.
2. Nguồn hình thành quỹ và các yếu tố ảnh hưởng:
Quỹ đầu tư là một phần của tổng nguồn vốn doanh nghiệp nên khi tìm hiêu về các
nguồn hình thành nên quỹ tức là ta nghiên cứu nguồn vốn và các phương thức huy
động vốn trong doanh nghiệp cùng các yếu tố có thể ảnh hưởng đến quyết định sử
dụng nguồn vốn cho hoạt động đầu tư.
2.1. Các nguồn và phương thức huy động vốn cho đầu tư mà doanh nghiệp có thể sử
dụng bao gồm:
a) Nguồn vốn chủ sở hữu:
- Vốn góp ban đầu.
- Lợi nhuận không chia.
- Tăng vốn bằng phát hành cổ phiếu mới.
Trong đó, phần lơi nhuận không chia- nguồn vốn nội bộ là một nguồn rất hấp dẫn
doanh nghiệp, vì doanh nghiệp giảm được chi phí, giảm được sự phụ thuộc vào bên
ngoài. Thực tế thì phần lớn lợi nhuận không chia được sử dụng để tái đầu tư, mở rộng
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tái đầu tư từ lợi nhuận chỉ có thể thực hiện
nếu doanh nghiệp đã và đang hoạt động có lợi nhuận, được phép tiếp tục đầu tư. Đối
với doanh nghiệp nhà nước thì còn phụ thuộc vào chính sách khuyến khích tái đầu tư
của nhà nước. Đối với các công ty cổ phần thì việc để lại lợi nhuận liên quan đến việc
chia lại cổ phần cho các cổ đông.
Phát hành cổ phiếu bổ sung cũng là một phương thức huy động vốn cho đầu tư.
Phần lớn cổ phiếu mới được phát hành sau khi thị giá cổ phiếu của doanh nghiệp trên
thị trường chứng khoán tăng lên, bởi vì điều này cho thấy dấu hiệu có nhiều cơ hội
đầu tư mở rộng vào những dự án có triển vọng. Phương thức này có thể gíup huy
động vốn nhanh chóng nhưng không được phép sử dụng thường xuyên. Ngoài ra việc
phát hành thêm cổ phiếu cũng có thể giúp doanh nghiệp tránh việc gia tăng tỉ lệ nợ,

- Lãi suất và sự kiểm soát của Ngân hàng có tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiến
hành hoạt động đầu tư hay không.
Nguồn vốn tín dụng thương mại cũng là một cơ sở để doanh nghiệp có thể tiếp
tục đầu tư, và thường chiếm một phần lớn trong tổng số nguồn vốn. Nguồn tài trợ này
chủ yếu do khả năng hợp tác, uy tín của doanh nghiệpvới các đối tác quyết định.
d) Tương tụ cổ phiếu, nguồn vốn huy động từ phát hành trái phiếu cũng chịu ảnh
hưởng bởi những biến động trên thị trường chứng khoán cũng như khả năng thu hút
đầu tư của trái phiếu công ty. Công ty cần xác định các loại trái phiếu sẽ phát hành
với lãi suất tương ứng để đảm bảo khả năng chi trả của mình.
e) Với doanh nghiệp mà khả năng huy động vốn đa dạng thì sẽ có quỹ đầu tư có quy
mô lớn. Ngoài ra chính sách đầu tư của doanh nghiệp cũng là 1 yếu tố quyết định quy
mô quỹ đầu tư mà doanh nghiệp sẽ tạo lập. Một doanh nghiệp thường xuyên có
những dự án quy mô lớn sẽ buộc phải lập quỹ có khả năng đáp ứng lớn hơn nhiều so
với doanh nghiệp chỉ chuyên đầu tư nhỏ lẻ và không thường xuyên.
Như vậy có cả yếu tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến quy mô của quỹ đầu
tư của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần nắm rõ những yếu tố này, xem xét chính sách
của doanh nghiệp mình để đưa ra phương thức huy động vốn thích hợp đồng thời tính
đến các ảnh hưởng từ tác động bên ngoài để huy động có hiệu quả.
3. Quản ly và sử dụng quỹ đầu tư:
3.1. Quản ly quỹ:
Do quỹ đầu tư cũng là một loại qũy trong doanh nghiệp nên sẽ quản ly theo các
phương pháp của hạch toán kế toán doanh nghiệp, theo các nguyên tắc về tài chính
của bản thân doanh nghiệp.Những quy định của Nhà nước về vấn đề này thường
xuyên có những thay đổi. Có thể tham khảo một số điểm như sau:
Nguyên tắc phân phối lợi nhuận của Công ty Nhà nước đã được quy định trong
luật DNNN năm 2003, quy chế tài chính chỉ cụ thể hoá các nguyên tắc đã quy định
trong Luật. Theo quy chế tài chính, lợi nhuân sau thuế của công ty Nhà nước trước
hết được dùng để bù đắp các khoản lỗ của các năm trước đã hết thời hạn chuyển lỗ
theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp. Quy định này nhằm bảo toàn vốn Nhà nước
hiện có tại doanh nghiệp, tương tự như cơ chế phân phối lợi nhuận hiện hành. Sau khi

có Hội đồng quản trị và mức 500 triệu (đối với Công ty Nhà nước có Hội đồng quản
trị). Sau khi trích quỹ khen thưởng cho người quản lý, điều hành doanh nghiệp, số lợi
nhuận còn lại được dùng để trích lập quỹ khen thưởng, phúc lợi cho người lao động
trong doanh nghiệp. Mức phân bổ cho mỗi quỹ do HĐQT hoặc Giám đốc công ty
không có HĐQT quyết định sau khi tham khảo ý kiến của công đoàn. Đại diện chủ sở
hữu quy định cụ thể tỷ lệ trích quỹ đầu tư phát triển, quỹ khen thưởng cho người quản
lý, điều hành doanh nghiệp.
Quy chế phân phối lợi nhuận này gắn lợi ích của người quản lý, điều hành doanh
nghiệp, người lao động trong doanh nghiệp với lợi nhuận của doanh nghiệp, khuyến
khích doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận để có mức trích quỹ khen thưởng phúc lợi
cao hơn quy chế mới không khống chế mức trích tối đa của quỹ khen thưởng và phúc
lợi cho người lao động trong doanh nghiệp nên có tác động động viên doanh nghiệp
nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao lợi nhuận của doanh nghiệp. Tuy nhiên, đối
với những doanh nghiệp có nguồn vốn tự huy động ít thì việc trích lập các quỹ đầu tư
phát triển, quỹ khen thưởng, phúc lợi sẽ bị ảnh hưởng.
Nhằm bảo đảm sự công bằng về quyền lợi của người lao động trong các doanh
nghiệp, quy chế tài chính có quy định việc trích lập các quỹ của một số loại hình
doanh nghiệp đặc thù gồm doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực độc quyền doanh nghiệp được thiết kế thường xuyên, ổn định chủ yếu
thực hiện các sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng hoặc giao kế hoạch.
Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp

Đề án Kinh tế đầu tư Page 7

Đối với doanh nghiệp mới thành lập, trong 2 năm liền kể từ khi có lãi nếu phân
phối lợi nhuận như trên mà mức trích 2 quỹ khen thưởng và phúc lợi không đủ 2
tháng lương thực tế thì được giảm phần trích quỹ đầu tư phát triển để bảo đảm cho 2
quỹ này bằng 2 tháng lương thực tế bình quân trong năm. Mức giảm tối đa là toàn
bộ số trích quỹ đầu tư phát triển.
Đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền, mức trích 2 quỹ khen

- Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực.
- Đầu tư cho nghiên cứu phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm.
- Đầu tư mua sắm hàng tồn trữ.
- Đầu tư cho marketing, thương hiệu và TSVH khác.
Đó là những hoạt động thường xuyên mang tính thiết yếu. Tuy nhiên phần quan
trọng nhất, chiếm tỉ trọng lớn nhất thường là dành cho các dự án. Trong nguồn quỹ
dành cho dự án cũng được chia thành các khoản mục như trên.
Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp

Đề án Kinh tế đầu tư Page 8

Khác với các quỹ khác, việc sử dụng quỹ đầu tư đi đôi với việc tái tạo lập quỹ nên
hiệu quả sử dụng được chú trọng hơn cả.

CHƯƠNG II: QUỸ ĐẦU TƯ TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

I. Đánh giá chung:
1.Đánh giá chung về doanh nghiệp Việt Nam :
Do nền kinh tế có những đặc thù : là nền kinh tế vừa thoát ra khỏi cở chế kế
hoạch hóa, đi lên kinh tế thi trường theo hướng XHCN với mục tiêu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, được xếp vào nhóm nước đang phát triển, nên doanh nghiệp Việt
Nam cũng có những nét đặc trưng sau:
- Doanh nghiệp Nhà nước luôn đóng vai trò chủ đạo.
- Doanh nghiệp nhìn chung quy mô chưa lớn, trình độ hiện đại hóa, khả năng
quản ly còn yếu.
- Hầu hết doanh nghiệp chỉ tập trung vào một số lĩnh vực phát huy được lợi thế về
lao động và tài nguyên.
- Nhìn chung năng lực cạnh tranh kém, ngay cả trên thị trường nội địa. Việc tiến
ra thị trường nước ngoài còn hạn chế.
2. Tình hình đầu tư trong những năm gần đây

Tổng số 100 100 100 100
DNNN 67.13 65.91 63.49 59.53
Trung ương 57.89 54.33 54.27 50.93
Địa phương 9.24 8.58 9.22 8.6
DNNQD 9.86 11.99 14.97 18.47
Tập thể 0.79 0.69 0.7 0.69
Tư nhân 1.59 1.81 2.01 2.19
Công ty hợp danh - - 0.01 0.09
Cty TNHH 4.46 5.51 7.38 8.9
Cty CP vốn nước ngoài 1.04 2.29 2.89 3.58
Cty CP không có vốn nước
ngoài
1.98 1.69 1.98 3.02
(Nguồn: kết quả điều tra doanh nghiệp các năm 200-2003 của Tổng cục thống kê)
2. Doanh thu thuần trên vốn:
Doanh thu thuần trên vốn hang năm ở 2 loại hình của khu vực DNNN có xu
hướng thấp hơn so với các loại hình DN của khu vực ngoài quốc doanh. Điều này
phản ảnh khả năng sử dụng vốn tạo ra doanh thu của DNNN là kém hơn so với
DNNQD
Bảng doanh thu thuần trên vốn
2000 2001 2002 2003
Tổng số 81.1 75.4 88.4 91.6
DNNN 66.3 58.8 71.2 71.4
Trung ương 54.8 49.2 63.6 63.2
Địa phương 138.5 123.2 115.9 119.8
DNNQD 206.6 183.3 179.2 166.5
Tập thể 123.4 123.3 118 115.8
Tư nhân 449 360.6 337.4 301.6
Công ty hợp danh - - 325.95


0.748 1.213 1.845 1.79
(Nguồn: kết quả điều tra doanh nghiệp các năm 2000-2003 của Tổng cục thống kê)
4.Ngoài ra người ta cũng so sánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư trên cơ số sánh mức
trang bị vốn theo lao động và doanh thu thuần theo lao động.

Vốn đầu tư cho mỗi lao động ở DNNN gấp 3,1 lần so với khu vực DNNQD
nhưng doanh thu chỉ gấp 1,2 lần.
III. Một số vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp trong việc huy động nguồn quỹ
và sử dụng quỹ:
1. Đa phần doanh nghiệp Việt Nam thiếu vốn đầu tư trầm trọng:
Tính đến nay cả nước có trên 72.000 doanh nghiệp đang hoạt động với tổng số
vốn gần 2 triệu tỷ đồng (tương đương 125 tỷ USD), tức là chỉ ngang một tập đoàn đa
quốc gia cỡ trung bình trên thế giới. Nếu tính bình quân thì mỗi DN chỉ có lượng vốn
23,95 tỷ đồng. Trong số 72000 DN:
- DN có lượng vốn <= 50tỷ đồng chiếm 90,25%.
- DN có lượng vốn từ 50-500 tỷ đồng chiếm 9,27%.
- DN có lượng vốn > 50tỷ đồng chiếm 0,48%.
Chính vì vậy đa số DN Việt Nam có quy mô nhỏ bé và ít có cơ hội những dự án
đầu tư lớn để mở rộng quy mô, hiện đại hóa sản xuất, do đó trở nên không hấp dẫn
các nhà đầu tư.
2. Chỉ một số nhỏ DN thuộc khu vực quốc doanh được ưu đãi về vốn và chính
sách tín dụng:
Số còn lại dựa nhiều vào vốn tự có của các cá nhân. Thị trường vốn chưa thực sự
phát triển nên khả năng tiếp cận nguồn vốn đầu tư của DN bị hạn chế, các DN nhỏ rơi
vào tình trạng chiếm dụng vốn lẫn nhau.
3. Khả năng quản l y nguồn quỹ yếu kém:
0
200
400
600CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ RA

I. Giải pháp làm tăng khả năng huy động vốn đầu tư:
1. Vai trò của Nhà nước:
1.1. Cần có cơ chế thông thoáng, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài nhằm
tận dụng tối đa nguồn vốn FPI:
- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp l y và khuôn khổ quản ly thị trường: Một loạt
các văn bản pháp luật, quy chế, quy định liên quan đến việc tạo hành lang pháp ly
cho các hoạt động đầu tư nước ngoài đã ra đời như Luật Chứng khoán, Luật Đầu tư
tuy nhiên vần còn sự thiếu đồng bộ hoặc chậm triển khai. Ngoài ra còn cần sớm thể
chế hóa một số quan hệ kinh tế sẽ phát sinh trong thời gian tới.
- Đẩy mạnh cải cách kinh tế trong nước, tăng khả năng hấp thụ vốn FPI một cách
hiệu quả: Hiện nay điều kiện của Việt Nam đã khác xáo với bối cảnh diễn ra làn song
đầu tư thứ nhất. Chíng ta đã có kênh dẫn vốn là thị trường chứng khoán, đã có nơi
dung nạp vốn vững chắc là các doanh nghiệp Nhà nước đang được cổ phần hóa ngày
càng nhiều, hệ thống các doanh nghiệp thuộc sở hữu ngoài quốc doanh phát triển với
quy mô và tốc độ cao, tuy nhiên sức hấp thụ FPI vẫn ở mức thấp.
- Cần thiết lập cơ chế giám sát, điều tiết một cách linh hoạt các dòng vốn nhằm
giảm thiểu rủi ro khủng hoảng tài chính toàn diện. Đặc trưng cơ bản của dòng vốn
FPI là tính thanh khoản cao, ngắn hạn và bất ổn định. Nếu dòng vốn này tăng qua khả
năng hấp thụ hiệu quả của nền kinh tế sẽ dẫn đén tình trạng kinh tế bong bóng, hệ
thống tài chính dễ bị tổn thương do đó việc giám sát, điều tiết là rất cần thiết. Một số
biện pháp cụ thể đã được áp dụng thành công là: kiểm soát các dòng vốn vào bằng
các biện pháp mang tính thị trường hoặc mang tính hành chính, kiểm soát các dòng
vốn ra bằng các biện pháp điều tiết tự động, can thiệp vô hiệu và thực hiện chính sách
tài chính thắt chặt.

(bình quân 46,5%) và khoảng 38% doanh nghiệp không bán cổ phần ra bên ngoài. Rõ
rng khả năng thẩm thấu vốn của các doanh nghiệp này còn rất hạn chế.
- Hiện nay khoảng 97-98% trong tổng số doanh nghiệp đăng k y hoạt động là các
doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trình độ quản l y của các doanh nghiệp này còn thấp cũng
như mối quan hệ quốc tế còn hạn hẹp nên khả năng huy động từ 2 kênh quan trọng là
cổ phiếu và trái phiếu là hết sức hạn chế. Trong những trường hợp này thì đi thuê tài
chính hoặc đi vay có thể là một giải pháp tốt
II. Giải pháp làm tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư:
Hoạt động đầu tư mang tính chất quay vòng . Nếu dự án trước hoạt động hiệu quả
sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tích lũy nguồn vốn vào quỹ cho những hoạt động
khác. Ngược lại, nếu doanh nghiệp thua lỗ thì quỹ đầu tư là một trong những nguồn
được trích ra để bù những khoản thiết yếu khác. Do đó, huy động vốn phải đi liền với
hiệu quả sử dụng vốn mới đem lại hiệu quả cao nhất.
1. Những giải pháp thuộc lĩnh vực quản ly Nhà nước:
1.1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật:
Hiện nay thủ tục hành chính rối ren là một trong những rào cản lớn nhất khiến
cho việc triển khai các dự án đầu tư bị chậm lại. Dù Nhà nước cũng như chính quyền
các địa phương đã có nhiều nỗ lực tuy nhiên nguyên nhân sâu xa là từ hệ thống quy
định còn khá nhiều chồng chéo và mâu thuẫn, với năng lực yếu kém của bộ phận
kiểm định dự án khiến hiệu quả đem lại không được như mong muốn.
Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp

Đề án Kinh tế đầu tư Page 13

Trong vài năm gần đây đã nổi lên một vài địa phương với khả năng thu hút đầu tư
tăng nhanh như Đồng Nai,Hưng Yên, Nghệ An…nhờ sự linh hoạt của chính quyền
địa phương. Trong một số trường hợp, việc trao nhiều quyền tự quyết cho cấp dưới
có thể đem lại hiệu quả cao hơn. Ngoài ra việc phân cấp các dự án thiếu hợp ly cũng
gây ra nhiều bất cập, cần chỉnh sửa lại.
1.2. Tạo môi trường đầu tư thuận lợi:

nhất là thuận tiện cho các hoạt động hợp tác quốc tế.
Một biện pháp mà doanh nghiệp có thể tham khảo là thuê các chuyên gia của các
công ty chuyên về quản ly quỹ (thường là của nước ngoài). Ngoài việc kiểm soát các
khoản thì họ có thể tư vấn về vấn đề đa dạng hóa đầu tư. Nếu điều này phù hợp với
khả năng cũng như truyền thống của doanh nghiệp sẽ giúp phát huy được kinh
nghiệm đầu tư của nước ngoài cho thực tế của doanh nghiệp Việt Nam.
2.2. Phát huy hiệu quả của các dự án đầu tư:
Quỹ đầu tư trong doanh nghiệp

Đề án Kinh tế đầu tư Page 14

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết quả đầu tư trong suốt quá trình tiến hành dự án.
Bước đầu tiên đòi hỏi đối với một dự án đầu tư có hiệu quả là xác định đúng mục
đích đầu tư, bao gồm lĩnh vực sẽ đầu tư và quy mô dự án. Việc phân tích các chỉ tiêu
của dự án, lập kế hoạch, đặc biệt là báo cáo nghiên cứu khả thi sẽ giúp doanh nghiệp
tránh được rủi ro tối đa. Báo cao gồm những nội dung chính sau:
- Căn cứ chủ yếu hình thành dự án: bao gồm bước nghiên cứu những điều kiện
kinh tế vĩ mô và nghiên cứu thi trường.
- Phân tích kĩ thuật dự án: nội dung quan trọng là tiến độ thực hiên cần phải chính
xác.
- Phân tích Tổ chức quản ly và nhân sự.
- Phân tích tài chính.
-Phân tích hiệu quả kinh tế xã hội dự án mang lại.
Ttrong quá trình phân tích cần tính đến tất cả các yếu tố có thể tác động lên mỗi
khâu của dự án.

Kết luận
Chúng ta đã phân tích những vấn đề cơ bản về quỹ đầu tư trong doanh nghiệp và
cả thực trạng doanh nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực đầu tư liên quan đến nguồn quỹ.
Có thể thấy một số vấn đề cấp bách đặt ra cho cả doanh nghiệp lẫn nhà cầm quyền,


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status